THẺ BÀI HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG - Chương 47: Người Gánh Đò Trở Về
Ngày ba mươi tháng tám, Trần Đại Trụ về thôn. Trần Văn Khải đi cùng ông một đoạn đường từ cổng phủ ra tới bến đò Vãn Độ, không phải theo lệnh của ai, mà…
Nội dung chương
Ngày ba mươi tháng tám, Trần Đại Trụ về thôn. Trần Văn Khải đi cùng ông một đoạn đường từ cổng phủ ra tới bến đò Vãn Độ, không phải theo lệnh của ai, mà vì hắn muốn tận mắt thấy người nông dân này bước những bước đầu tiên của một đời sống đã được trả lại. Đại Trụ đi bằng cổng chính của phủ, đúng như lời tuyên cuối cùng của đại nhân đã ghi vào biên bản, đầu ngẩng cao. Trên vai ông là chiếc đòn gánh cũ mà phủ vừa trả lại. Đầu đòn gánh còn buộc mảnh vải trắng tang mà ông chưa chịu tháo ra. Dân ở hai bên phố đứng nhìn ông đi qua. Có người gật đầu chào. Có người quay mặt đi. Không ai nói to một lời nào.
Thôn của Đại Trụ nằm ngoài trấn, qua một chuyến đò ngang và một quãng đường đất dọc bờ sông. Sự trở về của ông, trong những ngày từ ba mươi tháng tám tới mùng năm tháng chín, là một việc không ồn ào như phiên xử hôm hai mươi tám. Nó lặng lẽ, lúng túng, và vì thế mà thật hơn mọi lời kể rầm rộ sau này. Có người mừng thật lòng: mấy người gánh hàng cùng bến, người lái đò già vẫn giữ cho ông chỗ buộc thuyền cũ, và những nhà trong thôn từng lén mang gạo tới cho vợ con ông trong những ngày ông ở lao. Cũng có người tránh né: những người từng nói chắc như đinh rằng ông là kẻ giết người, từng kể cho nhau nghe chi tiết vụ án như chính mắt thấy. Giờ gặp ông ở đầu ngõ, họ lại cúi mặt đi nhanh. Họ không dám nhìn thẳng vào một sự thật là họ đã kết tội một người vô tội dễ dàng tới mức nào.
Đại Trụ không trách ai. Khải nghe ông nói điều đó với vợ mình ngay buổi chiều đầu tiên về nhà, khi hắn còn ngồi lại uống chén nước chè trước khi quay về phủ.
- Người ta nghe phủ kết án thì người ta tin phủ. - Ông nói. - Mình ở trong lao, mình biết mình không làm, mà có lúc chính mình còn không biết phải tin vào cái gì để sống tiếp. Trách người ta sao được. Chỉ mong từ nay, ai nghe chuyện gì ở bến, nghe cho hết rồi hãy nói.
Việc đầu tiên ông làm sau khi về thôn, trước cả việc sửa lại mái nhà đã dột trong những ngày vợ con không có người đàn ông ở nhà, là ra thăm phần mộ của Ngô Đức Tài. Mộ của chủ tiệm nằm ở khu đất mộ phía sau bến, cỏ đã bắt đầu xanh lại sau hơn nửa tháng. Đại Trụ mang theo một nén hương, một đĩa xôi nhỏ do vợ ông đồ từ gạo mới, và quỳ xuống trước mộ một lúc lâu. Hai người khi sống chỉ là quan hệ chủ tiệm và người gánh thuê: ông Ngô giao hàng, ông Trụ gánh, tiền công trả sòng phẳng, thỉnh thoảng ông chủ tiệm còn cho thêm một chén trà nóng vào những ngày mưa. Không phải tình thân, không phải ơn nghĩa lớn. Vậy mà người gánh thuê ấy quỳ trước mộ và thắp hương tạ tội, vì đã ngủ gục ở hiên bến trong đêm người ta bị giết ngay trong tiệm của mình, cách ông chỉ một bức tường và một khoảng sân, mà ông không hề hay biết để cứu.
Vương Tú Anh kể lại việc ấy cho Khải nghe vào lần hắn ghé thôn mấy hôm sau, giọng bà đã bình tĩnh lại sau những ngày khóc cạn nước mắt ở cổng phủ và ở công đường.
- Ông ấy nói, người chết thì đã chết rồi, hương này không phải để xin ông Ngô tha. Hương này là để tự mình nhớ: từ nay ngủ ở đâu cũng phải tỉnh tai, nghe tiếng động lạ thì phải dậy mà xem. Một mạng người, đôi khi chỉ cách một giấc ngủ say có mấy bước chân thôi.
Trong những ngày đầu ở thôn, Trần Tiểu Mễ, đứa con gái chín tuổi của ông, là người thay đổi thấy rõ nhất. Những ngày cha ở lao, con bé không dám ra đầu ngõ chơi, đi học chữ ở lớp thầy đồ trong thôn cũng ngồi ở góc cuối, vì trẻ con trong thôn nghe người lớn nói rồi gọi nó là con của kẻ giết người. Ngày cha về, nó theo mẹ ra tận đầu đường đất đón, ôm lấy cánh tay phải của cha và không chịu buông suốt quãng đường về nhà. Mấy hôm sau, Khải ghé thôn và thấy con bé đã ngồi lại ở hàng đầu của lớp học, đọc bài to hơn cả mấy đứa con trai ngồi cạnh. Hắn ghi việc nhỏ ấy vào sổ tay của mình, vì hắn hiểu những thiệt hại của một vụ án oan không chỉ nằm trong biên bản. Chúng nằm trong chỗ ngồi của một đứa trẻ ở lớp học, trong cách một người vợ cúi đầu đi qua chợ. Việc gỡ án cũng phải đi tới tận những chỗ nhỏ như thế mới gọi là gỡ xong.
Đại Trụ còn làm một việc nữa mà Khải không ngờ tới. Ông tới nhà của Giả Tam Giang, lão chài đã ra đường làm chứng với vai còn băng vải cháy, mang theo một con cá lớn vừa được người ta trả công gánh hàng và một chai rượu gạo của vợ ông nấu. Hai người đàn ông ngồi ở hiên nhà chài đã được dân làng giúp dựng lại sau trận hỏa hoạn, uống với nhau một chén, và ông già chài nói một câu mà Khải đứng ở sân nghe được rõ ràng.
- Ông suýt chết vì miệng của người khác. Tôi suýt cháy vì miệng của chính mình nói ra sự thật. Ngồi lại mà nghĩ, ở cái bến này, cái miệng còn nguy hiểm hơn cả nước xoáy.
Đại Trụ chỉ cười, rót thêm rượu cho ông già, và hai người không nói gì thêm về vụ án nữa trong suốt buổi chiều hôm ấy.
Rồi Đại Trụ quay lại nghề cũ. Ông mở lại nghề gánh đò và gánh hàng ở bến Vãn Độ, bắt đầu bằng việc nhận lại những mối hàng quen từ tay những người đã giữ giúp ông trong lúc ông bị giam. Chuyến đò đầu tiên ông gánh hàng qua bến, người lái đò già từ chối lấy tiền, xua tay nói chuyến này coi như mừng người về. Hôm sau, bà Tôn bán chè ở bến mang sang cho ông một ấm chè mới pha, đặt xuống chiếc ghế đẩu cạnh chỗ ông ngồi chờ hàng. Bà ngồi xuống bên cạnh, rót cho ông một chén, rót cho mình một chén. Hai người nói chuyện về giá gạo mới, về đứa con trai của bà ở huyện bên vừa gửi thư về, về mái quán chè bị dột một góc sau trận mưa đêm mười hai. Không một lời nào về lời khai gian, về mười đồng bạc, về phiên xử. Khải đứng từ xa nhìn cảnh ấy, lòng hiểu rằng có những lời xin lỗi trong trấn này không được nói ra bằng miệng. Chúng được nói bằng một ấm chè mới, đặt xuống đúng chỗ, vào đúng buổi sáng một người trở lại nghề cũ của mình.
Trong khi đời sống của người được cứu lặng lẽ trở lại, thì trong trấn, các dị bản về đêm sinh nhật của tri phủ bắt đầu lan đi nhanh hơn cả tin chính thức. Ở quán chè đầu bến, có người kể rằng đại nhân đã bán hồn cho quỷ để đổi lấy một ngày xử án, giọng kể rùng rợn như kể chuyện ma cho trẻ con sợ. Ở một hiệu buôn vải, có người lại nói ông là thần nhân hạ phàm, sinh nhật sáu mươi là ngày ông phải về trời, vụ án chỉ là cớ để ông làm một việc thiện cuối cùng trước khi đi. Có người còn kể thêm chi tiết chưa từng xảy ra: rằng đêm ấy họ thấy hai bóng người khổng lồ đứng trên mái phủ, rằng tiếng búa cuối cùng vang lên thì trời đang nắng bỗng đổ mưa. Mỗi lần nghe một dị bản mới, Khải đều không đính chính. Hắn chỉ lặng lẽ, mỗi tối về phủ, mở cuốn sổ tay riêng của mình ra và ghi lại sự thật, đúng như nó đã xảy ra, từng giờ, từng vật chứng, từng lời nói mà hắn tận mắt thấy và tận tai nghe. Hắn ghi cả những điều hắn không thấy: chỗ nào là lời kể của người khác, hắn ghi rõ là lời kể. Chỗ nào là giấc mộng của đạo sĩ, hắn ghi rõ là giấc mộng. Cuốn sổ ấy, lúc này hắn chưa biết, chính là hạt giống của một bộ hồ sơ lớn hơn mà hắn sẽ dành cả một mùa xuân sau này để viết cho xong.
Cuối những ngày ấy, một việc chính thức đầu tiên của hậu truyện tìm tới phủ. Hương thân của trấn, cùng đại diện của các thôn quanh bến, tới gặp quan tỉnh tiếp quản và tới thắp hương trước linh vị họ Cố. Họ đề đạt một nguyện vọng đã bàn nhau trong mấy ngày qua: dân trấn muốn góp công, góp gỗ, góp gạch, dựng một ngôi miếu mới bên bến đò Vãn Độ, ngay cạnh ngôi miếu Thành Hoàng cũ đã xuống cấp. Ngôi miếu ấy để thờ vị Thành Hoàng của trấn và để ghi nhớ việc đã xảy ra trong tháng tám này. Quan tiếp quản không dám tự quyết việc dựng miếu, cho ghi nguyện vọng vào tờ trình và hẹn chuyển lên trên xem xét, nhưng ông ta cho phép dân trấn lập danh sách góp công trước, để khi có phép thì việc đã sẵn một nửa.
Tờ trình xin dựng miếu cùng danh sách góp công được đặt lên án thư ở phủ vào buổi chiều mùng năm tháng chín. Khải là người tiếp nhận tờ giấy ấy từ tay vị hương thân già nhất của trấn. Hắn mở danh sách ra xem. Ở dòng đầu tiên, trước cả tên của các hương thân, các chủ hiệu buôn và các nhà khá giả trong trấn, là một cái tên được ghi bằng chữ của người khác viết thay. Bên cạnh là một dấu điểm chỉ mực đen, rõ và đậm.
Trần Đại Trụ. Điểm chỉ bằng ngón tay phải.
Bàn tay phải chai dày đã giơ lên trước công đường trong buổi trưa hai mươi tám tháng tám. Đó là bàn tay mà cả sân đã nhìn thấy để tin rằng người này không thể cầm dao bằng tay trái. Nay nó in dấu lên dòng đầu tiên của danh sách dựng miếu cho vị quan đã cứu mình. Khải nhìn dấu điểm chỉ ấy rất lâu, rồi cẩn thận xếp tờ trình lại, đặt lên chỗ cao nhất của án thư, nơi ngày trước đại nhân vẫn đặt những hồ sơ quan trọng nhất chờ xử trước.