THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 21: Khám Lại Hiện Trường
Đêm hai mươi bảy tháng tám, khi trống canh vừa điểm sang giờ Tí chưa lâu, Trần Văn Khải theo sau Cố Minh Đức rời khỏi dãy lao của phủ nha. Trời không…
Nội dung chương
Đêm hai mươi bảy tháng tám, khi trống canh vừa điểm sang giờ Tí chưa lâu, Trần Văn Khải theo sau Cố Minh Đức rời khỏi dãy lao của phủ nha. Trời không mưa, nhưng hơi nước từ sông Thanh Khê bốc lên làm sân phủ ướt lạnh. Triệu Thiết Ngưu đã chờ sẵn ở cổng trong, tay cầm đèn lồng đã che bớt ba mặt, chỉ để một khe sáng nhỏ hắt xuống đất. Không ai nói to. Đoàn phúc tra đêm nay chỉ có ba người và một việc phải làm cho xong trước khi trời sáng. Họ quay lại tiệm tạp hóa họ Ngô ở bến đò Vãn Độ. Nơi mười lăm ngày trước một người đã chết và một người khác đã bị trói đi thay cho kẻ giết người.
Khải ôm theo hộp bút và cuốn sổ làm việc, trong lòng vẫn còn vang câu nói của Vương Tú Anh ở cổng lao. Chiếc áo không dính máu. Tiếng chó sủa rồi im bặt. Những điều ấy tối nay phải được nhìn bằng mắt thật.
Cố Minh Đức đi chậm hơn lúc vào lao. Tay ông đã lạnh từ mấy giờ trước, lúc vịn vào cạnh án ở phòng văn thư Khải đã thấy rõ. Vậy mà ông không cho ai dìu. Ông chỉ dặn Thiết Ngưu một câu ngắn.
- Đi đường bến dưới. Đừng đi đường phố chính. Đêm nay chưa phải lúc cho người ta biết phủ đang làm gì.
Thiết Ngưu gật đầu, dẫn đoàn vòng qua ngõ sau của phủ, xuống con dốc đá quen thuộc dẫn ra bến. Bến đò Vãn Độ về đêm vắng hẳn. Mấy chiếc đò ngang nằm im trên mặt nước đen, dây chão thỉnh thoảng cọ vào cọc gỗ kêu khẽ. Tiệm họ Ngô nằm ở đầu dãy nhà quay mặt ra bến, cửa gỗ đóng kín, trên cửa còn dấu niêm phong của phủ từ ngày tịch thu sổ sách. Dấu niêm phong đã ngả màu, mép giấy bong nhẹ vì ẩm, nhưng chưa từng bị bóc.
Thiết Ngưu giơ đèn lên soi kỹ từng mép niêm phong rồi mới quay lại thưa nhỏ.
- Bẩm đại nhân, niêm phong còn nguyên. Từ ngày đóng tới nay không ai vào.
Cố Minh Đức tự tay kiểm lại một lần nữa. Ông xem dấu triện, xem đường hồ dán, xem cả bụi bám trên then cửa. Xong ông mới gật đầu cho mở. Khải ghi vào sổ làm việc giờ mở niêm phong, người chứng kiến, tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn, từng chữ chép chậm như lời dặn của thầy: chữ nào cũng là một mạng người.
Bên trong tiệm tối và lạnh hơn ngoài sân. Mùi dầu hỏa, mùi vải mốc, mùi quế hồi quyện vào nhau, dưới đó còn một lớp mùi rất nhạt chưa tan hết, mùi của một nơi từng có người nằm xuống. Thiết Ngưu treo đèn lồng lên xà ngang giữa tiệm, vặn bấc nhỏ lại cho ánh sáng chỉ đủ soi quầy hàng và chiếc két sắt đặt ở góc trong, sát vách ngăn với nhà sau.
Khải đứng giữa tiệm, cố hình dung lại biên bản khám nghiệm đầu tiên mà chính tay hắn đã chép. Theo biên bản ấy, hung thủ đột nhập trong đêm, giết chủ tiệm, phá két lấy tiền, rồi bỏ chạy. Đứng ở đây lúc này, từng chữ ấy bắt đầu không đứng vững.
Cố Minh Đức đi một vòng rất chậm quanh quầy. Ông không chạm vào thứ gì vội. Ông nhìn kệ hàng còn nguyên thứ tự, nhìn nền nhà đã được quét dọn qua loa sau ngày khám đầu, nhìn cánh cửa chính vẫn cài then chắc từ phía trong theo lời khai của người phát hiện án buổi sáng hôm sau. Rồi ông dừng lại trước két sắt.
- Khải, đọc lại đoạn biên bản cũ nói về két.
Khải lật sổ, đọc khẽ. Biên bản cũ ghi két bị lấy mất một nghìn hai trăm sáu mươi đồng đại dương, cửa két mở, trong két còn sót mấy gói hàng nhỏ và giấy tờ vay nợ đã được tịch thu riêng.
- Biên bản có ghi cửa két bị cạy không?
- Bẩm, không ghi rõ. Chỉ ghi là cửa két mở.
- Vậy đêm nay ta xem cửa két trước.
Thiết Ngưu cầm đèn tới gần. Ba người cúi xuống chiếc két sắt đã cũ, sơn đen bong từng mảng ở góc. Ổ khóa nằm chính giữa cửa két, là loại khóa chìa lớn của các tiệm buôn vẫn dùng. Khải soi đèn sát vào ổ khóa, vào mép cửa, vào bản lề. Không có vết xước mới. Không có vết nạy cong. Khung cửa khít đều từ trên xuống dưới, bụi cũ còn bám thành vệt liền ở khe cửa, chỉ đứt đúng chỗ tay người vẫn nắm khi mở khóa mỗi ngày.
Thiết Ngưu dùng đầu ngón tay gõ nhẹ lên mép cửa, rồi lắc đầu.
- Bẩm đại nhân, két này không bị cạy. Nếu bị nạy bằng xà beng, mép cửa phải cong, sơn phải tróc thành mảng. Đây thì phẳng như chưa từng có ai động mạnh vào.
Cố Minh Đức đưa tay sờ ổ khóa. Tay ông lạnh, động tác lại rất vững.
- Két được mở bằng chìa. Ghi vào.
Khải ghi, lòng chùng xuống. Một kẻ trộm lạ mặt đột nhập trong đêm không thể mở két bằng chìa của chủ nhà. Một kẻ giết người cướp của trong cơn vội vã càng không thể mở két êm như người nhà mở két ban ngày. Chi tiết này, mười lăm ngày qua, nằm ngay trước mắt cả phủ mà không một dòng biên bản nào nhắc tới.
Đúng lúc ấy, ngoài cửa sau có tiếng gõ rất khẽ, ba tiếng, dừng, rồi lại một tiếng. Thiết Ngưu tắt bớt đèn, ra hiệu cho Khải đứng yên. Người gõ cửa là người của phủ được cử đi mời Lâm Ngọc Phân tới. Bà góa của nạn nhân bước vào bằng cửa hông phía nhà sau, áo tối màu, tóc búi chặt, mắt sưng vì nhiều ngày khóc và mất ngủ. Bà quỳ xuống định lạy, Cố Minh Đức ngăn lại.
- Phu nhân đứng lên. Đêm nay ta mời phu nhân tới không phải để lấy cung. Ta muốn hỏi những điều chỉ người trong nhà này mới biết.
Lâm Ngọc Phân đứng dậy, tay vẫn nắm chặt mép áo. Bà nhìn quanh tiệm của chồng, nhìn quầy hàng, nhìn két, và phải quay mặt đi một lúc mới nói được.
Cố Minh Đức hỏi về chìa két trước tiên. Bà đáp không chút do dự.
- Bẩm đại nhân, chìa két chỉ có hai chiếc. Một chiếc nhà tôi giữ trong người, đeo ở thắt lưng cùng chùm chìa tiệm. Một chiếc dự phòng khóa trong rương gỗ ở nhà sau, chỉ mình tôi biết chỗ. Sau đêm ấy, chiếc của nhà tôi vẫn ở thắt lưng khi người ta tìm thấy ông ấy. Chiếc trong rương tôi vừa kiểm lại theo lời người của phủ dặn, vẫn còn nguyên trong hộp gỗ nhỏ, giấy gói chưa rách.
Khải ngẩng lên. Cả hai chiếc chìa đều còn. Vậy người mở két đêm ấy đã dùng chính chiếc chìa trên người Ngô Đức Tài, mở xong lại để chìa về chỗ cũ, hoặc là người được chủ tiệm tự tay mở két cho xem, cho lấy, trong một cuộc gặp mà chủ tiệm không hề đề phòng. Dù là cách nào, đó cũng không phải tay của một kẻ lạ đột nhập.
Cố Minh Đức hỏi tiếp về cửa sau. Tiệm có hai lối: cửa chính ra bến, và cửa sau mở ra khoảng sân hẹp rồi xuống bậc đá ra sông. Ban ngày cửa sau dùng để nhận hàng từ thuyền lên. Ban đêm, theo lệ của tiệm bao năm, cửa sau cài then từ trong, chỉ mở khi có tiếng gõ đúng hiệu của người quen chở hàng.
Lâm Ngọc Phân nói, giọng nghẹn lại.
- Bẩm, nhà tôi cẩn thận lắm. Người lạ gõ cửa sau ban đêm, ông ấy không bao giờ mở. Có lần thuyền hàng về khuya, người chèo là người mới, ông ấy còn bắt đứng ngoài sân nói vọng vào, đợi nhận ra tiếng người quen mới ra. Ông ấy chỉ mở cửa sau ban đêm cho khách nợ quen mặt, những người vẫn tới nhà sau để bàn chuyện vay trả mà không muốn người ở bến trông thấy.
- Khách nợ quen mặt. Phu nhân nhớ kỹ câu ấy, đêm nay nó quan trọng hơn mọi lời khai khác.
Bà gật đầu, nước mắt rơi xuống mà không dám khóc thành tiếng trong tiệm của chồng.
Đoàn theo bà ra phía sau. Then cửa sau bằng gỗ lim, nặng, cài vào hai móc sắt ở khung. Thiết Ngưu thử cài rồi rút then mấy lần. Then không hỏng, móc không cong. Nếu có kẻ phá cửa từ ngoài, then này phải gãy hoặc khung phải nứt. Đêm án mạng, người phát hiện án đi lối cửa chính cùng lính lệ, cửa sau lúc ấy được ghi là đang khép mà then đã rút. Một người ở trong tiệm mới rút được then ấy nhẹ nhàng như thế. Hoặc chủ tiệm tự rút để đón khách, hoặc kẻ đã ở sẵn trong tiệm rút để thoát ra phía sông.
Bậc đá sau tiệm dẫn xuống mặt nước chỉ có ba bậc, rêu trơn, ban đêm không có đèn. Thiết Ngưu hạ đèn xuống thấp. Ánh sáng quét qua mặt đá, dừng lại ở một vệt bùn dài còn in mờ dù đã qua nhiều ngày mưa nhỏ và người qua lại. Vệt bùn không hướng từ sông lên tiệm theo lối người đi hàng ngày vẫn bước. Nó kéo từ ngưỡng cửa sau chếch xuống mép nước, rộng ở đầu, hẹp dần, như có vật nặng được kéo lê, hoặc có một người ướt sũng, bước chân trượt, vừa đi vừa vịn, để lại dấu bùn loang theo chiều rời khỏi tiệm.
Khải cúi xuống ghi lại vị trí, chiều dài, hướng của vệt bùn, tay hơi run. Mười sáu ngày trước, chính hắn đã theo đoàn khám đầu đi qua bậc đá này. Khi ấy mọi người chỉ nhìn cửa chính và quầy hàng. Không ai hạ đèn xuống bậc đá sau tiệm. Không ai hỏi chìa két còn hay mất. Không ai hỏi chủ tiệm có bao giờ mở cửa sau cho người lạ không.
Cố Minh Đức đứng ở bậc đá trên cùng rất lâu, nhìn xuống mặt sông đen. Tiếng nước vỗ nhẹ vào chân bậc đá. Xa xa, một con chó ở xóm chài sủa mấy tiếng rồi im. Ông nói chậm, đủ cho Khải ghi trọn.
- Ghi biên bản khám lại. Két mở bằng chìa, cả hai chìa còn nguyên. Cửa sau không bị phá, then rút từ trong. Chủ tiệm chỉ mở cửa sau ban đêm cho khách nợ quen mặt. Có vệt bùn hướng từ cửa sau xuống mặt nước. Người tới tiệm đêm ấy không đi đường bộ vào như một kẻ trộm. Hắn tới bằng thuyền, được chủ tiệm mở cửa đón vào, và rời đi cũng bằng đường sông.
Lâm Ngọc Phân nghe tới đó thì bật khóc, lần này không nén được nữa.
- Bẩm đại nhân, vậy là nhà tôi tin người ta. Ông ấy mở cửa cho người ta vào nhà mình.
- Phu nhân, đêm nay phu nhân đã giúp chồng mình một việc lớn. Những điều phu nhân vừa nói, ta sẽ cho chép thành lời khai riêng, có điểm chỉ đàng hoàng. Từ giờ, ai hỏi, phu nhân cứ nói đúng như vừa nói với ta. Đừng thêm, đừng bớt.
Thiết Ngưu dìu bà ra cửa hông, dặn người của phủ đưa bà về nhà sau bằng lối kín. Tiệm lại chỉ còn ba người. Khải niêm phong lại cửa tiệm, ghi giờ đóng niêm phong mới. Đêm đã sâu, mà việc mới chỉ xong lớp đầu tiên.
Cố Minh Đức bước xuống bậc đá một bước, rồi dừng lại, nhìn mặt nước tối om nơi vệt bùn biến mất. Giọng ông trầm xuống, lạnh và rõ như một dòng biên bản cuối cùng của chương này.
- Hung thủ không đi đường bộ vào. Hắn tới bằng thuyền, và chủ tiệm tự mở cửa cho hắn.