THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 18: Lệnh Miệng Trong Đêm

Cánh cửa thư phòng vừa khép lại, Trần Văn Khải tưởng mình sẽ nghe đại nhân ra lệnh mở hội đồng, đánh trống triệu người, hay ít nhất là viết một tờ lệnh…

Nội dung chương

Cánh cửa thư phòng vừa khép lại, Trần Văn Khải tưởng mình sẽ nghe đại nhân ra lệnh mở hội đồng, đánh trống triệu người, hay ít nhất là viết một tờ lệnh phúc tra đóng triện đỏ. Không có gì như thế cả. Cố Minh Đức ngồi xuống sau án, nhìn nén hương âm cháy xanh trong lư một lúc, rồi nói câu đầu tiên của đêm phúc tra bằng một giọng rất nhỏ:

- Đêm nay, việc của ta không đi qua giấy.

Khải chưa hiểu.

- Bẩm đại nhân, không văn thư thì lấy gì triệu người?

- Lấy miệng ta, và chân của con. - Ông nói. - Trong phủ này có tai mắt của tỉnh và của Đề đốc. Một tờ văn thư phúc tra tới tay sư gia trước trống canh, thì trước khi trời sáng, cả tỉnh thành sẽ biết tri phủ Chu Gia Giác nửa đêm lật án. Họ sẽ không cần làm gì nhiều: chỉ cần chuyển hồ sơ lên tỉnh, rút người, khóa lao, là mọi việc của ta chết ngay trong đêm đầu tiên. Cho nên đêm nay, ta chỉ dùng lệnh miệng. Người được gọi tới sẽ tưởng ta hỏi việc thường. Việc họ làm, chỉ họ và ta biết.

Ông bảo Khải ghi nhớ thứ tự việc, không ghi ra giấy rời mang theo người. Một, triệu trưởng lao Mã Cửu; hai, gọi riêng bộ đầu Triệu Thiết Ngưu đang trực đêm. Ba, mở lại niêm phong hồ sơ gốc để trích lục một bộ hồ sơ làm việc riêng; bốn, vào lao gặp Trần Đại Trụ.

- Đi đi. Nói với Mã Cửu rằng đại nhân khó ngủ, muốn hỏi chuyện nhà lao mấy đêm nay có yên không. Nói đúng thế, không thêm một chữ.

Mã Cửu tới rất nhanh, áo khoác chưa kịp cài hết cúc, mặt còn ngái ngủ mà mắt đã đầy vẻ lo lắng của người làm nghề giữ lao ba mươi năm. Trưởng lao năm nay bốn mươi sáu, người thấp đậm, ít nói, quen với việc người ta chỉ nhớ tới ông khi có chuyện không hay.

- Bẩm đại nhân, nhà lao mấy đêm nay yên. - Mã Cửu thưa ngay khi vào phòng. - Tử tù Trần Đại Trụ không kêu khóc, ăn đủ suất, chỉ xin thêm một lần gặp vợ con mà hạ quan không dám cho, vì chưa có lệnh.

- Hắn có nói gì lạ không?

- Bẩm, hắn chỉ nói một câu đi nói lại: hắn không giết người. Tử tù nào cũng nói thế, bẩm đại nhân, hạ quan nghe quen rồi.

- Ngươi giữ lao ba mươi năm, ngươi phân biệt được tiếng kêu oan vì sợ chết và tiếng kêu của người bị oan thật không?

Mã Cửu im lặng một lúc lâu. Câu hỏi ấy không nằm trong bất cứ phận sự nào của một trưởng lao. Ông ta nhìn xuống đôi tay mình, đôi tay đã tra khóa vào chân không biết bao nhiêu người.

- Bẩm, hạ quan không dám nói bừa. Nhưng người này lạ. Người sắp chết oan thường kêu trời kêu đất những đêm đầu, rồi kiệt sức mà im. Người sắp chết vì tội thật thì hoặc chửi bới, hoặc xin ăn uống cho đã. Còn người này, đêm nào cũng nằm quay mặt vào tường, hỏi một câu: vợ con hắn ở ngoài có được ai cho vào thăm không. Hạ quan giữ lao ba mươi năm, chưa thấy kẻ giết người cướp của nào sắp chết mà chỉ lo một việc như thế.

Cố Minh Đức gật đầu chậm rãi.

- Đêm nay, sau nửa canh giờ nữa, ta vào lao gặp hắn. Ngươi mở cửa. Chuyện này không ghi vào sổ lao. Ai hỏi, ngươi nói đại nhân đi kiểm tra dãy lao vì khó ngủ.

Mã Cửu dập đầu nhận lệnh, lui ra, bước chân nhẹ hơn lúc vào, như người vừa đặt xuống một gánh nặng đã mang một mình mười sáu ngày.

Triệu Thiết Ngưu được gọi tới sau đó qua lối cửa ngách. Bộ đầu vào thư phòng với thanh đao còn đeo bên hông, áo trực đêm còn hơi sương. Ông ta cúi chào, rồi mắt dừng lại ở tấm lệnh bài cắm đứng trên án một nhịp rất ngắn. Thiết Ngưu không thấy gì khác thường ngoài hơi lạnh còn sót trong phòng và một nén hương cháy xanh trong lư, nhưng người làm nghề bắt người lâu năm có cái mũi riêng với sự không thường. Ông ta không hỏi. Đứng trước tri phủ, bộ đầu chỉ nghe lệnh.

- Thiết Ngưu. - Cố Minh Đức nói. - Từ giờ tới sáng mai, ngươi là người của ta, không phải người của bất kỳ tờ văn thư nào. Ngươi giữ cổng sau của phủ, không cho ai ra vào mà không qua mắt ngươi. Có người của tỉnh hay của Đề đốc tới phủ đêm nay, ngươi cho người chạy lối ngách báo ta trước. Hiểu không?

- Bẩm, thuộc hạ hiểu.

- Còn một việc nữa. Sáng mai, ta có thể cần ngươi làm những việc không có lệnh viết. Ngươi có dám làm bằng lệnh miệng của ta không?

Triệu Thiết Ngưu quỳ một gối xuống.

- Bẩm đại nhân, thuộc hạ theo đại nhân chín năm. Triện của đại nhân thuộc hạ chỉ nhận một. Lệnh miệng hay lệnh giấy, thuộc hạ đều nghe như nhau.

Ông ta lui ra. Cánh cửa ngách khép lại không một tiếng động.

Trước khi gọi Thiết Ngưu, Khải có một lúc đứng một mình ở hiên thư phòng chờ lệnh, và lúc ấy chàng mới nhận ra tay mình vẫn còn run nhè nhẹ từ lúc hai vị khách lạ rời phòng. Chàng nhìn lại thư phòng qua khe cửa: đại nhân ngồi yên sau án, tấm lệnh bài đứng thẳng trong ánh đèn, nén hương cháy xanh không khói. Cả phủ đang ngủ. Không một ai khác trong mấy trăm người của phủ nha này biết rằng trong thư phòng của tri phủ vừa xảy ra một việc không nằm trong bất cứ sổ sách nào. Từ đêm nay, mọi việc hai thầy trò làm đều chạy đua với một nén hương. Khải hít một hơi lạnh của đêm, tự dặn mình phải ghi nhớ từng việc của đêm nay cho thật đúng, vì nếu đêm nay qua đi mà không ai ghi lại, thì có lẽ sẽ không còn ai trên đời biết nó đã từng xảy ra.

Việc thứ ba là hồ sơ. Theo quyền đọc hồ sơ đã xin được, Cố Minh Đức cho mở lại niêm phong bộ hồ sơ gốc lần thứ hai trong đêm, lần này không phải để đọc, mà để trích lục. Khải trải giấy mới, mài mực, và chép tay từng phần cần thiết nhất thành một bộ hồ sơ làm việc riêng: biên bản khám nghiệm, hai bản lời khai của bà Tôn, biên bản bắt giữ, biên bản kiểm kê tang vật, lời khai của Đại Trụ. Bộ trích lục này không đóng triện phủ, không ghi số văn thư. Nó là hồ sơ của một phiên tòa chưa có tên, do hai thầy trò mang theo người trong đêm.

Chép tới nửa, trong phòng chỉ còn tiếng bút chạy trên giấy và tiếng hương âm cháy rất khẽ. Cố Minh Đức bỗng đứng dậy, tới tủ sách ở góc thư phòng, lấy ra một tập giấy đã viết sẵn một phần, đặt lên án. Đó là một bản tấu chương, chữ của chính ông, viết về xưởng đúc tiền giả ngoài trấn mà tờ trình nặc danh đã nhắc tới từ trước đêm án mạng. Bản thảo này ông đã viết dở từ trước ngày sinh nhật, để đó chờ thêm chứng cứ.

Đêm nay, ông ngồi xuống viết nốt. Ông viết không dài, nhưng từng dòng đều cân nhắc: việc tiền giả lưu hành trong vùng, dấu hiệu có xưởng đúc hoạt động ngoài trấn, đề nghị tỉnh cho thanh tra độc lập. Và có một câu cuối ông đọc lại hai lần mới để khô mực: nếu không trị việc tiền giả từ gốc, nó sẽ ăn vào mọi việc khác của vùng này, kể cả việc xử án. Ông ký tên, đóng triện riêng, cho bản tấu vào phong bì, niêm phong cẩn thận, rồi trao cho Khải.

- Nếu đêm nay ta không qua khỏi, con thay ta gửi nó lên tỉnh. - Ông nói nhẹ như dặn gửi một lá thư nhà. - Đừng mở. Đừng nói với ai con giữ nó.

Khải cầm phong bì bằng hai tay, tưởng đại nhân nói chuyện rủi ro chức vụ: một tri phủ nửa đêm lật án của tỉnh, sáng mai có thể bị đình chỉ, bị giải về tỉnh. Thì việc gửi sẵn tấu chương đi là việc lo xa của người làm quan cẩn thận. Chàng cất phong bì vào ngực áo, gật đầu.

- Bẩm, con giữ. Đại nhân yên tâm.

Ông nhìn chàng thư lại một lúc, như muốn nói thêm điều gì về nén hương đang cháy và tấm lệnh bài đang đứng trên bàn, rồi lại thôi. Có những việc, người trong cuộc càng ít biết càng làm được việc. Ông chỉ nói:

- Đặt nó cùng chỗ với cuốn sổ tay của con. Hai thứ ấy, một của ta, một của con, đều là chữ viết ra khi người ta không cho mình viết.

Đồng hồ ngoài phố điểm canh mới. Tro của nén hương âm đã rơi một lớp mỏng xám trắng trong lư. Khải liếc nhìn nó, thấy gai người nổi lên mà không hiểu vì sao mình sợ một nén hương. Chàng chưa từng thấy hương nào cháy êm như thế, không khói, không tàn đỏ, chỉ có lửa xanh nhạt và tro lạnh.

Cố Minh Đức đứng dậy, cầm lấy bộ hồ sơ làm việc vừa trích lục, gấp lại bỏ vào tay áo rộng.

- Việc cuối cùng của canh này. - Ông nói. - Mở cửa lao. Ta muốn gặp người tử tù mà cả phủ này đã quên mặt.

Hai thầy trò đi qua sân phủ vắng. Đêm sâu, đèn ở các dãy nhà đã tắt gần hết, chỉ còn đèn của lính gác cổng và ánh lửa xanh rất nhỏ lọt qua khe cửa thư phòng sau lưng họ. Khải đi trước dẫn đường, tay cầm đèn lồng che gió, lòng còn nguyên câu hỏi vì sao một chuyến đi thăm lao lúc nửa đêm lại phải giấu cả phủ như một cuộc hành quân.

Rồi từ cuối hành lang tối của dãy lao, tiếng khóa sắt vang lên, khô và nặng, khi Mã Cửu tra chìa vào ổ khóa đầu tiên. Và từ trong bóng tối sau những chấn song, một giọng khàn đặc, giọng của một người đã mười sáu ngày không nói chuyện với ai ngoài lính gác, cất lên run rẩy:

- Ai... ai tới giờ này?

Chương khác

Xem thêm