THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 14: Hoa Giáp
Sáng hai mươi bảy tháng tám, phủ nha Chu Gia Giác thức dậy sớm hơn lệ thường. Không phải vì việc quan. Hôm nay là sinh nhật sáu mươi của tri phủ Cố Minh…
Nội dung chương
Sáng hai mươi bảy tháng tám, phủ nha Chu Gia Giác thức dậy sớm hơn lệ thường. Không phải vì việc quan. Hôm nay là sinh nhật sáu mươi của tri phủ Cố Minh Đức, và điều làm cả trấn bàn tán từ mấy hôm trước không nằm ở con số sáu mươi, mà nằm ở chỗ năm sinh của ông cũng là một năm Bính Thìn. Sáu mươi năm trước, năm Bính Thìn. Sáu mươi năm sau, lại năm Bính Thìn. Một vòng hoa giáp trọn vẹn quay về đúng điểm của nó, như con thuyền đi hết một khúc sông lớn rồi trở lại bến cũ.
Dân trấn coi đó là điềm lớn. Người già trong trấn nói, người sống trọn một hoa giáp mà vẫn còn tại chức, còn minh mẫn, còn được tiếng thanh liêm, là người có phúc phần dày. Hương thân mấy làng quanh bến đã hẹn nhau tới chúc thọ từ sớm. Trong phủ, người hầu quét sân hai lần, nhà sau treo lại đôi câu đối cũ, và phu nhân Trình Tố Văn đích thân xuống bếp xem mâm cỗ.
Cố Hoài An, con trai của ông, về tới phủ từ lúc trời chưa sáng hẳn. Hoài An năm nay ba mươi tư, làm thư lại ở phủ lân cận, người gầy và nghiêm như cha hồi trẻ. Đi cùng có vợ và đứa con trai nhỏ Cố Tiểu Bảo mới lên năm, lần đầu được về trấn dự sinh nhật ông nội. Thằng bé ôm một hộp bánh do mẹ nó tự làm, đứng nép sau chân cha nhìn quanh sân phủ rộng mà không dám chạy.
- Cha. - Hoài An cúi chào ở hiên nhà sau. - Con về chúc thọ cha. Chúc cha phúc thọ song toàn.
Cố Minh Đức đỡ con trai dậy, nhìn cháu nội.
- Tiểu Bảo lớn nhanh quá. - Ông nói, rồi xoa đầu thằng bé. - Vào nhà đi. Đường sông sớm, chắc hai vợ chồng chưa ăn gì.
Bữa tiệc sinh nhật của tri phủ Chu Gia Giác, người ngoài nghe tên tưởng phải linh đình, kỳ thực chỉ là một bữa cơm nhà sau gồm người nhà và vài hương thân thân cận nhất. Đây là lệ của ông bao năm: sinh nhật không nhận quà quý, không mở tiệc lớn, không cho các nhà buôn trong trấn tới dâng lễ. Ai mang quà đắt tiền tới cổng đều bị người hầu lễ phép từ chối ngay từ cổng, mang về nguyên vẹn. Hương thân có người mang đôi gà, người mang cân trà quê, ông đều nhận, cảm ơn, rồi bảo nhà bếp làm cỗ và chia lại cho người nghèo ở cổng sau.
Trước bữa tiệc, cổng phủ đã đông người từ sớm. Dân bến, dân thôn ngoài và mấy làng dọc sông lần lượt tới, người mang nải chuối vườn, người mang bó hoa sen cuối mùa gói trong lá, đứng ngoài cổng chắp tay chúc vọng vào chứ không dám vào sân. Cố Minh Đức nghe tin, tự ra cổng một lúc. Ông nhận bó hoa sen của một bà lão ở bến Vãn Độ, người mà ông không nhớ tên nhưng bà thì nhớ ông từ ngày ông xử vụ tranh bến cá mười năm trước.
- Đại nhân còn khỏe, dân bến còn yên. - Bà lão nói.
- Tôi khỏe là nhờ dân còn tin. - Ông đáp. - Ngày nào dân không tới cổng phủ nữa, ngày đó mới là ngày tôi phải lo.
Ông dặn người hầu bày nước chè ở sân ngoài cho dân tới chúc, ai nghèo khó thì ghi tên lại để nhà bếp gửi phần cỗ chia. Một đứa trẻ theo mẹ tới, rụt rè đưa ông chiếc bánh ú tự gói, lá còn xanh. Ông nhận bằng hai tay như nhận lễ của hương thân, làm người mẹ trẻ đứng bên đỏ mặt vì mừng. Những cảnh ấy Khải đứng xa nhìn thấy hết. Chàng hiểu vì sao cả trấn gọi ngày sinh nhật của đại nhân là ngày lớn: không phải vì cỗ bàn, mà vì đó là ngày hiếm hoi trong năm cổng phủ mở cho mọi người như cổng một nhà thường.
Giữa bữa tiệc, một hương thân già của làng Vãn Độ đứng dậy nâng chén. Ông cụ đã ngoài bảy mươi, râu bạc, là người chứng kiến Cố Minh Đức về trấn nhậm chức từ ngày đầu.
- Hôm nay là ngày hoa giáp của đại nhân. - Cụ nói. - Lão xin chúc một câu thay cho dân trấn: đại nhân sống lâu trăm tuổi, trấn này còn nhờ đại nhân trăm năm.
Mọi người nâng chén theo. Cố Minh Đức đứng dậy, nâng chén đáp lễ, nét mặt hiền hòa hiếm thấy so với vẻ nghiêm nghị thường ngày ở công đường.
- Cảm ơn cụ, cảm ơn mọi người. - Ông nói. - Được năm nào hay năm ấy, tôi chỉ mong làm xong việc của năm nay.
Câu nói làm mấy người trẻ trong bàn cười, tưởng là lời khiêm nhường của người sinh nhật. Chỉ có Trình Tố Văn, ngồi ở đầu bàn bên kia, là khẽ dừng đũa. Bà sống với ông gần bốn mươi năm, nghe quen giọng ông nói đùa và giọng ông nói thật. Câu vừa rồi không phải giọng nói đùa. Bà nhìn chồng một lúc, rồi lặng lẽ gắp thêm vào bát ông một miếng cá, như mọi bữa cơm bình thường khác của hai vợ chồng già.
Hoài An ngồi bên, cũng nghe ra ẩn ý trong lời cha. Lúc tiệc tạm nghỉ, hai cha con ra hiên uống trà, Hoài An thưa:
- Cha, con ở phủ bên nghe chuyện vụ án ở bến đã xử tử, tỉnh chuẩn y rồi. Cha vừa về, án ấy có gì khiến cha bận lòng không?
- Con làm thư lại, con nói ta nghe: một án tử, tri phủ chưa đọc hồ sơ gốc, đã nên ký duyệt chưa?
Hoài An im lặng một lúc mới đáp:
- Bẩm cha, theo lệ thì không nên. Nhưng theo thế sự, tỉnh đã chuẩn y, Đề đốc đã có văn thư, người ký duyệt chỉ còn là làm cho đủ thủ tục.
- Con nói đúng cả hai vế. - Ông nói. - Khó là ở chỗ, người làm quan phải sống chung với cả hai vế ấy, mà khi đặt bút xuống, chỉ được chọn một.
Hoài An cúi đầu, không hỏi nữa. Anh hiểu cha mình đủ để biết, khi ông đã nói tới chuyện đặt bút, là ông đã nghĩ về nó nhiều đêm rồi.
Giữa tiệc, thư của phủ tỉnh gửi tới chúc thọ. Người đưa thư được mời nước ở sân trước theo lệ, phong thư được trình lên án. Cố Minh Đức mở ra đọc ngay trước mặt khách, vì đó là thư chúc thọ công khai. Lời chúc viết đẹp, đủ câu đủ chữ. Nhưng ở cuối thư, người viết thêm một câu nhắc khéo: mừng đại nhân hoa giáp, lại mừng cho phủ Chu Gia Giác vừa xử xong tốt đẹp vụ án ở bến, lòng dân yên ổn, ấy là song hỷ.
Ông đọc xong, gấp thư lại theo đúng nếp gấp cũ, đặt sang bên, và tiếp tục nâng chén với khách như không có gì xảy ra. Chỉ Khải, chàng thư lại trẻ đứng hầu ngoài hiên bưng trà, là thoáng thấy ngón tay đại nhân khi gấp thư đã dừng lại ở câu cuối một nhịp rất ngắn. Khải không biết trong thư viết gì. Chàng chỉ biết, từ hôm qua tới nay, bất cứ thứ gì nhắc tới vụ án ở bến đều làm đại nhân dừng lại như thế.
Tiệc tan vào đầu giờ chiều. Hương thân lần lượt cáo về, người nhà dọn dẹp nhà sau, Tiểu Bảo đã ngủ gục trên ghế dài vì dậy sớm đi thuyền. Cố Minh Đức tiễn khách cuối cùng ra cổng, rồi không vào nhà. Ông đi dọc hiên sau một mình, qua dãy phòng của người hầu, qua sân trong, tới chỗ hiên nhìn sang được dãy nhà lao ở phía đông của phủ.
Dãy nhà lao nằm im trong nắng chiều. Mái ngói của nó thấp hơn mọi mái nhà khác trong phủ, tường dày, cửa gỗ lim đóng kín, ngoài cửa một người lính lệ ngồi gật gù bên chiếc ghế đẩu. Không nghe tiếng người trong đó. Nhưng ông biết, trong buồng giam cuối dãy, Trần Đại Trụ đang ngồi với xiềng chân, đếm ngày bằng những bữa cơm tù và tiếng trống canh. Ngày mai, chính Ngọ, người ấy sẽ bị giải ra pháp trường ngoài trấn. Nếu không có gì thay đổi, đó là buổi trưa cuối cùng của một người đàn ông ba mươi tám tuổi, có vợ, có con gái chín tuổi, có đôi vai chai sẹo vì mười mấy năm gánh thuê.
Ông đứng ở hiên rất lâu. Trình Tố Văn ra tìm chồng, đứng bên ông một lúc mà không lên tiếng. Bà nhìn theo hướng mắt ông, thấy dãy nhà lao, và hiểu ra vì sao câu nói giữa tiệc của ông lại nặng như vậy.
- Tối nay ông lại đọc hồ sơ phải không? - Bà hỏi.
- Ừ.
- Thanh Hư có nhắn người qua, dặn ông đừng thức khuya đêm nay.
- Ta biết. Ông ấy dặn từ hôm qua rồi.
- Ông định không nghe lời bạn cũ à?
Ông quay sang nhìn vợ, cười rất nhẹ.
- Có những đêm, người ta không thức vì không nghe lời dặn. Người ta thức vì nếu ngủ, sáng mai sẽ không còn dám nhìn mặt mình trong gương nữa.
Bà không nói thêm. Bà chỉ đưa tay sửa lại cổ áo cho chồng, một động tác của mấy chục năm vợ chồng, rồi quay vào nhà sau lo cho con cháu.
Cố Minh Đức đứng thêm một mình ở hiên, nhìn dãy nhà lao tối dần trong buổi chiều sinh nhật của mình. Sáu mươi năm. Một vòng hoa giáp. Người ta chúc ông sống lâu trăm tuổi, chúc trấn này nhờ ông trăm năm. Ông không mong trăm tuổi. Tuổi sáu mươi dạy ông một điều mà tuổi trẻ không dạy được: đời người không tính bằng số năm xin thêm, mà tính bằng số việc phải làm cho xong trước khi năm tháng khép lại.
Có một việc đang chờ ông trong thư phòng tối nay, gói trong một bộ hồ sơ niêm phong, và hạn của nó không phải trăm năm, mà là trưa mai.
Ông nói rất khẽ, khẽ tới mức chỉ mình ông nghe, như ra lệnh cho chính mình:
- Vào thư phòng. Đêm nay ta đọc hồ sơ.
Rồi ông quay lưng lại với dãy nhà lao đang chìm vào bóng tối, bước về phía thư phòng. Nơi ấy Trần Văn Khải đã thắp sẵn ngọn đèn, trải sẵn giấy bút. Chàng còn đặt lên án chiếc chìa khóa phòng hồ sơ mà ông đã giành được bằng đúng một trận thua.