THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 19: Người Tử Tù Kể
Cửa lao mở ra vào giờ Hợi, khi đêm hai mươi bảy tháng tám đã sâu và cả dãy lao chỉ còn một ngọn đèn dầu của lính gác. Mã Cửu đi trước, tay xách đèn, tra…
Nội dung chương
Cửa lao mở ra vào giờ Hợi, khi đêm hai mươi bảy tháng tám đã sâu và cả dãy lao chỉ còn một ngọn đèn dầu của lính gác. Mã Cửu đi trước, tay xách đèn, tra chìa vào từng ổ khóa bằng động tác thuộc lòng của ba mươi năm. Trần Văn Khải đi giữa, ôm bộ hồ sơ làm việc trước ngực. Cố Minh Đức đi sau cùng, bước chậm mà chắc, quan phục đã thay bằng áo tối màu cho đỡ vướng mắt người trong lao.
Buồng giam của Trần Đại Trụ ở cuối dãy. Nó hẹp, thấp, tường đá ẩm, chỉ có một lỗ thông hơi cao ngang đầu người và một chiếc chiếu rách trải trên nền đất. Người tử tù ngồi trên chiếu, xiềng chân khóa vào một khoen sắt ở góc tường, ngẩng lên khi ánh đèn lọt qua chấn song. Mười sáu ngày trong lao đã lấy đi của ông ta gần hết vẻ khỏe mạnh của một người gánh thuê: má hóp, râu mọc lởm chởm, mắt trũng sâu. Nhưng điều làm Khải nhớ nhất sau này là cái giật mình đầu tiên của ông ta: ông ta co rúm lại, hai tay ôm đầu, miệng lắp bắp:
- Chưa tới ngày mà. Quan lớn ơi, chưa tới ngày hai mươi tám mà.
Ông ta tưởng người của phủ tới sớm để giải mình ra pháp trường trong đêm.
- Không ai giải ngươi đi đâu đêm nay. - Cố Minh Đức nói. - Ngồi yên. Ta là tri phủ của phủ này. Ta tới để nghe ngươi nói.
Đại Trụ nhìn ông trân trân, như không tin vào tai mình. Mười sáu ngày qua, người vào buồng giam này chỉ có lính gác mang cơm, trưởng lao tra khóa, và một lần quan phó tri phủ đứng ngoài chấn song hỏi đúng ba câu rồi đi. Chưa từng có ai nói với ông ta hai chữ để nghe.
Cố Minh Đức bảo Mã Cửu đặt một chiếc ghế thấp vào trong buồng, ngay trước mặt người tử tù, rồi ông ngồi xuống. Ghế thấp, người ngồi xuống ngang tầm với người ngồi trên chiếu. Một tri phủ ngồi ngang tầm một tử tù trong buồng giam của chính mình, vào giờ Hợi của đêm trước ngày hành hình. Khải đứng ghi chép bên cạnh, biết rằng cảnh này nếu lọt ra ngoài, nó sẽ làm cả phủ xôn xao hơn bất cứ tờ lệnh nào.
- Kể lại đêm mười hai cho ta nghe. - Ông nói. - Từ đầu. Chậm thôi. Ngươi nhớ gì nói nấy, không nhớ thì nói không nhớ. Đêm nay không ai cắt lời ngươi.
Đại Trụ nuốt khan, hai bàn tay chai sần xoắn vào nhau trong lòng. Rồi ông ta kể, bằng trí nhớ của một người lao động, thứ trí nhớ không giữ được câu chữ đẹp nhưng giữ rất chắc những việc thuộc về thân thể và thói quen.
Ngày mười hai, ông ta gánh hai chuyến hàng cho một thuyền buôn từ bến Vãn Độ lên kho trên phố. Chuyến thứ hai xong lúc chạng vạng, vai phải ê ẩm như mọi ngày. Chuyến đò cuối về thôn đã rời bến. Ông ta tới tiệm họ Ngô, như nhiều lần lỡ đò trước đây, xin chủ tiệm cho ngủ nhờ ở hiên bến trước tiệm một đêm, sáng mai gánh chuyến hàng sớm trả công. Ông Ngô tính toán chi li là thế, nhưng với người gánh quen thì không hẹp: ông ta gật đầu, còn bảo trời có mưa nhỏ, ngủ thì kéo tấm chiếu cói vào sát mái hiên kẻo ướt.
- Bẩm quan lớn, ông Ngô còn sống lúc trời tối hẳn. - Đại Trụ nói. - Tiểu nhân thấy đèn trong tiệm tắt sớm hơn mọi ngày, còn nghĩ ông ấy mệt. Tiểu nhân nằm ở hiên bến, gối đầu lên tay nải, ngủ thiếp đi vì cả ngày gánh nặng.
- Rồi sao nữa?
- Bẩm, nửa đêm, tiểu nhân giật mình một lần vì tiếng chó. Con chó mực của tiệm, con chó dữ nhất bến này, người lạ đi qua hàng rào là nó sủa không thôi. Đêm ấy nó sủa đúng một tràng ngắn, rồi im bặt. Im rất nhanh, bẩm quan lớn, im như nó nhận ra người quen của nhà chủ nên thôi không sủa nữa. Tiểu nhân nằm nghe một lúc, không thấy động tĩnh gì, lại ngủ thiếp đi. Tiểu nhân làm nghề gánh, ngủ ở bến là thường, chó sủa một tràng không phải chuyện lạ.
- Ngươi có dậy đi đâu không?
- Bẩm, không. Tiểu nhân ngủ một mạch tới lúc trời chưa sáng, nghe tiếng người la ở tiệm mới tỉnh. Tỉnh dậy thì thấy bên cạnh mình có một túi vải lạ, nặng, tiểu nhân chưa kịp sờ vào thì lính lệ và dân bến đã ập tới. Người ta trói tiểu nhân ngay tại chỗ. Tiểu nhân kêu oan từ lúc ấy tới giờ, không ai nghe hết một câu.
Ông ta kể tới đó thì nước mắt trào ra, chảy qua hai gò má hóp và bộ râu lởm chởm. Người đàn ông ba mươi tám tuổi, vai rộng, tay to như hai cái quạt, khóc không thành tiếng trong buồng giam, chỉ có vai rung lên từng đợt.
- Quan lớn ơi. - Ông ta nói qua tiếng khóc. - Tôi mà giết người cướp của, tôi đã chạy từ lúc trời còn tối. Bến sông là nhà của tôi, tôi thuộc từng khúc cạn, chạy một đêm là qua khỏi đất này. Tôi ngủ lại ở đó, ngay cạnh tiệm, vì tôi không có gì phải chạy. Người có tội mới chạy. Tôi không có tội, tôi mới ngủ yên như thế được.
Cố Minh Đức nghe hết, không ngắt lời, không gật, không lắc. Ông chỉ ngồi yên, hai tay đặt trên đầu gối, mắt nhìn thẳng vào người tử tù như nhìn một bộ hồ sơ bằng xương bằng thịt mà cả phủ này đã kết luận khi chưa từng đọc tới nơi. Khi tiếng khóc của Đại Trụ đã nhỏ lại, ông mới hỏi, giọng rất khẽ:
- Áo ngươi mặc đêm ấy, lúc bị bắt, có dính máu không?
Đại Trụ ngẩng lên, lau mặt bằng ống tay áo tù đã bẩn.
- Thưa, không một giọt. Bẩm, lính trói tôi còn chê áo tôi hôi mồ hôi. Áo tôi mặc gánh hàng cả ngày, chỉ có mồ hôi với bụi bến. Nếu tôi đâm người, máu nó phải dính chứ, quan lớn. Ba nhát dao, máu ra đầy quầy như người ta kể, sao áo tôi sạch được?
- Con dao thu được bên cạnh ngươi thì sao?
- Bẩm, tiểu nhân chưa từng thấy con dao ấy. Dao nhà bếp của tiệm, người ta nói thế. Tiểu nhân gánh hàng thì có con dao lảy cá của mình, buộc ở tay nải, lính thu cả rồi. Con dao ở hiện trường không phải của tiểu nhân.
Trước khi Đại Trụ kể tới đoạn tiếng chó, Cố Minh Đức hỏi xen một câu về việc ăn uống và giấc ngủ trong lao mười sáu ngày qua, hỏi như một người già hỏi thăm kẻ dưới chứ không như quan hỏi cung. Đại Trụ đáp rằng cơm tù thì nuốt không nổi mấy hôm đầu, sau đói quá cũng ăn, đêm nào cũng mơ thấy con gái gọi cha ngoài cổng phủ mà giật mình tỉnh dậy ngồi tới sáng. Ông ta nói, điều làm ông ta sợ nhất không phải cái chết ngày mai, mà là sợ vợ con ở ngoài không biết đường nào mà sống khi mang tiếng là vợ con của kẻ giết người. Trong thôn, người ta đã tránh mặt nhà ông ta từ hôm có án. Con gái ông ta đi gánh nước bị trẻ con nhà hàng xóm ném đá. Những lời ấy không có trong bất cứ biên bản nào, và Khải nghe mà tay chép chậm lại. Chàng chợt hiểu rằng trong hồ sơ, Trần Đại Trụ chỉ là một cái tên dưới một bản án. Còn trong buồng giam này, ông ta là một người cha đang đếm ngược bằng những giấc mơ về con mình.
- Trong lao, có ai tới thăm ngươi không? - Đại nhân hỏi.
- Bẩm, không ai được vào. Vợ tiểu nhân quỳ ở cổng phủ nhiều ngày, tiểu nhân nghe lính gác nói lại. Tiểu nhân chỉ mong trước ngày mai được nhìn mặt vợ con một lần, chết cũng nhắm mắt. Nhưng tiểu nhân biết lệ không cho, nên không dám xin quan lớn.
Đại nhân im lặng một nhịp, rồi ra hiệu cho ông ta kể tiếp chuyện đêm mười hai, trở lại đúng mạch của một phiên phúc tra.
Khải chép từng câu, bút chạy nhanh trên giấy trong ánh đèn tù mù. Chàng nhận ra một điều mà biên bản lấy cung ngày trước không hề có: lời kể của Đại Trụ đêm nay ăn khớp từng chi tiết nhỏ với những gì đã nằm trong hồ sơ, từ tiếng chó sủa một tràng, tới hiên bến, tới tấm chiếu cói. Một người nói dối mười sáu ngày trong lao thường tự mâu thuẫn với chính mình ở những chi tiết nhỏ như thế. Người này không mâu thuẫn ở bất cứ chi tiết nào. Ông ta chỉ lặp lại, bằng đúng thứ tự của một đêm lao động mệt nhọc, và mỗi lần lặp lại, câu chuyện vẫn đứng yên một chỗ như một tảng đá giữa sông.
Cố Minh Đức đứng dậy. Ông bảo Mã Cửu, người đứng ngoài cửa buồng suốt buổi và đã nghe hết:
- Đêm nay hắn nói gì, ngươi quên hết cho ta. Sổ lao không ghi việc này.
- Bẩm đại nhân, hạ quan quên rồi. - Mã Cửu đáp, mắt nhìn xuống. - Ba mươi năm giữ lao, hạ quan học được một điều: có những đêm, người giữ lao chỉ nên nhớ việc khóa cửa cho chắc.
Ra khỏi dãy lao, sân phủ chìm trong tối, chỉ có đèn lồng của Khải là sáng. Hai thầy trò đi chậm qua sân. Hương âm trong thư phòng vẫn đang cháy ở phía xa, lọt qua khe cửa một vệt sáng xanh rất mảnh. Cố Minh Đức dừng lại giữa sân, nhìn về phía buồng giam tối om sau lưng, rồi nói với Khải một câu mà chàng ghi nhớ suốt đời.
- Một kẻ vừa đâm chết người ba nhát, két tiền đầy nhà, lại nằm ngủ lại ngay cạnh xác chết chờ người ta tới bắt. Con thấy kẻ giết người nào như thế chưa?
- Bẩm đại nhân, con chưa từng thấy. - Khải đáp.
- Ta xử án ba mươi mấy năm, ta cũng chưa. - Ông nói, rồi bước tiếp về phía cổng lao. - Đi. Ngoài cổng có một người nữa đang chờ được nghe từ mười sáu ngày nay.