THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 50: Đêm Hai Mươi Bảy Tháng Tám
Năm một ngàn chín trăm hai mươi lăm, chín năm sau buổi trưa tháng tám năm ấy, bến đò Vãn Độ vẫn là bến đò Vãn Độ. Sông Thanh Khê vẫn chảy qua trấn Chu…
Nội dung chương
Năm một ngàn chín trăm hai mươi lăm, chín năm sau buổi trưa tháng tám năm ấy, bến đò Vãn Độ vẫn là bến đò Vãn Độ. Sông Thanh Khê vẫn chảy qua trấn Chu Gia Giác theo đúng đường sông cũ, thuyền gỗ vẫn qua lại mỗi ngày, người gánh hàng vẫn tụ lại ở đầu bến mỗi buổi sớm để chờ mối. Chỉ có một điều đã khác, và khác tới mức những đứa trẻ sinh ra sau năm một ngàn chín trăm mười sáu không hề biết trấn này từng có một thời không có nó. Ở đầu bến, bên cạnh ngôi miếu Thành Hoàng cũ mái ngói đã thay mới hai lần, có một ngôi miếu khang trang nhang khói không dứt. Cả trấn đều gọi vị thần trong miếu ấy bằng một cái tên rất gần gũi, Thành Hoàng họ Cố.
Trần Văn Khải năm ấy ba mươi ba tuổi. Hắn đã làm thư lại chính của phủ trong nhiều năm sau ngày đại nhân mất, giữ án thư và sổ sách của phủ mới qua hai đời tri phủ. Rồi tới khi mắt bắt đầu mỏi vì những chồng hồ sơ chép tay, hắn xin rời phủ, về mở một lớp dạy chữ ở gần bến và giữ việc chép sách cho hội trấn. Người trong trấn không còn gọi hắn là thư lại Khải nữa. Trẻ con gọi hắn là thầy Khải. Người ở bến gọi hắn là ông thầy giữ miếu, vì việc coi sóc gian trong của miếu Thành Hoàng và bộ hồ sơ cất trong đó, từ ngày khánh thành miếu tới nay, vẫn là việc của hắn. Việc ấy do hội miếu giao và do chính hắn nhận lấy như một phần đời mình.
Câu chuyện về vị tri phủ chết trên ghế công đường, trong chín năm ấy, đã thành huyền tích chính thức của trấn. Nó được kể trong mọi lễ hội Thành Hoàng, được các cụ già ở bến kể cho đám trẻ con vào những đêm trăng, được người lái đò kể cho khách qua sông nghe trong lúc chờ nước. Mỗi người kể một khác. Có người thêm vào hai bóng người khổng lồ trên mái phủ. Có người thêm vào cơn mưa giữa trưa nắng. Có người nói tiếng búa cuối cùng làm rung cả chuông chùa ở đầu trấn. Khải nghe hết những dị bản ấy trong chín năm, chưa từng nổi giận, chưa từng ra mặt đính chính giữa đám đông. Hắn hiểu một câu chuyện sống trong lòng một trấn thì nó phải được phép lớn lên theo cách của người kể, như một cái cây ở đầu bến tự mọc thêm cành lá theo năm tháng.
Nhưng có một việc hắn giữ rất nghiêm, trong chín năm không hề thay đổi: mỗi khi có người xin hắn kể lại, hắn kể đúng sự thật mà hắn tận mắt thấy. Hắn không thêm một chi tiết ma quái nào ngoài những gì chính hắn đã chứng kiến trong thư phòng đêm hai mươi bảy và ở công đường trưa hai mươi tám tháng tám năm ấy. Và chính sự chừng mực ấy, lạ thay, lại làm người nghe lạnh gáy hơn mọi dị bản rùng rợn khác. Một câu chuyện được kể bởi người duy nhất còn sống đã nhìn thấy hai vị khách của âm ty, mà người ấy lại kể nó bình thản như kể một phiên xử bình thường. Người nghe tự hiểu rằng phần đáng sợ nhất của câu chuyện không cần phải thêm thắt gì nữa.
Ở bến, gia đình Trần Đại Trụ cũng đã đổi khác theo năm tháng. Đại Trụ nay bốn mươi bảy tuổi, tóc đã điểm bạc ở hai bên thái dương, vẫn làm nghề gánh đò và gánh hàng. Nay ông đã là người giữ mối hàng lớn nhất ở khúc bến dưới, được người trong trấn tin cậy giao cả những chuyến hàng quý. Vương Tú Anh mở một quán chè nhỏ ngay gần miếu, không xa chỗ quán của bà Tôn ngày trước. Người trong trấn vẫn nói đùa rằng uống chè ở quán của bà thì yên tâm, vì chủ quán là người biết rõ hơn ai hết cái giá của một lời nói ở bến đò này. Đứa con trai sinh vào mùa xuân năm một ngàn chín trăm mười bảy của họ nay đã tám tuổi, mang trong tên mình một chữ Đức. Nó chạy chơi ở sân miếu trong ngày hội như mọi đứa trẻ khác trong trấn. Nó chưa hiểu hết vì sao mỗi lần đi qua miếu, cha nó đều dừng lại thắp một nén hương và đứng yên lâu hơn những người khác một nhịp. Trần Tiểu Mễ, chị của nó, nay đã mười tám tuổi, giúp mẹ trông quán chè và dạy mấy đứa trẻ trong xóm học những chữ đầu tiên, thỉnh thoảng vẫn theo học thêm chữ ở lớp của thầy Khải vào những buổi tối ít khách.
Những đổi thay bình thường và lặng lẽ ấy, đối với Khải, chính là phần kết đẹp nhất của toàn bộ câu chuyện. Một vụ án tử hình, khi được xử đúng, không kết thúc ở một tiếng búa trong công đường. Nó kết thúc ở một quán chè mở ra ở bến, ở một đứa trẻ sinh ra đúng hẹn trong một ngôi nhà yên ấm, ở một người cha dừng lại thắp hương mỗi khi qua miếu. Nó cũng kết thúc ở chín năm trời không một ai trong trấn phải sống trong sợ hãi vì một lời khai có thể mua bằng mười đồng bạc nữa.
Trong lễ hội Thành Hoàng đầu năm một ngàn chín trăm hai mươi lăm, sau phần lễ chính ở miếu, một đám học trò của lớp dạy chữ và mấy thanh niên làm nghề ở bến vây quanh hắn ở khoảng sân trước miếu. Họ xin hắn kể lại chuyện thẻ bài như hắn đã kể nhiều năm trước cho lớp đàn anh của chúng. Lần này hắn kể trọn, từ đầu tới cuối, trong một buổi chiều dài.
Hắn kể từ đêm mười hai tháng tám, một chiếc thuyền nhỏ không đèn rời bến riêng của biệt viện Tùng Phong trong mưa nhỏ. Hắn kể về một người nông dân ngủ gục ở hiên bến bị gài một túi tiền một trăm hai mươi đồng bên cạnh người, trong túi có ba đồng tiền giả khắc một dấu thập lệch siêu nhỏ. Hắn kể về một phiên xử gấp kết án tử một người vô tội, về một bà bán chè nhận mười đồng để khai gian, về một lão chài thấy thuyền không đèn mà không ai tin. Hắn kể về một chiếc nhẫn ngọc được mang đi cầm vào sáng hôm sau lấy bốn mươi đồng dưới một cái tên giả. Hắn kể về ngày sinh nhật sáu mươi của một vị tri phủ, trọn một vòng hoa giáp. Hắn kể về đêm hôm ấy, trong thư phòng, khi một nén hương lạ được cắm lên án và một tấm lệnh bài đứng thẳng trên mặt gỗ phẳng không cần tựa vào đâu. Hắn kể về hai mươi bốn giờ chạy đua với một chiếc đồng hồ nước vô hình, về trang sổ nợ tám trăm đồng bị xé và được tìm lại trong bìa một cuốn sổ khác. Hắn kể về một bọc tang vật bị bắt quả tang ở chỗ nước xoáy, về một chủ tiệm cầm đồ bị giữ dọc đường không tới được công đường mà giấy tờ và ngọc vẫn tới được thay ông ta.
Và hắn kể về một buổi trưa, một công đường chật kín dân chúng, một người quản gia quỳ sụp xuống khai hết khi bị chính chủ của mình chối bỏ ngay trước đường. Hắn kể về một vị Đề đốc quay lưng bước ra khỏi sân phủ trong im lặng, và một tiếng búa gõ xuống lúc mười hai giờ năm mươi bảy phút, ba phút trước cuối giờ Ngọ, tuyên một người vô tội được sống.
Hắn kể tới đó thì dừng lại một lúc. Đám học trò im lặng. Một đứa nhỏ nhất trong bọn, mới mười tuổi, ngẩng lên hỏi hắn câu mà trẻ con trong trấn vẫn hỏi nhau khi nghe tới đoạn cuối của câu chuyện này.
- Thầy ơi, thế ông quan ấy có thành thần thật không?
Khải nhìn về phía gian giữa của miếu, nơi khói hương đang bay lên đều đặn sau một ngày lễ hội, và đáp bằng cách hắn vẫn đáp mọi câu hỏi khó nhất của học trò: nói đúng phần mình biết, và dừng lại ở đúng chỗ mình không biết.
- Phần thầy biết, là ông ấy chết trên ghế công đường ngay sau khi xử xong án, trước mặt cả trấn, và từ ngày ấy trấn này có một ngôi miếu, một lệ thắp hương, và một bộ hồ sơ chép rõ mọi việc. Phần còn lại, thầy đã thấy những gì thầy vừa kể cho các con nghe: hai bóng người và một tấm chiếu hoa, thoáng qua ở giữa sân, vào đúng lúc ấy. Thấy tới đâu, thầy kể tới đó. Tin tới đâu, là việc của mỗi người nghe.
Buổi chiều tàn dần. Đám thanh niên ở bến tản ra về với công việc của chúng, học trò chạy theo cha mẹ về nhà ăn cơm. Sân miếu vắng dần, chỉ còn lại tiếng nước vỗ vào mạn thuyền ở bến và tiếng mõ xa của một ngôi chùa nào đó trong trấn, như chín năm trước, như mười sáu năm trước, như mọi buổi chiều bình thường của Chu Gia Giác.
Tối hôm ấy không phải đêm hai mươi bảy tháng tám. Lễ hội đầu năm còn cách đêm ấy nhiều tháng. Nhưng cả trấn đều biết lệ riêng của Khải, lệ mà hắn giữ suốt chín năm qua không sót một năm nào và sẽ còn giữ tới khi nào hắn còn đi được tới miếu. Hằng năm, đúng đêm hai mươi bảy tháng tám âm lịch, hắn tới miếu một mình, thắp một nén hương lên án thờ Thành Hoàng, và đặt bên cạnh lư hương một tờ giấy trắng, không viết một chữ nào.
Năm nay, một đứa học trò nhỏ theo hắn tới tận cửa miếu trong đêm ấy, đứng ở ngoài sân nhìn vào. Khi hắn bước ra, nó hỏi câu hỏi mà suốt chín năm qua chưa một ai trong trấn hỏi hắn thành lời, dù nhiều người đã thắc mắc trong lòng.
- Thầy ơi, sao năm nào thầy cũng đặt một tờ giấy trắng? Người ta tới miếu thì viết sớ, viết lời cầu, viết tên tuổi. Thầy đặt giấy trắng thì thần đọc cái gì?
Khải khóa cửa gian ngoài của miếu lại, cầm tay đứa nhỏ đi xuống bậc thềm, hướng ra bến đò đang lên đèn trong đêm. Hắn đáp chậm rãi, như đáp một câu hỏi trong một bài học chữ nghĩa mà hắn đã suy nghĩ suốt chín năm mới tìm được lời lẽ đúng nhất.
- Vì hồ sơ của ông ấy, phần của chúng ta đã chép xong. Phần còn lại, ở nơi khác người ta tự chép.
Đứa nhỏ không hiểu hết, nhưng nó gật đầu và nhớ kỹ câu ấy. Nó nhớ như trẻ con trong trấn vẫn nhớ kỹ những câu nói của người lớn mà chúng sẽ chỉ hiểu hết khi đã lớn lên và tự mình trải qua một việc gì đó tương tự trong đời.
Nén hương trên án thờ miếu cháy hết trong đêm, tro rơi xuống lư đồng thành một lớp mỏng, lặng lẽ, không ai chứng kiến. Ngoài bến, chuyến đò khuya cuối cùng của ngày rời bờ. Người lái đò chèo chậm qua mặt sông Thanh Khê phẳng lặng, phẳng lặng như một trang giấy chưa ai viết, chở theo một ngày nữa của Chu Gia Giác sang bờ bên kia. Nơi ấy, ngày mai đang chờ, yên bình, sáng sủa, và không còn một người vô tội nào phải chờ một tiếng búa trong sợ hãi nữa.