THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 46: Tang Lễ Và Tấu Chương

Ngày hai mươi chín tháng tám, trấn Chu Gia Giác làm tang lễ cho vị tri phủ đã chết trên ghế công đường của mình. Từ sáng sớm, bến đò Vãn Độ đã đông người…

Nội dung chương

Ngày hai mươi chín tháng tám, trấn Chu Gia Giác làm tang lễ cho vị tri phủ đã chết trên ghế công đường của mình. Từ sáng sớm, bến đò Vãn Độ đã đông người hơn cả ngày chợ phiên. Trần Văn Khải đứng ở sân phủ từ lúc trời chưa sáng hẳn, tay ôm sổ tang. Hắn ghi tên từng đoàn người tới viếng theo lệnh của phu nhân. Rồi hắn nhận ra một điều mà cả đời làm thư lại ở phủ này hắn chưa từng thấy: người tới viếng hôm nay đông nhất không phải là hương thân, thương gia hay quan lại các phủ lân cận. Đông nhất là người của bến đò, người gánh hàng, người lái đò, người bán chè, và cả những người ở thôn ngoài trấn lặn lội lên từ lúc gà chưa gáy, áo còn ướt sương.

Tang lễ do Trình Tố Văn chủ trì. Phu nhân năm mươi sáu tuổi, mặc áo tang trắng, đứng ở linh đường tiếp từng đoàn khách. Giọng bà không cao, không khóc thành tiếng trước mặt người ngoài. Nhưng mỗi quyết định của bà trong ngày hôm ấy đều rõ ràng và dứt khoát như cách chồng bà vẫn tuyên xử ở công đường. Việc lớn nhất bà quyết ngay trong buổi sáng, trước mặt con trai và trước mặt quan tỉnh vừa được cử về tiếp quản phủ tạm thời, là nơi an táng.

- Có người khuyên đưa linh cữu ông ấy về quê quán an táng theo lệ. - Bà nói, khi hương thân của trấn tới xin ý kiến. - Tôi đã nghĩ suốt đêm. Ông ấy xét xử ở đây hai mươi năm, chết trên ghế xử án ở đây, và người cuối cùng ông ấy cứu cũng là người của trấn này. Ông ấy nằm lại ở đây, với dân trấn này. Quê quán là nơi sinh ra một người. Nơi này là nơi ông ấy sống trọn một đời làm quan. Đưa ông ấy về an táng tại đất Chu Gia Giác này.

Cố Hoài An, con trai của đại nhân, ba mươi bốn tuổi, làm thư lại ở phủ lân cận, về trấn từ ngày sinh nhật cha và ở lại qua hết những ngày này, quỳ xuống nghe lời mẹ rồi đứng dậy nhận việc lo liệu phần mộ. Chính tay anh chọn khu đất cao ở phía trên bến, nơi nhìn xuống được sông Thanh Khê và con đường đi qua miếu Thành Hoàng cũ. Chính anh cùng với dân bến khiêng linh cữu cha mình đi qua con đường ấy vào buổi chiều. Đoàn đưa tiễn dài tới mức người đứng đầu đoàn đã tới cổng đất mộ mà người cuối đoàn còn chưa ra khỏi cổng phủ.

Đi đầu đoàn đưa tiễn, ngay sau người nhà họ Cố, là gia đình Trần Đại Trụ đội tang trắng. Cả nhà ba người, Đại Trụ, Vương Tú Anh và đứa con gái chín tuổi, đều mặc áo tang như người chịu tang ruột thịt. Hình ảnh ấy khiến nhiều người trong trấn khóc theo dọc đường: một người nông dân hôm qua còn là tử tù chờ chém ở pháp trường, hôm nay đội tang trắng đi đầu đoàn đưa tiễn vị quan đã chết để cứu mình. Đại Trụ không nói một lời nào suốt dọc đường. Ông chỉ khiêng một đầu đòn của chiếc bàn thờ nhỏ đi trước linh cữu, đi rất thẳng, và khi linh cữu hạ xuống huyệt, ông quỳ lạy ba lạy trước mộ như lạy trước một người cha.

Ở đất mộ trên khu đất cao, trước khi lấp đất, Lương Thanh Hư, đạo sĩ của quán Bạch Vân, bạn cũ của người đã khuất, đứng ra đọc một bài văn tế ngắn do chính tay ông viết trong đêm. Bài văn không nhắc tới giao kèo, không nhắc tới hai vị khách lạ trong thư phòng đêm sinh nhật, không nhắc tới bất cứ điều gì mà người sống không được phép nói thay cho người đã đi. Nó chỉ kể một đời làm quan thanh liêm, một phiên xử cuối cùng, và một tiếng búa gõ lúc mười hai giờ năm mươi bảy phút. Đọc xong, ông gập tờ văn lại, bỏ vào trong lửa hóa vàng, rồi quay sang nói riêng với Khải một câu mà hắn ghi vào sổ tang ngay tối hôm ấy.

- Chiều qua ta mộng thấy ông ấy đi lên. Sáng nay ta tới đây không phải để tiễn một người chết. Ta tới để tiễn một vị thần về trấn của mình.

Câu nói ấy, Khải ghi lại nguyên văn, và tự dặn mình sẽ không chép nó vào bất cứ hồ sơ chính thức nào của phủ. Có những việc thuộc về sổ sách, và có những việc thuộc về lòng người. Đại nhân lúc sinh thời đã dạy hắn phân biệt hai thứ ấy rõ hơn bất cứ ai.

Sau lễ an táng, khi khách viếng đã thưa dần và sân phủ trở lại yên tĩnh của một buổi chiều tang, Khải làm nốt việc cuối cùng mà đại nhân đã dặn hắn trong đêm giao kèo, trong thư phòng, bên cạnh tấm lệnh bài còn cắm trên án. Phong bì niêm phong chứa bản tấu chương hoàn chỉnh về xưởng đúc tiền giả ngoài trấn, cùng danh sách những người liên quan mà đại nhân đã viết dở từ trước ngày sinh nhật và hoàn tất trong đêm hai mươi bảy. Trên phong bì, nét chữ của chính ông ghi rõ điều kiện mở: nếu ta không qua khỏi phiên xử này, gửi ngay lên tỉnh đường, không chờ tang lễ xong.

Khải mở phong bì trước mặt Cố Hoài An và quan tỉnh tiếp quản, kiểm lại từng tờ. Rồi hắn đóng gói cùng toàn bộ hồ sơ vụ án Ngô Đức Tài, biên bản hội thẩm ngày hai mươi tám, lời khai của Lỗ Phúc và chuỗi vật chứng đã trình đường. Gói hồ sơ được niêm phong bằng triện của phủ, giao cho người đưa tin của tỉnh ngay trong chiều hôm ấy. Đó là việc cuối cùng của một giao kèo khác, giao kèo giữa một vị quan đã khuất và người thư lại của mình. Khải làm nó với hai bàn tay không run, như hắn đã hứa trong lòng từ lúc ôm thân xác đại nhân trên ghế công đường.

Tin về cái chết của tri phủ trên ghế công đường lan nhanh hơn mọi công văn. Nó đi theo thuyền buôn xuống hạ lưu, theo người gánh hàng qua các thôn, theo chính những người đã đứng trong sân phủ hôm ấy kể lại cho những người không được chứng kiến. Chiều hai mươi chín, Tiền Bảo Sâm tới phủ. Chủ tiệm cầm đồ Điển Ký đã bị một nhóm người danh nghĩa doanh trại giữ lại ở đầu phố trên đường tới hội thẩm trưa hôm qua. Ông đã được thả ra ở ngoại ô trấn vào lúc tin về phiên xử và cái chết của tri phủ vỡ ra khắp nơi. Nhóm người giữ ông không dám giữ thêm, vì giữ một nhân chứng của một vụ án đã xử xong trước cả trấn là việc không ai còn đủ sức che đậy nữa. Ông Tiền đi bộ vào trấn, tới thẳng linh đường, quỳ xuống khóc lạy trước linh vị.

- Tôi không tới được đường. - Ông nói với Khải, giọng còn khản. - Giấy tờ và chiếc nhẫn tới được thay tôi, đại nhân đã liệu trước cả việc ấy. Nhưng một người sống như tôi, tới già vẫn thấy hổ thẹn vì đã để một vị quan phải liệu thay cho sự vắng mặt của mình.

Khải đỡ ông dậy, mời ông thắp một nén hương, và ghi việc ông được thả vào sổ làm việc của phủ, ở trang cuối cùng của hồ sơ vụ án này.

Những ngày sau đó, các công văn trả lời của tỉnh lần lượt về tới phủ qua đường đưa tin chính thức, và Khải là người chép lại từng bản vào sổ của phủ. Qua một bản công văn như thế, cả phủ được biết Đề đốc Lỗ Đình Uy đã bị triều đình triệu hồi về kinh chờ xử lý, sau khi tấu chương của Cố Minh Đức và biên bản hội thẩm tới được tỉnh đường. Ông ta rời trấn bằng thuyền vào một buổi sớm, không trống, không cờ, không một đoàn tùy tùng rầm rộ như những lần tuần du trước. Việc của xưởng đúc tiền giả ngoài trấn, công văn chỉ ghi tỉnh đường sẽ tự xử lý và niêm phong theo luật sau khi hồ sơ hoàn tất. Không một chi tiết nào về cách làm được chép xuống cho trấn biết. Khải cũng không ghi thêm một chữ phỏng đoán nào vào sổ. Giấy tờ nói tới đâu, hắn chép tới đó.

Quan tỉnh tiếp quản phủ tạm thời là một người thận trọng. Ông ta tiếp nhận toàn bộ hồ sơ, người bị giam và biên bản hội thẩm mà không thay đổi một chữ nào. Trong buổi làm việc đầu tiên, ông ta có hỏi Khải một câu riêng ở thư phòng.

- Biên bản này, nếu tỉnh đường hỏi vì sao một phiên xử ở trấn lại tuyên được những khoản lớn như đình chỉ phó tri phủ, bắt giam cháu của Đề đốc, thư lại có dám đứng tên chịu trách nhiệm về chữ ký của mình không?

- Bẩm, dám. - Khải đáp. - Mọi chữ trong biên bản đều được đọc to tại đường, trước mặt dân chúng và trước mặt chính những người bị xử. Con ký tên vào sự thật đã xảy ra trước cả trấn, không ký vào một việc làm trong phòng kín.

Quan tỉnh nhìn hắn một lúc, gật đầu, và từ hôm ấy giao cho hắn giữ nguyên án thư và sổ sách của phủ như cũ.

Tối hai mươi chín tháng tám, khi tang lễ đã xong và sân phủ chỉ còn lại người nhà, Khải một mình vào thư phòng thu dọn giấy tờ của đại nhân. Căn phòng vẫn như đêm hai mươi bảy: án thư, kệ hồ sơ, chiếc lư nhỏ, và trên mặt án, tấm lệnh bài vẫn cắm đứng ở chỗ cũ, bên cạnh chồng hồ sơ đã mỏng đi vì phần lớn đã gửi lên tỉnh. Hắn đứng nhìn tấm lệnh bài một lúc lâu. Trong hai ngày qua, hắn đã tránh chạm vào nó, như tránh chạm vào một vật còn thuộc về một giao kèo chưa khép sổ hẳn trong lòng mình.

Hắn đưa tay ra, chạm vào tấm lệnh bài.

Nó chỉ còn là một tấm gỗ lạnh bình thường. Không còn cái lạnh buốt như tuyết của đêm giao kèo, không còn cảm giác cắm vào một thứ đất vô hình nào nữa. Nó nghiêng nhẹ dưới tay hắn rồi đứng yên lại, một tấm gỗ thường như mọi tấm gỗ khác trong trấn này. Khải rút nó lên khỏi mặt án, nhẹ nhàng, đặt vào lòng bàn tay, và đứng rất lâu trong thư phòng tối dần của một vị quan đã đi xa.

Chương khác

Xem thêm