THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 11: Quan Về
Thuyền về tới hạ du vào buổi trưa ngày hai mươi lăm tháng tám, khi nắng còn đứng trên mặt sông Thanh Khê và hơi nước bốc lên mờ cả hai bờ lau sậy. Cố…
Nội dung chương
Thuyền về tới hạ du vào buổi trưa ngày hai mươi lăm tháng tám, khi nắng còn đứng trên mặt sông Thanh Khê và hơi nước bốc lên mờ cả hai bờ lau sậy. Cố Minh Đức đứng ở mũi thuyền, quan phục đã đổi sang áo vải thường cho đỡ nắng, hai tay chắp sau lưng, mắt nhìn con đê mới đắp ở khúc sông cong nhất ngoài trấn. Nửa tháng đi kiểm đê, ông đã qua mười một đoạn đê, ăn cơm với phu đê, ngủ nhờ đình làng, và ký mười mấy tờ trình xin gỗ đá. Đoạn đê này là đoạn ông lo nhất. Đất mới đắp còn mềm, chân đê còn ướt, mà mùa nước lớn chưa qua hẳn.
- Chậm lại một chút. - Ông nói với người lái thuyền.
Thuyền ghé sát bờ. Ông nhìn hồi lâu đám cỏ chân đê, nhìn vết nước cũ còn in trên thân tre cắm làm mốc, rồi mới gật đầu.
- Nước năm nay lên cao mà rút chậm. - Ông nói. - Đoạn này phải cho người canh thêm một tháng nữa. Qua rằm tháng chín mới được rút phu.
Người phu đò đi theo thuyền là một lão già ở bến Vãn Độ, gánh nước và chở khách đã gần bốn mươi năm. Lão nghe quan nói chuyện đê như nói chuyện nhà mình thì bạo dạn thưa:
- Bẩm đại nhân, năm nay nước dữ mà trấn còn yên, ấy là nhờ đê đắp sớm từ tháng năm. Chỉ tội bến đò mấy hôm nay vắng khách, người ta còn xôn xao chuyện án mạng chưa dứt.
Cố Minh Đức quay lại nhìn lão.
- Án mạng nào?
Lão phu đò giật mình, biết mình lỡ lời, cúi đầu bẻ lái cho thuyền đi thẳng.
- Bẩm, chuyện ở bến, tiệm họ Ngô. Người trong trấn ai cũng biết, chỉ là tiểu nhân không dám nói bậy trước mặt đại nhân.
Ông không hỏi nữa. Không phải ông không muốn biết. Ông biết tính người dưới: càng gặng hỏi giữa sông, lời kể càng thêm thắt theo ý người kể. Việc của phủ phải đọc từ hồ sơ, nghe từ người có trách nhiệm. Nhưng ba chữ tiệm họ Ngô ông ghi nhớ. Tiệm tạp hóa ấy án ngữ đầu bến Vãn Độ đã nhiều năm, chủ tiệm là Ngô Đức Tài, người cho vay và giữ sổ nợ của nửa cái bến này. Một án mạng ở đó không phải chuyện nhỏ.
Thuyền cập bến lúc chiều đã ngả. Bến Vãn Độ hôm nay vắng hơn lệ thường. Mấy gánh hàng thưa thớt nép dưới mái hiên, quán chè của bà Tôn còn mở mà ít người ngồi, và tiệm tạp hóa đầu bến đóng cửa im ỉm, trên cửa còn dấu niêm phong của phủ đã ngả màu. Cố Minh Đức bước lên bến, nhìn cánh cửa niêm phong ấy một lúc. Một người lính lệ chạy ra đón, đỡ lấy tay nải của ông.
- Đại nhân về. - Lính lệ nói. - Phó tri phủ sai tiểu nhân ra bến chờ từ giờ Ngọ.
- Trong phủ có việc gì gấp không?
- Bẩm, mọi việc đều đã đâu vào đấy.
Câu trả lời quá gọn làm ông khựng lại nửa bước. Mọi việc đâu vào đấy, mà một tiệm lớn ở đầu bến bị niêm phong, chủ tiệm chết vì án mạng. Ông nhìn người lính, lính cúi mặt. Ông không trách. Lính lệ chỉ được sai nói bấy nhiêu.
Xe ngựa của phủ chờ ở đầu phố. Ông lên xe, vén rèm nhìn lại bến một lần nữa. Ở hiên bến, chỗ mái tôn cũ che nắng mưa cho người lỡ đò, còn một vệt tối như dấu người nằm lâu ngày. Mấy người gánh thuê ngồi cách xa vệt ấy, như tránh một chỗ ngồi đã có chủ là người chết oan. Ông buông rèm.
Về tới phủ nha, cổng lớn mở sẵn. Quyền Đức Lâm, phó tri phủ, dẫn sư gia và mấy viên lại đứng chờ ở sân. Ai cũng áo mũ chỉnh tề, mặt mày tươi tỉnh như nghênh đón một chuyến đi tốt đẹp. Cố Minh Đức xuống xe, nhận cái cúi chào của mọi người, chỉ gật đầu đáp lễ.
- Đại nhân đi đường vất vả. - Quyền Đức Lâm nói. - Cơm nước đã dọn ở nhà sau, xin đại nhân nghỉ một đêm, mai hẵng xem việc.
- Ta ngủ trên thuyền hai đêm rồi. - Ông nói. - Đê hạ du có ba đoạn phải đắp lại trước tháng chín, tờ trình ta đã ký trên thuyền, mai gửi lên tỉnh. Còn việc trong phủ nửa tháng ta vắng, bây giờ nói.
Quyền Đức Lâm hơi khựng, rồi cười xòa.
- Bẩm, việc trong phủ không có gì đáng để đại nhân nhọc lòng đêm nay. Thuế bến đã thu đủ kỳ, kho lương còn nguyên, chỉ có một vụ án ở bến đã xử xong.
- Vụ án nào?
- Bẩm, chủ tiệm Ngô Đức Tài bị giết đêm mười hai. Hung thủ là một tên gánh thuê tên Trần Đại Trụ, bắt được ngay tại bến với túi tiền tang vật. Hạ quan đã xử, tỉnh đã chuẩn y, định ngày hành hình là chính Ngọ hai mươi tám này.
Sân phủ im đi một nhịp. Cố Minh Đức nhìn phó tri phủ của mình. Quyền Đức Lâm kém ông mười ba tuổi, làm việc nhanh, chữ tốt, giỏi đoán ý trên. Ba điều ấy gộp lại có thể thành một viên quan hữu dụng, cũng có thể thành một cái tai họa biết đóng triện.
- Một vụ án mạng, bắt người, xử tử, tỉnh chuẩn y. - Ông nói chậm rãi. - Tất cả trong nửa tháng ta đi kiểm đê.
- Bẩm, tang vật rõ ràng, nhân chứng có đủ, dân bến đang hoang mang nên phải xử sớm để yên lòng dân.
- Hồ sơ gốc đâu?
- Bẩm, hồ sơ đã niêm phong theo lệ, chờ đại nhân ký duyệt cuối cùng trước ngày hành hình mới mở lại.
Ông im lặng lâu. Cái im lặng của ông không giống người mệt. Nó giống mặt sông trước chỗ nước xoáy: phẳng lặng vì bên dưới đang cuộn. Mấy viên lại đứng sau Quyền Đức Lâm không ai dám thở mạnh.
- Một mạng người mà báo ta bằng ba dòng. - Ông nói. - Bắt ở đâu, xử thế nào, ai làm chứng, vết thương ra sao, các ngươi định để ta ký duyệt trên ba dòng ấy hay sao?
- Bẩm đại nhân, hạ quan không dám. - Quyền Đức Lâm cúi đầu. - Chỉ là hồ sơ theo lệ phải niêm phong, hạ quan sợ mở ra lúc này thành trái lệ với tỉnh.
- Lệ nào cấm tri phủ đọc hồ sơ án tử của phủ mình?
Không ai đáp. Sư gia đứng sau, tay ôm chồng danh mục, mắt nhìn xuống đất như đếm gạch sân.
Cố Minh Đức đi vào công đường. Căn phòng xử án vắng người vẫn lạnh mùi gỗ cũ và mực tàu. Ghế chủ tọa phủ một lớp bụi mỏng vì nửa tháng không ai ngồi. Ông đưa tay quệt lớp bụi ấy, nhìn ngón tay mình, rồi ngồi xuống. Ngồi vào chỗ của mình rồi, ông mới thấy cơn mệt của nửa tháng đường sông ập tới: vai mỏi, chân tê, mắt cay vì nắng nước. Sáu mươi tuổi, đi xa nửa tháng, không còn là việc của người trẻ. Ông biết cơ thể mình hơn ai hết. Nhưng mệt là việc của thân, hồ sơ là việc của mạng người. Hai việc ấy không được phép lẫn nhau.
- Đem danh mục việc tồn đọng lên đây. - Ông nói.
Sư gia trình danh mục. Ông đọc từng tờ, chậm như lệ thường của ông từ ngày còn làm thư lại ở tỉnh: đọc hết một tờ mới lật tờ sau, chỗ nào không rõ thì hỏi ngay, không để dành. Thuế, đê, kho, kiện ruộng, kiện nợ, từng việc ông đều có câu hỏi. Tới tờ cuối cùng, vụ án ở bến được chép đúng như lời Quyền Đức Lâm vừa nói: ba dòng, chữ ngay ngắn, không thừa không thiếu một nét.
Ông đặt tờ danh mục xuống.
- Biên bản khám nghiệm đâu?
- Bẩm, trong hồ sơ niêm phong.
- Lời khai nhân chứng?
- Bẩm, cũng trong hồ sơ.
- Biên bản tịch thu sổ sách của tiệm họ Ngô?
- Bẩm, phòng văn thư giữ, không nằm trong bó hồ sơ niêm phong.
- Vì sao?
Sư gia liếc Quyền Đức Lâm. Quyền Đức Lâm đáp thay:
- Bẩm, sổ sách của tiệm phần lớn là sổ nợ của dân bến, tịch thu để đối chiếu tang vật. Biên bản tịch thu để riêng ở phòng văn thư cho tiện tra cứu.
Ông gật đầu, không nói nhận hay không nhận lời giải thích ấy.
Trời tối dần. Đèn dầu trong công đường được thắp lên. Ông cho mọi người lui ra, chỉ giữ lại sư gia để hỏi thêm việc đê và việc kho. Hỏi xong, ông về nhà sau ăn cơm một mình. Phu nhân Trình Tố Văn đã cho người dọn mâm cơm giản dị: một bát canh cá sông, đĩa rau luộc, chén cơm trắng. Bà ngồi bên, rót cho ông chén trà nóng.
- Ông đi nửa tháng, gầy đi trông thấy. - Bà nói.
- Đê năm nay giữ được, người không gầy mới lạ.
- Việc trong phủ nghe nói có án mạng. Ông vừa về, đừng thức khuya nữa.
- Ta biết chừng mực.
Ông nói vậy mà ăn xong vẫn không về phòng nghỉ. Ông đứng ở hiên nhà sau, nghe tiếng trống canh ngoài phố điểm từng hồi. Trấn Chu Gia Giác về đêm yên ắng, tiếng mái chèo khua nước xa dần, tiếng chó sủa ở thôn ngoài vọng lại rồi tắt. Cách phủ hai dãy nhà là dãy lao, nơi người tử tù tên Trần Đại Trụ đang bị giam. Ông chưa từng nhìn mặt người ấy. Trong đầu ông, người ấy lúc này chỉ là ba dòng chữ trong danh mục và một cái tên: Trần Đại Trụ, gánh thuê, giết người cướp của, chờ chém ngày hai mươi tám.
Một người đang đếm từng đêm trong lao, cách ngày chết ba hôm. Còn ông, người duy nhất trong phủ này có quyền bắt mọi tờ giấy phải mở ra trước mặt mình, lại vừa ăn cơm, uống trà, và nghe trống canh như một buổi tối thường.
Ông quay vào, gọi người hầu.
- Ngày mai, bảo phòng văn thư mang cho ta xem biên bản tịch thu sổ sách của tiệm họ Ngô. - Ông dặn. - Từng dòng một. Ai chép biên bản ấy thì người ấy mang lên.
Người hầu dạ ran rồi lui. Ông đứng thêm một lúc trước hiên. Ở phía dãy lao, không có tiếng động gì. Sự im lặng ấy làm ông khó chịu hơn bất cứ tiếng kêu khóc nào. Kêu khóc còn là tiếng của người sống đang chờ người nghe. Im lặng là tiếng của người đã bị cả một bộ máy quên đi, chỉ còn chờ tới ngày bị đưa ra pháp trường cho xong thủ tục.
Đêm ấy ông ngủ không sâu. Gần canh ba, ông tỉnh dậy, nghe tiếng nước sông vỗ vào bờ đá ngoài trấn, và nghĩ về cánh cửa tiệm niêm phong ở đầu bến. Một người chết. Một người chờ chết. Một bộ hồ sơ niêm phong. Và một ông quan vừa về tới nhà đã được báo rằng mọi việc đều đâu vào đấy.
Sáng mai, ông tự nhủ, ta bắt đầu từ biên bản tịch thu. Chữ chép trên giấy không biết nói dối giỏi như người. Nó chỉ cần một người chịu đọc từng dòng.