THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 45: Chiếu Hoa Qua Bến Đò

Cố Minh Đức đứng dậy khỏi ghế công đường nhẹ như vừa trút một gánh nặng đã đeo suốt sáu mươi năm. Điều lạ là ông không hề thấy mình đứng dậy. Mới một lát…

Nội dung chương

Cố Minh Đức đứng dậy khỏi ghế công đường nhẹ như vừa trút một gánh nặng đã đeo suốt sáu mươi năm. Điều lạ là ông không hề thấy mình đứng dậy. Mới một lát trước, ông còn tựa lưng vào ghế, nghe tiếng vỗ tay của cả sân và tiếng hét của Khải bắt đầu nổi lên bên tai. Ngay sau đó, ông đã đứng ở bên cạnh ghế của chính mình, nhìn xuống thân xác của mình đang ngồi bất động trên ghế chủ tọa, đầu ngả nhẹ, bàn tay còn đặt bên cạnh chiếc búa. Thân xác ấy gầy, già, và yên tĩnh một cách kỳ lạ, như một bộ quan phục đã được cởi ra và đặt ngay ngắn lên ghế sau một ngày làm việc dài.

Ông hiểu ngay, không cần ai giải thích, rằng mình đã đi. Và ông hiểu một điều nữa, rõ ràng như một điều luật vừa đọc: ông không quay lại được nữa, và ông cũng không can thiệp được vào bất cứ việc gì của người sống từ giờ phút này. Ông có thể nhìn, có thể nghe, có thể đi qua những nơi mình từng sống. Ông không thể chạm vào một tờ giấy, không thể gọi tên một người mà người ấy nghe thấy, không thể nói một lời nào vào phiên xử vừa khép lại hay vào bất cứ việc gì sắp xảy ra trong sân phủ này. Luật của cõi ông vừa bước sang nghiêm và rõ như luật của công đường ông vừa rời khỏi, và ông, người cả đời tôn trọng thủ tục, chấp nhận nó ngay, không một ý nghĩ chống lại.

Dưới sân, Khải ôm lấy thân xác của ông mà khóc, hai tay giữ lấy vai áo quan như giữ một người chỉ vừa ngủ thiếp. Mấy lính lệ quỳ xuống. Trần Đại Trụ, người vừa được phóng thích, không ra về qua cổng chính như lời tuyên cuối cùng, mà quỳ lạy về phía ghế chủ tọa ba lạy, trán chạm nền đá, miệng chỉ lặp đi lặp lại hai chữ đại nhân. Vương Tú Anh ôm con đứng sau lưng chồng, khóc không thành tiếng. Trình Tố Văn và Cố Hoài An lúc ấy chưa tới kịp, tin còn đang được người của phủ chạy đi báo, và ông biết khi họ tới, họ sẽ thấy một sân phủ đã lặng đi và một linh cữu sắp được thiết tạm ở hậu đường. Ông nhìn tất cả những điều ấy từ một khoảng cách rất gần mà cũng rất xa, lòng không còn đau như người sống vẫn tưởng tượng về giây phút này. Chỉ có một nỗi buồn rất nhẹ, như buồn của người rời một ngôi nhà đã ở lâu năm vào một buổi trưa nắng đẹp.

Hai vị đang chờ ông bên tấm chiếu hoa.

Thất Gia đứng ở một đầu chiếu, áo thụng trắng quét đất, gương mặt tươi cười như đêm qua trong thư phòng. Trên mũ quan của ngài, hàng chữ mang ý người có tâm thiện thấy ngài sẽ gặp phúc lộc lớn lặng lẽ hiện lên trong mắt ông, lần này không còn làm ông thấy lạnh nữa. Bát Gia đứng ở đầu chiếu bên kia, áo đen, mặt đen, mắt không còn trừng trừng như lúc ném thẻ bài tuyên án tử. Ngài cúi đầu thật thấp trước ông, thấp hơn cả lúc ở giữa sân khi nãy, và tự tay nâng một đầu chiếu hoa lên, bằng cả hai tay, trang trọng như người nhà nâng một vật quý.

Không có sợi xích nào trong tay ngài. Ông nhìn kỹ điều đó và ghi nhớ nó, như một thư lại ghi một chi tiết quan trọng vào biên bản. Âm ty đã không dùng xích với ông. Giao kèo đã trọn, lời hứa đã giữ, và cách rước đi của ông không phải là cách áp giải một tội hồn, mà là cách đón một vị khách đã làm xong việc của mình.

- Cố đại nhân. - Thất Gia nói, giọng nhẹ và đều như đọc một văn bản đã thuộc. - Giao kèo đã trọn. Án xử xong trước cuối giờ Ngọ, người oan được thả giữa công đường, kẻ có tội bị bắt trước mặt dân chúng. Ông giữ lời với dương gian, và ông giữ lời với chúng ta. Mời ngài lên chiếu.

Trước khi bước lên, ông còn nhìn lại một lần chiếc ghế chủ tọa và chiếc búa trên án. Ông bỗng nhớ lại một điều rất nhỏ của đời mình: lần đầu tiên ông cầm chiếc búa ấy, tay ông còn trẻ và run vì sợ tuyên sai một vụ án trộm vặt ở bến. Sáu mươi năm sau, tay ông run vì lạnh và yếu, nhưng lời tuyên cuối cùng của ông không sai một chữ. Nghĩ tới đó, ông thấy lòng mình yên như mặt sông vào một buổi sớm không gió.

Ông bước lên tấm chiếu hoa. Dưới chân ông, những bông hoa không hề nát, chúng nâng ông lên nhẹ như nâng một tờ giấy mỏng. Hai vị cùng nâng chiếu, và công đường phủ nha từ từ lùi xuống dưới chân ông, không phải vì ông bay lên như chim, mà như thể mặt đất tự hạ thấp xuống nhường cho một con đường khác mở ra ngay trên con đường cũ của trấn.

Họ rước ông đi qua trấn lần cuối.

Qua cổng phủ, nơi tờ đình đao lệnh ông ký sáng nay vẫn còn dán, mực chưa kịp phai, và dân chúng đang tụ lại đọc cho nhau nghe dù phiên xử đã xong. Qua con phố chính, nơi tiệm cầm đồ Điển Ký đã hạ cửa một nửa, và người chủ tiệm vừa được thả ra ở ngoại ô còn chưa về tới. Qua những mái ngói đen soi bóng xuống sông Thanh Khê. Nơi ấy, suốt hai mươi năm làm quan ở vùng sông nước này, ông đã đi qua không biết bao nhiêu lần bằng kiệu, bằng thuyền, và có khi bằng chính đôi chân mình trong những chuyến kiểm đê mùa nước. Qua bến đò Vãn Độ, nơi chiếc đò ngang đang qua sông như mọi ngày, người lái đò không hề biết một đoàn rước vô hình vừa đi qua trên mặt nước. Qua miếu Thành Hoàng cũ ở đầu bến, hương tàn, mái ngói rêu phong, nơi dân trấn vẫn kể nhau nghe về một vị thần cai quản vùng này đã lâu không thấy linh ứng.

Trên con đường đi lên, khi trấn đã nhỏ dần dưới chân, Thất Gia đọc sắc phong. Ngài không cầm chiếu chỉ, không mở cuộn giấy. Ngài đọc như đọc một điều đã ghi sẵn trong sổ của thiên đình từ lâu, chỉ chờ việc dương gian xong xuôi là loan ra.

- Xét Cố Minh Đức, người trấn Chu Gia Giác, một đời làm quan thanh liêm, không nhận của đút, không xử oan vì sợ quyền thế. Trong giờ cuối của chính mình, ông không xin sống cho mình, chỉ xin thêm giờ để cứu một mạng oan không máu mủ. Án xong, ông tự nguyện nộp hồn ngay tại công đường, giữ trọn lời hứa với cả hai cõi. Nay phong Cố Minh Đức làm Thành Hoàng, cai quản vùng sông nước Chu Gia Giác, đời đời hưởng hương khói của dân trấn, giữ cho bến đò này, trấn này, một lệ công bằng như ông đã giữ khi còn sống.

Bát Gia, người suốt hai lần hiện hình chỉ nói rất ít, lúc này nói thêm một câu ngắn, giọng sắt nguội đã mềm đi một phần.

- Hồn như ông, âm ty không câu. Âm ty rước.

Ông cúi đầu nhận sắc phong, theo đúng lễ, như ông đã cúi đầu nhận mọi chức trách trong đời mình. Ông không thấy mình bỗng trở nên lớn lao hay thần thánh. Ông chỉ thấy một việc mới được giao vào tay mình, một việc rất quen: cai quản một vùng sông nước, giữ cho người ngay được yên, giữ cho kẻ ác phải sợ, và lần này, thời hạn của việc ấy không còn là sáu mươi năm nữa.

Ở dương gian, vào chính buổi chiều hôm ấy, có những việc xảy ra mà về sau Khải chép lại vào sổ của mình và kể lại cho ông nghe qua những nén hương trong miếu, dù ông đã biết trước từ trên cao. Đạo sĩ Lương Thanh Hư, bạn cũ của ông, đang ngồi bên linh cữu vừa thiết tạm ở hậu đường phủ nha, mệt quá sau một ngày dài mà ngủ gật trên chiếc ghế mây. Trong giấc ngủ ngắn ấy, ông ấy mộng thấy bạn mình đội mũ thần, áo thần, đi qua bến đò Vãn Độ trên một tấm chiếu hoa, hai bên có hai bóng người một trắng một đen cùng nâng chiếu. Ông ấy choàng tỉnh, mồ hôi ướt trán, quay sang Khải đang quỳ bên linh cữu và chỉ nói đúng một câu.

- Ông ấy không đi xuống. Ông ấy đi lên.

Cùng lúc ấy, trên bàn thờ tạm của phủ, nén hương do người nhà vừa cắm mà chưa kịp châm, tự cháy bùng lên một nhịp, lửa sáng rõ trong một chốc lát rồi cháy đều trở lại như mọi nén hương khác. Người trong phủ nhìn nhau, không ai dám nói to điều mình vừa thấy. Còn ở thư phòng, nén hương âm cắm trong chiếc lư nhỏ trên án từ đêm qua, nén hương tro lạnh xám trắng đã cháy suốt từ giờ Tuất, lúc này tắt hẳn. Nó không tắt vì cháy hết hai mươi bốn giờ, vì giờ hẹn tối đa của nó là tối nay, còn buổi chiều hãy còn dài. Nó tắt vì người mà nó đếm giờ cho đã đi rồi, và một chiếc đồng hồ không còn ai để đếm nữa thì tự nó dừng lại. Tấm lệnh bài cắm trên bàn thư phòng, từ lúc ấy, cũng nguội lạnh thành một tấm gỗ thường, như Khải sẽ chạm vào tối hôm sau và ghi vào sổ của mình.

Hồn ông ngoảnh lại nhìn trấn lần cuối từ trên cao.

Bến đò đang lên đèn. Những đốm đèn dầu nhỏ lần lượt sáng lên dọc hai bờ sông Thanh Khê, phản chiếu xuống mặt nước thành những vệt sáng dài. Ở đầu bến, người ta đang khiêng linh cữu của chính ông đi qua con đường mà suốt hai mươi năm làm quan ông đã đi không biết bao nhiêu lần. Đoàn người đi rất chậm, rất lặng, và ở phía đầu đoàn, một gia đình nông dân đội tang trắng đang đi trước linh cữu như người nhà.

Ông nhìn trấn của mình một lúc lâu, rồi quay mặt đi theo hai vị, bước tiếp trên con đường đã mở ra cho một vị Thành Hoàng mới của vùng sông nước Chu Gia Giác.

Chương khác

Xem thêm