THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 22: Ba Nhát Đâm Của Tay Trái

Từ tiệm họ Ngô quay về phủ, đồng hồ đã gần nửa đêm. Đêm hai mươi bảy bước sang ngày hai mươi tám tháng tám trong im lặng, chỉ có tiếng mái chèo của người…

Nội dung chương

Từ tiệm họ Ngô quay về phủ, đồng hồ đã gần nửa đêm. Đêm hai mươi bảy bước sang ngày hai mươi tám tháng tám trong im lặng, chỉ có tiếng mái chèo của người tuần sông xa dần trên Thanh Khê. Trần Văn Khải ôm sổ làm việc đi sau Cố Minh Đức, trong đầu còn nguyên vệt bùn ở bậc đá sau tiệm và câu nói về chiếc thuyền. Nhưng Cố Minh Đức không cho đoàn nghỉ. Ông ra lệnh miệng ngay khi bước vào sân phủ.

- Tới nhà quàn. Đêm nay phải khám lại thi thể trước khi trời sáng. Để tới sáng, mọi việc sẽ khó thêm một bậc.

Nhà quàn nằm sau phủ, là gian nhà thấp lợp ngói âm, quanh năm lạnh và thoang thoảng mùi hương liệu giữ thi thể. Thi thể Ngô Đức Tài đã quàn ở đó mười lăm ngày, theo lệ phải chờ án kết thúc mới được chôn. Ngày nào Lâm Ngọc Phân cũng cho người mang hương tới, nhưng không ai trong phủ còn nhắc tới việc khám lại, vì biên bản đầu tiên đã có chữ ký của ngỗ tác Ngô Thế Xương và án đã tuyên tử hình.

Người khám đêm nay không phải Ngô Thế Xương. Cố Minh Đức đã cho gọi ngỗ tác của phủ, người vẫn khám các vụ án thường của phủ đường, tới bằng lệnh miệng, không qua phòng văn thư. Ông ta tới nơi với hộp đồ nghề bọc vải dầu, mặt còn ngái ngủ nhưng vừa thấy tri phủ đứng chờ trong nhà quàn thì tỉnh hẳn. Triệu Thiết Ngưu đứng ở cửa làm chứng, đèn dầu được thắp đủ sáng mà không phô trương, rèm cửa buông kín.

Cố Minh Đức nói rõ từng điều trước khi bắt đầu.

- Đêm nay khám lại từ đầu. Không đọc biên bản cũ trước. Khám xong, nói điều ông thấy. Đúng sai ông ký tên chịu trách nhiệm trước mặt ta.

Ngỗ tác vâng dạ, mở hộp đồ, rửa tay bằng nước ấm pha rượu, rồi cùng người phụ việc lật tấm vải phủ. Khải đứng ở án ghi chép kê sát vách, bút đã chấm mực, lòng bàn tay ướt mồ hôi dù nhà quàn lạnh. Hắn đã chép biên bản khám đầu tiên mười lăm ngày trước. Hắn nhớ từng dòng chữ trôi chảy trong biên bản ấy. Đêm nay, mỗi dòng chữ ấy sẽ bị đặt lại dưới ánh đèn.

Thi thể đã qua mười lăm ngày, da đổi màu, nhưng ba vết đâm trên vai phải, cánh tay trái và sườn trái vẫn còn đọc được. Ngỗ tác dùng nước ấm lau sạch quanh miệng vết và lấy que trúc mảnh thăm độ sâu, hướng xiên của từng vết. Ông làm rất chậm. Mỗi lần thăm xong một vết, ông dừng lại, nhìn hướng nghiêng của que, nhìn mép da bị xé, rồi mới đọc cho Khải ghi.

- Vết thứ nhất, ở vai phải, nông hơn hai vết sau, hướng đâm từ trước chếch xuống. Vết này trúng lúc nạn nhân còn đứng, chưa đủ làm chết ngay.

Khải ghi. Ngỗ tác chuyển sang vết thứ hai ở cánh tay trái, rồi tới vết thứ ba ở sườn trái, vết mà biên bản cũ cũng ghi là vết nặng nhất. Ở vết này, ông dừng lại lâu nhất. Ông thăm đi thăm lại hai lần, đổi góc đèn, gọi Thiết Ngưu cầm đèn sát hơn, rồi mới nói, giọng chắc và khô.

- Vết chí mạng ở sườn trái. Hướng đâm từ trước và từ phía phải của nạn nhân chếch sang trái, đi xuống. Miệng vết xé rộng về phía dưới trái. Vết xé như vậy chỉ thành hình khi lưỡi dao đi vào rồi rút ra theo đà của một cánh tay đâm từ phía đối diện, tay trái vung qua thân người.

Phòng quàn im tới mức Khải nghe rõ tiếng bấc đèn cháy. Ngỗ tác nói tiếp, lần này nhìn thẳng về phía Cố Minh Đức.

- Bẩm đại nhân, ba vết đều cùng một hướng tay. Người đâm đứng đối diện nạn nhân, đâm bằng tay trái. Nếu đâm bằng tay phải, miệng vết chí mạng phải xé ngược lại, hướng đi cũng phải ngược lại. Đây không phải tay phải.

Cố Minh Đức hỏi lại một câu duy nhất.

- Ông chắc tới đâu?

- Bẩm, hạ chức ký tên vào biên bản mới này. Nói sai một chữ, xin chịu tội trước công đường.

Ông ký thật. Chữ ký run ở nét đầu vì tay lạnh, nhưng nét cuối ấn mạnh xuống giấy. Biên bản khám lại được lập ngay trong đêm, ghi rõ giờ khám từ cuối giờ Tí sang đầu giờ Sửu, người khám, người chứng kiến, người ghi chép, và kết luận lật ngược biên bản cũ: ba nhát đâm của một người thuận tay trái.

Khải lật lại bản sao biên bản cũ trong sổ làm việc. Dòng chữ do chính tay hắn chép ngày ấy vẫn còn đó, ghi hướng vết chí mạng từ trái sang phải, khớp vừa vặn với một hung thủ thuận tay phải. Hắn đọc lại đoạn mô tả vết thương ở phần trên của cùng biên bản, đoạn mô tả hình dạng miệng vết, thì thấy ngay điều mà mười lăm ngày qua không ai chịu nhìn. Phần mô tả vết thì nói một đằng, phần kết luận hướng đâm lại chép một nẻo. Ngô Thế Xương hoặc đã cẩu thả tới mức ghi ngược điều mắt mình vừa thấy, hoặc đã cố ý ghi ngược cho khớp với một hung thủ đã được chọn sẵn.

Trước khi cho lập biên bản, Cố Minh Đức bắt ngỗ tác làm thêm một việc mà đoàn khám đầu tiên chưa từng làm. Ông cho gọi người phụ việc đứng đối diện thi thể, cầm con dao găm tập bằng gỗ của nhà quàn, thử đâm mô phỏng theo hai cách. Tay phải đâm trước: lưỡi gỗ đi vào theo hướng chéo quen thuộc của người thuận tay phải, miệng vết giả trên tấm vải tập xé về một phía. Tay trái đâm sau: đà vung qua thân, cổ tay phải gập lại mới đưa được lưỡi vào đúng độ sâu của vết chí mạng, và vết xé trên vải đổi hẳn sang phía còn lại, khớp với vết xé trên sườn trái của nạn nhân. Thiết Ngưu nhìn hai vết xé trên vải đặt cạnh nhau, mặt sầm lại.

- Bẩm, khác nhau rõ như ban ngày. Biên bản cũ ghi ngược hướng của nhát chí mạng.

Ngỗ tác cũng ghi cả việc mô phỏng này vào phụ lục biên bản, ghi rõ dao gỗ, vải tập, người làm chứng, để sau này ra công đường không ai nói đoàn khám lại chỉ đoán bằng miệng. Khải chép phụ lục chậm hơn cả biên bản chính, vì hắn hiểu từ đêm nay trở đi, mỗi chữ trong hồ sơ phúc tra sẽ bị người của Đề đốc bới ra tìm chỗ hở. Chép thiếu một dòng về cách khám, là để cho đối phương một cửa lật lại cả biên bản.

Cố Minh Đức còn hỏi về hai nhát còn lại, vì sao chúng nông sâu khác nhau mà vẫn kết luận cùng một tay. Ngỗ tác đáp rành rọt: nhát đầu nạn nhân còn đứng và còn giãy, nên vết nông và lệch nhẹ. Nhát thứ hai nạn nhân đã khuỵu, khoảng cách gần lại, vết sâu hơn. Nhát thứ ba là nhát kết thúc khi nạn nhân đã mất sức chống, người đâm đứng yên vị trí, dồn hết đà tay trái vào một lần. Sự khác nhau ấy, theo lời ông, lại càng chứng tỏ cả ba nhát do một người, một tay, trong một mạch ra tay liền, không phải hai người thay nhau, cũng không phải một người vụng về đổi tay giữa chừng.

Cố Minh Đức không kết tội ngỗ tác cũ trong đêm nay. Ông chỉ nói.

- Ghi riêng một dòng. Biên bản cũ tự mâu thuẫn: mô tả vết thương và kết luận hướng đâm không khớp nhau. Người ghi sai sẽ phải trả lời sau. Đêm nay ta chỉ giữ điều đã khám lại được.

Điều đã khám lại được, đặt cạnh những gì đoàn vừa nghe ở cổng lao mấy giờ trước, bỗng thành một bức tường không thể trèo qua. Ở cổng lao, Vương Tú Anh đã nói trước mặt tri phủ và bộ đầu: Trần Đại Trụ thuận tay phải tuyệt đối. Chồng bà gánh đòn gánh bằng vai phải, bổ củi bằng tay phải, lảy cá bằng tay phải. Vết chai trên tay phải của ông dày gấp đôi tay trái, là vết chai của mười mấy năm gánh thuê, không phải thứ có thể giả ra trong một đêm. Một người như thế, nếu cầm dao đâm người đối diện trong cơn hoảng loạn, vết đâm phải mang dấu tay phải, vụng, lệch, không thể thành ba nhát đều đặn cùng hướng tay trái như trên thi thể này.

Thiết Ngưu, người từ đầu chỉ đứng chứng kiến, lúc này mới lên tiếng khẽ.

- Bẩm đại nhân, thuộc hạ từng xem tay Đại Trụ lúc bắt ở bến. Tay phải hắn chai sần, ngón tay thô. Tay trái nhỏ hơn hẳn. Người như hắn có muốn đâm tay trái cũng không đâm nổi ba nhát sâu đều như vậy.

Cố Minh Đức gật đầu, rồi quay sang Khải.

- Đối chiếu cho đủ trong sổ. Một bên là biên bản khám lại ký tên đêm nay. Một bên là thói quen tay phải đã có nhân chứng là vợ tử tù, có vết chai làm bằng. Hai thứ để cạnh nhau, không cần thêm lời kêu oan nào nữa.

Khải ghi, và khi ghi tới dòng vết chai tay phải dày gấp đôi tay trái, hắn bỗng nhớ lại bàn tay của Đại Trụ trong lao tối hôm trước, bàn tay bị xích vẫn cố chắp lại lạy tri phủ. Bàn tay ấy đã gánh hàng nuôi vợ con mười mấy năm. Bàn tay ấy không giết người ở tiệm họ Ngô.

Ngoài nhà quàn, trời vẫn tối đen, giờ Sửu đã bắt đầu. Cố Minh Đức đứng dậy, vịn nhẹ vào mép án ghi chép một nhịp rất ngắn rồi buông ra. Khải thấy, nhưng không dám đỡ, vì ông đã nhìn hắn bằng ánh mắt dặn trước: đừng làm lớn chuyện sức khỏe của ta trong lúc việc đang chạy. Ông cất biên bản mới vào tay áo, bản sao giao Khải giữ trong hộp hồ sơ làm việc, niêm phong miệng hộp ngay tại chỗ.

Ông nói câu chốt của đêm khám, giọng không cao, mà Khải biết câu ấy sẽ còn được nhắc lại trước công đường.

- Từ giờ, vụ án này không còn là chuyện tin hay không tin lời kêu oan. Nó là chuyện bàn tay.

Trên đường từ nhà quàn về thư phòng, Khải mở sổ làm việc, lật lại trang biên bản cũ do chính tay mình chép mười lăm ngày trước. Dưới ánh đèn lồng của Thiết Ngưu, hắn đọc lại dòng chữ ghi hướng đâm sai, và lặng lẽ gạch một nét mực dưới dòng chữ đó. Nét gạch không xóa chữ cũ. Nó giữ chữ cũ lại, để ngày ra công đường, ai cũng thấy chữ sai đã từng nằm ở đó, và đã từng suýt lấy mạng một người vô tội như thế nào.

Chương khác

Xem thêm