THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 20: Chiếc Áo Không Dính Máu

Tin tri phủ đích thân vào lao lúc nửa đêm lan ra khỏi dãy lao nhanh hơn cả lệnh miệng của ông. Nó đến tai Vương Tú Anh bằng con đường của những người…

Nội dung chương

Tin tri phủ đích thân vào lao lúc nửa đêm lan ra khỏi dãy lao nhanh hơn cả lệnh miệng của ông. Nó đến tai Vương Tú Anh bằng con đường của những người nghèo: một người gánh nước thuê cho phủ về thôn kể lại, vợ người ấy kể cho hàng xóm, hàng xóm chạy sang nhà họ Trần trong đêm. Khi hai thầy trò Cố Minh Đức và Trần Văn Khải ra tới cổng lao thì Vương Tú Anh đã quỳ ở đó từ lúc nào, áo ướt sương đêm, con gái không đi theo vì bà bắt nó ở nhà với bà ngoại. Bà quỳ một mình trên nền đá lạnh, trán đã sưng vì dập đầu vào cổng đóng kín.

- Bẩm đại nhân. - Bà khóc ngay khi thấy bóng người. - Cho con gặp chồng con một lần. Một lần thôi, trước ngày mai.

Cố Minh Đức không cho lính mở cổng lao vào giờ này, vì lệ lao không cho phép và vì ông không muốn một cuộc gặp gỡ trong nước mắt phá vỡ mạch phúc tra đang chạy. Nhưng ông cũng không để người đàn bà ấy quỳ ngoài sương nữa. Ông bảo Mã Cửu đưa bà vào sân trong của dãy lao, nơi có mái hiên và một chiếc ghế dài của lính gác, cho bà ngồi đó mà thưa chuyện. Đó là lần đầu tiên trong mười sáu ngày, Vương Tú Anh được bước qua cánh cổng mà bà đã quỳ mòn nền đá bên ngoài.

- Bà đứng dậy, ngồi xuống, nói chậm. - Ông nói. - Đêm nay ta nghe. Nhưng ta nghe việc, không nghe khóc. Bà biết điều gì về chồng bà mà hồ sơ không có, nói điều ấy.

Vương Tú Anh lau mặt, cố nén tiếng nức. Những điều bà nói sau đó là những điều chỉ một người vợ nằm cạnh một người đàn ông mười mấy năm mới biết, và cũng là những điều mà cả bộ máy xử án của phủ chưa từng buồn hỏi một người vợ.

- Bẩm đại nhân, chồng con thuận tay phải. - Bà nói. - Thuận tới mức vụng. Gánh đòn gánh thì chỉ gánh vai phải, vai trái gánh một lúc là tuột. Bổ củi ở nhà, tay phải cầm rìu, tay trái chỉ giữ củi. Lảy cá ở bến, con dao lảy nằm trong tay phải. Đại nhân cứ hỏi cả bến Vãn Độ, ai thấy chồng con làm việc bằng tay trái bao giờ chưa. Vết chai trên tay phải của nó dày gấp đôi tay trái, mười mấy năm gánh thuê nó thế. Một người như thế, bảo nó cầm dao đâm người bằng tay trái giữa đêm tối trong một cái tiệm nó chỉ quen đường đi ở sân trước, con không tin, cả làng con không ai tin.

Khải mở sổ làm việc, ghi lại từng ý. Chàng nhớ biên bản khám nghiệm còn đang cãi nhau với chính nó về hướng của nhát đâm chí mạng ở sườn trái của nạn nhân. Nếu nhát đâm ấy, như hình dạng vết thương gợi ra, là nhát đâm của một người thuận tay trái đứng đối diện, thì đôi tay chai của Trần Đại Trụ sẽ là một thứ nhân chứng không biết nói dối. Miễn là có người chịu nhìn chúng trước khi đao rơi.

Rồi Vương Tú Anh nói tới chiếc áo.

- Bẩm đại nhân, sáng mười ba, khi nghe tin chồng con bị bắt ở bến, con chạy từ thôn lên, tóc còn chưa kịp búi. Con tới nơi thì lính lệ đang giũ chiếc áo nâu của chồng con ra trước mặt đám đông ở bến để tìm tang vật. Con đứng ngay đó. Con nhìn rõ lắm. Trên áo chỉ có mồ hôi khô và bụi bến, vệt nào vệt ấy con nhận ra được, vì áo ấy con vá cho nó hai lần. Không một vết máu. Không một giọt nào hết.

- Bà có chắc không? - Cố Minh Đức hỏi. - Giữa đám đông, lúc hoảng loạn, người ta hay nhìn lầm.

- Bẩm, con chắc bằng mạng con. - Bà đáp, giọng bỗng cứng lại lạ lùng giữa cơn khóc. - Vợ nhìn áo chồng mười mấy năm, không lầm được. Mà lính lệ hôm ấy cũng nhìn thấy như con, dân bến cũng nhìn thấy. Trong biên bản bắt giữ, người ta chép chồng con vừa gây án xong. Vừa đâm người ba nhát xong mà áo sạch như áo người ngủ dậy, thì cái biên bản ấy chép cho ai xem, bẩm đại nhân?

Câu hỏi ấy treo trong sân lao tối. Không ai đáp thay được cho bộ hồ sơ đã đóng triện kia.

Khải đối chiếu ngay tại chỗ, lật bộ hồ sơ làm việc trong tay. Biên bản khám nghiệm ghi rõ: nạn nhân bị đâm ba nhát, vết thương sâu, máu ra rất nhiều quanh quầy hàng. Một hung thủ vừa đâm một người ba nhát ở cự ly gần, trong một tiệm chật, lúc nạn nhân còn giãy giụa, không thể nào giữ chiếc áo sạch tới mức lính lệ phải chê là chỉ hôi mồ hôi. Và thêm một điều nữa mà tới đêm nay chàng mới nối lại được: con dao nhà bếp thu được bên cạnh Đại Trụ khi bắt giữ, thứ được ghi là hung khí. Theo biên bản kiểm kê, nó lại khô máu một cách kỳ lạ so với một con dao vừa gây ra ba vết thương như thế. Khô, như nó được đặt vào hiện trường sau khi mọi việc đã xong, để làm một thứ bằng chứng cho người ta nhìn thấy.

- Đại nhân. - Khải thưa khẽ. - Áo không máu, dao cũng không đủ máu. Hai thứ ấy đi với nhau.

Cố Minh Đức gật đầu, rồi tự tay ghi cả hai điểm vào cuốn sổ làm việc, chữ viết chậm và nặng tay hơn thường lệ, như người khắc chữ lên đá chứ không phải viết lên giấy.

- Ghi vào. - Ông nói. - Một, Trần Đại Trụ thuận tay phải tuyệt đối, có cả bến làm chứng bằng thói quen mười mấy năm. Hai, áo mặc đêm gây án không dính máu, có vợ hắn và dân bến tận mắt thấy lúc bị bắt. Ba, con dao thu được khô máu không khớp với ba nhát đâm trong biên bản khám nghiệm.

Ông ngẩng lên nhìn Vương Tú Anh, người đàn bà vẫn ngồi co ro trên ghế dài của lính gác, hai tay ôm chặt vào nhau cho đỡ run vì sương và vì sợ.

- Bà về thôn đi. - Ông nói. - Đêm còn dài, đường tối. Ta không hứa với bà điều gì về ngày mai, vì lời hứa của quan không nằm ở miệng, nó nằm ở việc làm được hay không. Nhưng ta nói một điều chắc chắn: hồ sơ của chồng bà, từ đêm nay, không còn nằm im trong phòng niêm phong nữa. Nó đã có người đọc, đọc từng dòng.

Vương Tú Anh quỳ xuống lạy ông ba lạy giữa sân lao rồi mới chịu để Mã Cửu cho người đưa ra cổng sau. Bóng bà khuất vào đường tối về thôn, nhỏ và lặng, không còn tiếng khóc lớn như những ngày quỳ ở cổng phủ nữa. Có lẽ vì lần đầu tiên sau mười sáu ngày, bà được một người có quyền nghe hết câu chuyện của nhà mình mà không cắt lời.

Trên đường từ sân lao về phòng trực, Khải đi sau đại nhân nửa bước, đầu còn quay cuồng với những điều vừa ghi. Chỉ trong một đêm, vụ án trong hồ sơ và vụ án ngoài đời đã tách ra thành hai vụ khác nhau hẳn. Trong hồ sơ, hung thủ lảng vảng gần tiệm lúc nửa đêm, đâm người, cướp két, bị bắt tại trận với tang vật đầy đủ. Ngoài đời, một người đàn ông thuận tay phải ngủ gục ở hiên bến, nghe tiếng chó sủa một tràng rồi im, tỉnh dậy với một túi tiền lạ nằm cạnh và một chiếc áo sạch không một vết máu. Hai vụ án ấy không thể cùng đúng một lúc. Một trong hai phải là giả, và chàng thư lại biết rõ bộ hồ sơ có triện đỏ đang đứng về phía nào, còn sự thật thì vừa mới bắt đầu có người chịu đứng về phía nó từ đêm nay.

Chàng cũng nhận ra thứ tự việc của đại nhân không hề ngẫu nhiên. Vào lao nghe người tử tù trước, nghe vợ người tử tù sau, rồi mới ra hiện trường: đó là thứ tự của một người muốn dựng lại đêm mười hai bằng trí nhớ của những người lao động nghèo trước. Rồi mới đem trí nhớ ấy ra đối chiếu với gạch đá, cửa nẻo và vết bùn ở tiệm họ Ngô. Giấy tờ đã nói dối một lần rồi. Đêm nay, đại nhân không để giấy tờ dẫn đường nữa.

Trống canh ngoài phố điểm giờ mới, giờ Hợi sắp qua, đêm phúc tra đã đi gần hết nửa đầu của nó. Cố Minh Đức đứng dậy khỏi ghế trong phòng trực lao, định nói việc tiếp theo, thì người ông bỗng chao đi một nhịp rất nhẹ. Ông vịn ngay vào cạnh án, bàn tay già nắm chặt mép gỗ, đứng yên hai nhịp thở, sắc mặt tái đi dưới ánh đèn rồi hồng lại dần. Khải giật mình bước tới đỡ, ông giơ tay kia ngăn lại.

- Không sao. - Ông nói. - Đứng dậy nhanh quá thôi.

Nhưng Khải đã nhìn thấy bàn tay đang nắm mép án của ông. Nó lạnh. Chàng biết nó lạnh không phải vì nhìn, mà vì lúc bước tới, mu bàn tay chàng chạm khẽ vào tay ông và giật mình vì cái lạnh ấy không giống lạnh của sương đêm trên da người sống khỏe mạnh. Nó là cái lạnh từ bên trong, cái lạnh mà Lương Thanh Hư đã gọi bằng hình ảnh ngọn đèn dầu sắp cạn. Đây là cơn choáng đầu tiên của một cơ thể đã bị điểm giờ chết, và nó tới đúng như giao kèo đã báo trước: giao kèo chỉ dời giờ chết, không cho ông thêm một chút sức nào để đi cho hết con đường của mình.

Cố Minh Đức thẳng người dậy, rút tay khỏi mép án, và nói tiếp câu mình vừa định nói như không có gì vừa xảy ra, chỉ có giọng là ngắn hơn, tiết kiệm từng chữ hơn:

- Đi. Tới tiệm họ Ngô.

- Bẩm đại nhân, giờ này tiệm còn niêm phong, ra bến phải qua cổng sau.

- Thì qua cổng sau. Đêm nay ta phải nhìn hiện trường bằng mắt mình, trước khi trời sáng, và trước khi tin phúc tra lọt ra ngoài phủ.

Hai thầy trò rời dãy lao, đèn lồng đi trước, bóng của họ đổ dài trên sân phủ vắng về phía cổng sau đang mở hé. Nơi ấy Triệu Thiết Ngưu đã đứng chờ sẵn trong bóng tối với thanh đao đeo yên bên hông, không hỏi một câu nào về việc mình sắp làm.

Chương khác

Xem thêm