THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 16: Thư Phòng Trước Giờ Tuất

Mười tám giờ ngày hai mươi bảy tháng tám, tiệc sinh nhật ở nhà sau đã tan hẳn. Con cháu đã về phòng nghỉ, hương thân đã ra về từ chiều, sân phủ trở lại…

Nội dung chương

Mười tám giờ ngày hai mươi bảy tháng tám, tiệc sinh nhật ở nhà sau đã tan hẳn. Con cháu đã về phòng nghỉ, hương thân đã ra về từ chiều, sân phủ trở lại vẻ yên tĩnh của một cơ quan vào buổi tối. Cố Minh Đức thay quan phục thường ngày, một mình đi vào thư phòng cùng Trần Văn Khải. Cánh cửa thư phòng khép lại sau lưng hai thầy trò, và cùng với tiếng cửa ấy, ngày sinh nhật sáu mươi của ông cũng khép lại. Phần còn lại của đêm nay không thuộc về một ông quan nhận lời chúc thọ nữa. Nó thuộc về một người đọc hồ sơ.

Trên án thư phòng, bộ hồ sơ gốc vụ án Trần Đại Trụ đã được mang từ phòng hồ sơ lên từ trước, nằm nguyên trong lớp niêm phong. Dây niêm còn nguyên, triện đóng trên mép giấy còn nguyên, chữ ký của người niêm phong là chữ của sư gia, nét bút quen thuộc tới mức ông đọc ra được cả tính nết cẩn thận bề ngoài của người ký.

Ông không mở ngay. Theo đúng lệ, ông bảo Khải đọc lại sổ giao hồ sơ, đối chiếu số trang ghi trong biên bản niêm phong với số bọc trước mặt, rồi mới tự tay cắt dây niêm. Mỗi tờ giấy được lấy ra, ông đều xem mép giấy, xem số thứ tự, và bảo Khải ghi vào sổ mở hồ sơ: giờ mở, người mở, tình trạng niêm phong. Tay ông làm những việc ấy chậm rãi và chắc chắn như đã làm suốt ba mươi mấy năm, dù ông biết rõ hơn ai hết, đêm nay thời gian không đứng về phía sự chậm rãi.

- Đại nhân, ta có cần đọc hết không, hay chỉ đọc những chỗ chiều nay đã đối chiếu? - Khải hỏi.

- Đọc hết. - Ông nói. - Một bộ hồ sơ cũng như một con đê. Chỗ vỡ thường không nằm ở nơi người ta chỉ cho ta xem. Nó nằm ở đoạn không ai buồn đi qua.

Hồ sơ mở ra theo thứ tự của nó. Tờ đầu là lệnh bắt giữ. Tờ sau là biên bản hiện trường. Rồi biên bản khám nghiệm. Rồi lời khai của Trần Đại Trụ. Rồi lời khai của bà Tôn, hai bản. Rồi biên bản tịch thu. Rồi biên bản kiểm kê tang vật. Rồi tờ trình của phó tri phủ xin xử sớm. Rồi phê chuẩn của tỉnh. Tờ nào cũng có triện, tờ nào cũng có chữ ký, tờ nào cũng đúng ô đúng cột. Đặt cạnh nhau, chúng làm thành một con đường phẳng lì dẫn thẳng từ đêm mười hai tháng tám tới pháp trường trưa ngày hai mươi tám, không một ổ gà, không một khúc quanh.

Chính sự phẳng lì ấy làm ông lạnh người.

Việc đời, nhất là việc án mạng, không bao giờ phẳng như thế. Người chết thì hoảng, người sống thì nhớ sai, người ghi chép thì sót, người làm chứng thì mỗi người đứng một góc sân mà kể. Một bộ hồ sơ thật phải có chỗ gồ ghề của nó: lời khai trước sau hơi lệch, chi tiết thừa, điều chưa rõ ghi rõ là chưa rõ. Bộ hồ sơ này không có lấy một điều chưa rõ. Nó hoàn hảo như một bài văn được viết sẵn rồi mới chia ra cho từng người ký vào.

Ông đọc biên bản khám nghiệm lần thứ hai trong ngày, lần này đọc bằng mắt mình trên bản gốc, không phải qua bản sao. Đoạn mô tả vết thương và đoạn kết luận hướng đâm chống nhau y như Khải đã chỉ. Ông lấy bút, khoanh nhẹ vào mép giấy chỗ hai đoạn ấy, không sửa một chữ. Sửa chữ trong hồ sơ gốc là tội. Việc của ông đêm nay là đọc và nhớ, để ngày mai, nếu còn ngày mai, ông biết phải hỏi ai, hỏi câu gì.

Lời khai của bà Tôn ở bản gốc còn tệ hơn bản sao. Bản lấy cung lần đầu, chữ của một thư lại khác chép, bà Tôn nói đóng quán sớm vì mưa, không thấy gì lạ ngoài tiếng chó sủa. Bản thứ hai, chép sau đó hai ngày, bà Tôn bỗng nhớ ra mình bán tới nửa đêm và thấy Trần Đại Trụ lảng vảng gần tiệm. Giữa hai bản không có một dòng nào giải thích vì sao trí nhớ của nhân chứng lại tốt lên theo thời gian, tốt đúng theo hướng bản án cần.

- Người ta càng già, trí nhớ càng kém đi. - Ông nói. - Chỉ có lời khai gian là càng về sau càng nhớ rõ.

Lời khai của Trần Đại Trụ trong hồ sơ gốc đọc lên nghe khô khốc và rời rạc: gánh hàng, lỡ đò, ngủ hiên bến, nghe chó sủa, tỉnh dậy bị trói. Không có lấy một câu nào về chiếc nhẫn, về két tiền mở bằng cách nào, về số tiền một nghìn hai trăm sáu mươi đồng mà hung thủ bị kết tội đã cướp thì đem đi đâu, giấu ở đâu, tiêu vào việc gì. Một nghìn hai trăm sáu mươi đồng đại dương là một gia tài. Người cướp được nó phải có chỗ cất, có đường tiêu, có dấu vết để lại trong đời sống của một người gánh thuê nghèo tới mức phải ngủ nhờ hiên bến. Hồ sơ không hỏi. Không ai trong nửa tháng qua buồn hỏi xem gia tài ấy đang ở đâu.

Và chiếc nhẫn. Ông lật hết hồ sơ một lượt nữa, chậm hơn, tìm một chữ nhẫn. Không có. Biên bản hiện trường không nhắc ngón tay trống của tử thi. Biên bản khám nghiệm không nhắc. Lời khai của vợ nạn nhân, bà Lâm Ngọc Phân, được chép vỏn vẹn nửa trang. Trong đó bà khai chồng mình tính toán chi li, hay cãi nhau chuyện nợ nần với người vay. Nhưng đoạn bà nhắc tới thói quen của chồng thì bị chép cụt tới mức vô nghĩa. Cả bến Vãn Độ đều biết Ngô Đức Tài không bao giờ tháo chiếc nhẫn ngọc bích ở ngón cái tay trái, đến chết vẫn đeo. Vậy mà trong bộ hồ sơ về cái chết của ông ta, chiếc nhẫn không tồn tại. Nó không mất. Nó chưa từng được ghi là có.

Ông đặt tờ cuối cùng xuống. Căn phòng im lặng tới mức nghe rõ tiếng bấc đèn cháy.

- Khải. - Ông nói.

- Bẩm đại nhân.

- Con làm thư lại mấy năm rồi?

- Bẩm, bốn năm.

- Bốn năm, con đã đọc bao nhiêu bộ hồ sơ án?

- Bẩm, nhiều không đếm hết.

- Có bộ nào sạch sẽ như bộ này không?

Khải nghĩ một lúc.

- Bẩm, hồ sơ kiện nợ thì có. Hồ sơ án mạng thì đây là bộ đầu tiên con thấy không có một chỗ nào ghi là chưa rõ.

Ông gật đầu, như câu trả lời ấy khớp với điều trong lòng ông đã kết luận từ lúc đọc tới tờ thứ ba.

- Hồ sơ này không phải để tìm ra người giết ông Ngô. - Ông nói, từng chữ một. - Hồ sơ này được làm ra để cho một người khác được chết thay cho yên chuyện.

Câu nói rơi xuống án, giữa chồng giấy có triện đỏ. Khải ngồi đối diện, mặt tái đi dưới ánh đèn. Chàng là người chép một phần những tờ giấy này. Chàng biết câu nói ấy không nhằm vào mình, mà nhằm vào cả một bộ máy đã vận hành trơn tru trong nửa tháng quan vắng nhà, nhằm vào những người đã quen coi mạng người là một mục trong danh mục việc tồn đọng. Nhưng chàng vẫn thấy sống lưng lạnh, vì từ đêm nay, chàng không còn là người đứng ngoài bộ máy ấy chép chữ nữa. Chàng đã đặt cuốn sổ tay lên án. Chàng đã bước sang phía bên kia của chồng hồ sơ.

Đồng hồ ngoài phố gõ nhịp báo giờ Tuất đang tới gần. Theo lệ cũ của trấn, giờ Tuất bắt đầu khi trời tối hẳn và các nhà lên đèn bữa tối. Trong thư phòng, bữa tối của hai thầy trò chỉ là ấm trà đã nguội và mấy chiếc bánh sinh nhật người nhà mang vào từ chiều mà không ai động tới.

Cố Minh Đức đứng dậy, đi tới cửa sổ nhìn ra sân phủ. Đêm hai mươi bảy tháng tám không trăng, mây thấp, gió sông mang hơi nước mát vào qua khe cửa. Ở phía dãy lao, một đốm đèn dầu le lói của người gác. Ông nhìn đốm đèn ấy và nghĩ về thời gian: người tử tù còn chưa đầy một ngày. Bộ hồ sơ này, ông còn chưa đọc tới phần phụ lục ở cuối bó, nơi kẹp mấy tờ giấy rời không đánh số trang.

- Còn phần cuối chưa đọc. - Ông quay lại án. - Đọc nốt đi, rồi ta bàn việc đêm nay.

Trong tập giấy rời ấy có tờ trình cuối cùng của ngỗ tác xin khép việc khám nghiệm vì tử thi đã an táng. Có danh sách người nhà nạn nhân đã nhận lại tài sản không liên quan tới vụ án. Và có một tờ giấy trắng chen ở giữa không ai giải thích được vì sao nó nằm đó. Ông xem tờ giấy trắng ấy lâu hơn cả mấy tờ có chữ, vì trong nghề của ông, một tờ giấy trắng chen trong hồ sơ án tử đôi khi là dấu vết của một tờ giấy khác đã bị rút đi mà người rút quên lấp đúng số trang.

Ông vừa ngồi xuống, tay vừa chạm vào tập giấy rời cuối cùng, thì ngọn nến trên án bỗng rung lên một nhịp. Không phải rung vì gió lùa: cửa thư phòng đóng kín, cửa sổ chỉ hé một khe, và ngọn đèn dầu bên cạnh vẫn cháy thẳng. Chỉ có cây nến ấy, cây nến cắm trong chân đế đồng ở góc án, là nghiêng lửa về một phía như bị hơi thở của ai đó vô hình phả vào, rồi chao đảo.

Và sắc lửa của nó bắt đầu đổi. Từ vàng ấm, nó ngả dần sang một màu lạ: xanh lục nhợt nhạt, thứ màu của đom đóm trên mặt nước đêm, của lửa ma trơi trong bãi tha ma mà dân bến vẫn kể cho nhau nghe. Màu xanh lan từ tim nến xuống, lạnh lẽo và yên tĩnh, không khói, không tiếng.

Cố Minh Đức không động đậy. Ông nhìn ngọn nến xanh, tay vẫn đặt trên tập giấy rời chưa đọc, trong lòng bỗng hiện lại lời của Lương Thanh Hư chiều qua trong quán Bạch Vân: ngọn đèn đã gạt bấc mà dầu thì sắp cạn. Và một câu khác, cũ hơn, của chính ông hỏi bạn mình: xin cho người dưng thì sao.

Khải đứng bật dậy khỏi ghế, mặt cắt không còn giọt máu, mắt dán vào cây nến đang cháy xanh giữa thư phòng đóng kín. Giọng chàng thoát ra khẽ tới mức gần như tiếng thở:

- Đại nhân, cây nến... nó xanh.

Chương khác

Xem thêm