THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 49: Bộ Hồ Sơ Thẻ Bài
Mùa xuân năm một ngàn chín trăm mười bảy, nửa năm sau buổi trưa tháng tám làm thay đổi cả trấn Chu Gia Giác. Trần Văn Khải dành những đêm dài sau giờ làm…
Nội dung chương
Mùa xuân năm một ngàn chín trăm mười bảy, nửa năm sau buổi trưa tháng tám làm thay đổi cả trấn Chu Gia Giác. Trần Văn Khải dành những đêm dài sau giờ làm việc ở phủ để viết cho xong một bộ hồ sơ. Bộ hồ sơ ấy hắn đã bắt đầu từ cuốn sổ tay ghi vội trong những ngày đầu tháng chín. Hắn nay là thư lại chính của phủ mới. Vị tri phủ mới tới nhậm chức vào cuối thu năm trước là một người cẩn thận và công bằng theo cách của ông ta. Ông ta đã đọc biên bản hội thẩm ngày hai mươi tám tháng tám ngay trong tuần đầu tiên. Sau khi đọc xong, ông ta giữ Khải lại ở án thư, giao cho hắn giữ toàn bộ sổ sách cũ của phủ, với một lời dặn ngắn: người chép ra biên bản ấy thì nên là người giữ hồ sơ của phủ này.
Bộ hồ sơ Khải viết trong những đêm xuân không phải là hồ sơ chính thức của phủ. Hồ sơ chính thức đã gửi lên tỉnh từ chiều hai mươi chín tháng tám cùng tấu chương của người đã khuất, và bản sao của nó nằm trong tủ hồ sơ của phủ mới, có triện, có số, có người chịu trách nhiệm. Bộ hồ sơ này là một việc riêng của hắn: một bản chép đầy đủ, từ đầu tới cuối, của toàn bộ vụ án Ngô Đức Tài và hai mươi bốn giờ cuối cùng của Cố Minh Đức. Nó được chép bằng chính tay hắn, theo đúng thứ tự thời gian, kèm theo mọi vật chứng, mọi lời khai, mọi giờ giấc mà hắn đã tận mắt chứng kiến. Hắn đặt tên cho nó ngay từ trang đầu tiên, bằng nét chữ cẩn thận nhất của mình.
Thẻ Bài Vô Thường.
Mở đầu bộ hồ sơ, trước cả phần kể về đêm thuyền không đèn, hắn chép một câu dặn của người đã khuất. Đó là câu mà đại nhân đã nói với hắn trong một buổi chiều rất lâu trước vụ án, khi hắn còn là một thư lại trẻ hay chép nhanh cho kịp giờ tan phủ.
- Hồ sơ tử hình, chữ nào cũng là một mạng người. Chép chậm thôi.
Hắn chép câu ấy nguyên văn, để nó đứng ở trang đầu như một lời răn cho bất cứ ai sau này mở bộ hồ sơ này ra đọc, ở phủ, ở miếu, hay ở bất cứ nơi nào khác. Dưới câu dặn ấy, hắn bắt đầu chép từ đêm mười hai tháng tám, và chép suốt nhiều đêm liền. Có những đêm hắn chỉ được vài trang vì hắn phải dừng lại đối chiếu từng con số với hồ sơ gốc: tám trăm đồng tiền nợ, một ngàn hai trăm sáu mươi đồng trong két bị lấy, một trăm hai mươi đồng trong túi tiền gài. Ba đồng tiền giả có dấu thập lệch, bốn mươi đồng cầm chiếc nhẫn ngọc, mười đồng mua một lời khai gian. Những con số ấy, hắn thuộc lòng như thuộc tên người nhà, nhưng hắn vẫn đối chiếu từng con số một, vì đó là cách đại nhân đã dạy hắn làm việc với một mạng người.
Có một đêm, khi chép tới phần đêm phúc tra ở nhà quàn, phần khám lại tử thi và lật biên bản cũ ghi ngược hướng vết thương, Khải phải dừng bút rất lâu. Hắn nhớ lại bàn tay lạnh dần của đại nhân trong những giờ ấy. Hắn nhớ lại hai lần ông suýt ngã trong suốt hai mươi bốn giờ mà vẫn nhất quyết không cho ai dìu trước mặt người ngoài. Hắn nhớ lại câu ông nói với Lương Thanh Hư khi từ chối mọi phép xin thêm giờ: việc của người sống phải xong bằng tay người sống. Hắn chép những chi tiết ấy vào hồ sơ của mình không phải để làm cho câu chuyện thêm ly kỳ. Ngược lại, hắn chép chúng để người đọc sau này hiểu rõ một điều cốt lõi của toàn bộ việc này: trong hai mươi bốn giờ ấy, không có một phép màu nào tìm ra chứng cứ thay cho con người. Mọi manh mối đều do người sống, bằng mắt, bằng tay, bằng hồ sơ và bằng lòng can đảm của những nhân chứng bình thường nhất, tìm ra từng mảnh một. Trong khi đó, một ông quan già đi dần về phía cái chết của chính mình mà không hề chậm lại một bước.
Hắn cũng chép, rất cẩn thận, phần về Lỗ Phúc. Người quản gia ấy vẫn đang bị giam riêng chờ xử theo lệnh của tỉnh, còn sống, còn được ăn cơm tù đàng hoàng mỗi ngày, và lời khai tự thú của hắn vẫn nằm trong hồ sơ như một mắt xích không thể thay thế. Khải chép một ghi chú nhỏ bên lề: người này có tội, và cũng là người, vào phút cuối, đã chọn nói thật trước cả trấn khi chủ của hắn chối bỏ hắn ngay tại đường. Việc lượng hình cho hắn là việc của tỉnh đường, không phải việc của người chép hồ sơ, và hắn để trang giấy ấy trắng ở phần kết luận, như để dành cho một phán quyết không thuộc về mình.
Trong cùng mùa xuân ấy, các công văn từ tỉnh lần lượt về tới phủ. Khải, với tư cách thư lại chính, là người chép lại từng bản vào cuối bộ hồ sơ của mình như phần kết chính thức của câu chuyện, đúng như giấy tờ nói, không thêm một chữ phỏng đoán.
Công văn thứ nhất báo việc của Lỗ Kính Đường. Sau những tháng bị giam và giải lên tỉnh đường, hắn được xét xử theo hồ sơ hội thẩm của phủ Chu Gia Giác cùng toàn bộ vật chứng đi theo. Lỗ Kính Đường bị xử tử ở tỉnh vì tội giết người cướp của và tội chủ mưu việc đúc tiền giả. Công văn chỉ ghi tội danh, ngày thi hành và việc đã thi hành xong theo luật. Không một dòng nào mô tả cảnh hành hình, và Khải cũng không chép thêm một lời nào của riêng mình vào bên cạnh. Người thanh niên hai mươi chín tuổi từng đứng giữa công đường vê một đồng tiền vô hình trên tay trái của mình đã trả giá cho ba nhát dao của hắn ở một nơi khác, bằng một thủ tục khác. Câu chuyện của trấn này khép lại phần của hắn ở đúng một bản công văn như thế.
Công văn thứ hai nói về Lỗ Đình Uy. Vị Đề đốc từng là quyền lực lớn nhất vùng Giang Nam này đã bị triệu hồi về kinh từ mùa thu năm trước, và tới mùa xuân này, công văn chính thức ghi ông ta bị mất chức, chờ xử lý tiếp ở kinh. Số phận sau đó của ông ta ra sao, công văn không nói, và truyện của trấn này cũng không xử lý thêm. Khải chép đúng tới đó rồi dừng bút. Một người từng chỉ cần rút một viên bộ đầu, chuyển một chồng hồ sơ, là đủ bóp chết một vụ án, cuối cùng bị chính những chồng hồ sơ ấy, đi theo đúng đường công văn, chậm rãi và không thể tránh, đưa ra khỏi chiếc ghế của mình.
Công văn thứ ba là việc của Quyền Đức Lâm. Phó tri phủ bị đình chỉ chức vụ ngay tại công đường hôm hai mươi tám tháng tám, qua thanh tra của tỉnh, tới mùa xuân này bị giáng hai cấp và điều đi một huyện xa. Khải chép công văn ấy vào hồ sơ với một cảm giác không hề hả hê. Hắn còn nhớ cái cúi đầu im lặng của người ấy trước người nông dân mình đã kết án tử, ở giữa sân phủ, trước mặt cả trấn. Giáng chức là việc của phép nước. Cái cúi đầu ấy là việc của một con người, và hắn đã ghi nó vào sổ tay riêng từ ngày hôm ấy.
Công văn cuối cùng trong đợt ấy nói về xưởng đúc tiền giả ngoài trấn. Xưởng bị tỉnh đường niêm phong, máy đúc và khuôn đúc bị tịch thu, những người liên quan bị bắt và xử theo từng phần tội. Trong danh sách người bị bắt có tên Phùng Đại Hải, chủ sòng bạc Tài Ký ở bến đò, kẻ đã nhiều năm rửa tiền cho việc làm ăn của nhà họ Lỗ qua những chiếu bạc thâu đêm. Sòng Tài Ký đóng cửa từ sau đó. Mặt tiền của nó ở bến đò được một người buôn gạo thuê lại vào cuối xuân, sơn lại cửa. Chỗ ấy từ đó chỉ còn bán gạo, một việc làm ăn ban ngày, sáng sủa, không còn tiếng xóc đĩa vọng ra trong những đêm khuya nữa.
Giữa những công văn lạnh lùng ấy, vào một buổi chiều cuối xuân, có một tin vui đi bằng đường người chứ không bằng đường giấy. Một người cùng thôn với Trần Đại Trụ lên phủ có việc, ghé qua án thư của Khải và báo một tin nhờ hắn chuyển lời: Vương Tú Anh vừa sinh con trai, mẹ tròn con vuông, ở thôn ngoài trấn. Đại Trụ đặt cho đứa bé một cái tên có chữ Đức trong đó, để đứa trẻ lớn lên mang theo trong tên mình ơn của một người mà nó chưa từng gặp mặt. Mỗi lần trong nhà gọi tên nó, cả nhà nhớ lại vì sao nó có mặt trên đời này vào một mùa xuân yên bình, thay vì lớn lên không có cha sau một buổi trưa tháng tám ở pháp trường.
Khải nghe tin, mừng tới mức phải đứng dậy đi ra sân phủ một lúc mới quay vào chép tiếp được. Hắn chép tin này vào trang cuối cùng của bộ hồ sơ, ngay sau các công văn của tỉnh, bằng một đoạn riêng. Hắn cho rằng một bộ hồ sơ về một vụ án tử hình, nếu chỉ kết thúc bằng những bản án và những lần giáng chức, thì mới kể được một nửa câu chuyện. Nửa còn lại là một đứa trẻ được sinh ra trong một ngôi nhà mà người cha của nó suýt nữa đã không còn.
Khi bộ hồ sơ viết xong, vào một đêm xuân trời tối sớm, Khải mang một bản sao đầy đủ của toàn bộ hồ sơ tới miếu Thành Hoàng bên bến đò. Hắn mở gian trong của miếu bằng chiếc chìa khóa mà hội miếu giao cho hắn giữ từ ngày khánh thành. Hắn đặt bản sao vào bên cạnh hộp gỗ đựng tấm lệnh bài đã thành gỗ thường, khóa gian trong lại cẩn thận, rồi thắp một nén hương ở án thờ chính. Bản chính của bộ hồ sơ ở lại với hắn, trong chiếc rương gỗ ở phủ, để sau này ai cần tra cứu ở đời này thì có một bản mà đọc cho rõ.
Đêm ấy, trên đường từ miếu về phủ, đi qua bến đò đã vắng người và mặt sông Thanh Khê phẳng lặng dưới trăng xuân, Khải chợt nhận ra một điều khi về tới phòng của mình và nằm xuống. Lần đầu tiên sau nửa năm, từ buổi trưa hai mươi tám tháng tám năm ngoái, hắn ngủ một giấc trọn đêm. Hắn không mơ thấy tiếng búa công đường, không mơ thấy một chiếc đồng hồ nước nhỏ giọt. Hắn cũng không giật mình tỉnh dậy giữa đêm với cảm giác mình vừa bỏ sót một tờ giấy nào trong một chồng hồ sơ có thể quyết định mạng người.