TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 1: Chương 001: Tàu đêm về Huế
Tiếng bánh sắt nghiến lên đường ray phát ra những âm thanh ken két chói tai, kéo mạnh Khánh ra khỏi cơn mộng mị chập chờn. Hắn giật mình ngồi thẳng dậy…
Nội dung chương
Tiếng bánh sắt nghiến lên đường ray phát ra những âm thanh ken két chói tai, kéo mạnh Khánh ra khỏi cơn mộng mị chập chờn. Hắn giật mình ngồi thẳng dậy trên hàng ghế gỗ cứng của toa tàu cũ kỹ. Đầu hắn đau nhức như có ai gõ búa vào thái dương, mồ hôi lạnh rịn ra ướt đẫm cả vầng trán.
Khánh đưa tay lên xoa hai bên huyệt thái dương, cố xua đi dư âm của giấc mơ vừa trải qua. Trong cơn mơ màng, hắn chỉ thấy một làn khói nhang màu xám đục quấn chặt lấy mặt nước đen ngòm của một dòng sông không thấy bờ bến. Giữa tiếng sóng vỗ sầm sập vào mạn thuyền, có một giọng nói già nua, khản đặc cứ gọi một cái tên. Đó là một âm tiết duy nhất, mang âm sắc nhọn hoắt và sắc lẻm, giống như tiếng lưỡi dao gạt ngang một cọng cỏ ướt trong đêm lạnh. Khánh đã cố căng tai ra để nghe rõ phần đầu của âm thanh đó, nhưng tiếng nước cuồn cuộn đã nuốt chửng tất cả. Hắn chỉ kịp giữ lại cái cảm giác buốt giá của âm sắc nhọn kia trước khi choàng tỉnh.
Toa tàu đêm chạy chuyến muộn từ Đà Nẵng về Huế lúc này vắng tanh. Mùi dầu máy nồng nặc quyện với mùi đệm ghế ẩm mốc lâu ngày tạo nên một bầu không khí ngột ngạt, khó chịu. Bên ngoài cửa sổ, trời tối đen như mực, thỉnh thoảng mới có vài đốm sáng lập lòe từ những ngôi nhà ven đường sắt trượt qua rồi biến mất trong màn đêm.
Khánh khẽ rùng mình vì cái lạnh luồn qua khe cửa kính. Hắn quay sang nhìn người ngồi ở phía đối diện.
Đó là một bà cụ mặc áo bà ba sẫm màu, tóc búi bánh xe nhỏ xíu sau gáy, đang tỉ mẩn bóc một chiếc bánh nậm. Mùi bột gạo hấp chín lẫn với mùi lá dong hơ lửa ấm nồng tỏa ra, át đi phần nào mùi ẩm mốc của toa tàu cổ lỗ sĩ. Bà cụ cúi đầu, những ngón tay nhăn nheo miết nhẹ vào lớp lá chuối xanh sẫm, chậm rãi đưa miếng bánh lên miệng nhai một cách cơ học.
Khánh dụi mắt cho tỉnh táo. Hắn quay sang nhìn tấm kính cửa sổ bên cạnh để xem tàu đã chạy đến đoạn nào. Trên mặt kính loang lổ nước mưa phùn, hình ảnh phản chiếu của góc toa tàu hiện lên rõ ràng dưới ánh đèn vàng vọt.
Nhưng chiếc ghế gỗ đối diện hắn trên mặt kính hoàn toàn trống không.
Không có bóng người mặc áo sẫm màu, cũng không có chiếc lá dong xanh nào đặt trên đùi.
Khánh giật mình, quay phắt đầu lại. Bà cụ vẫn ngồi đó, hai mắt kèm nhèm nhìn đăm đăm vào khoảng không trước mặt, quai hàm vẫn đưa đều đặn. Hắn lầm bầm một tiếng trong miệng, tự nhủ chắc chắn là do bản thân thiếu ngủ trầm trọng. Mấy ngày nay thức đêm dọn dẹp đồ đạc ở phòng trọ ngoài Đà Nẵng để kịp chuyến tàu muộn này đã làm đầu óc hắn sinh ra ảo giác.
Khánh đứng dậy, bước đi dọc hành lang hẹp hướng về phía buồng rửa mặt ở cuối toa tàu. Tiếng bánh xe sắt nện xuống đường ray đều đặn dưới chân như một nhịp gõ nhức óc. Nước từ vòi chảy ra lạnh buốt, dội thẳng vào mặt giúp Khánh tỉnh táo hơn chút ít. Hắn nhìn mình trong tấm gương ố vàng của nhà vệ sinh. Khuôn mặt thanh niên hai mươi sáu tuổi hốc hác, đôi mắt thâm quầng vì mất ngủ nhiều đêm. Hắn lấy tay vuốt lại mái tóc rối, kéo cao cổ áo khoác để che đi phần gáy đang lạnh buốt.
Khi Khánh lau mặt bằng vạt áo khoác rồi quay lại chỗ ngồi, bà cụ đã biến mất. Trên chiếc bàn gỗ nhỏ gắn dưới cửa sổ không có lấy một mảnh vụn bánh nậm, cũng không còn chút hơi ấm nào sót lại trên mặt ghế gỗ. Chỉ còn mùi lá dong cháy khét nhàn nhạt sót lại trong không khí rồi nhanh chóng bị gió lùa qua khe cửa kính cuốn đi sạch sẽ.
Tàu xình xịch giảm tốc rồi dừng hẳn tại Ga Huế lúc mười giờ rưỡi đêm. Mưa phùn xứ này mỏng như sương nhưng bám dai dẳng, chỉ cần bước ra khỏi mái che nhà ga là cả người đã ẩm ướt khó chịu. Khánh xách cái ba lô vải sờn vai bước xuống bậc toa, hít một hơi dài cái không khí ẩm ướt đặc trưng của quê nhà.
Sân ga đêm muộn vắng lặng. Ánh đèn neon màu trắng xanh hắt xuống nền xi măng ướt sũng tạo nên những vệt sáng loang loáng. Giữa đám người lác đác bước xuống, Khánh thấy một bóng dáng nhỏ thó đứng nép bên cột đèn ga. Đứa nhỏ mặc chiếc áo khoác bộ đội rộng thùng thình dài quá đầu gối, chân xỏ đôi dép tổ ong màu cháo lòng đã mòn vẹt gót. Nước mưa bám trên vai áo nó thành một lớp hạt li ti lấp lánh dưới ánh đèn vàng vọt.
Vừa thấy Khánh bước xuống, đứa nhỏ đã bước tới, đưa tay đón lấy cái túi xách nhỏ trên tay hắn.
- Eng Khánh đó phải không? Thầy sai con đi đón eng.
Giọng thằng bé mang đậm âm sắc vùng đầm phá, hơi nặng nhưng rõ ràng.
Khánh nhướng mày, giữ chặt quai túi chứ không đưa cho nó.
- Nhỏ ni ở mô ra rứa? Sao biết mặt tau mà đón?
Thằng bé ngước mặt lên. Nó chừng mười tuổi, nước da ngăm đen đặc trưng của dân vùng nước lợ, nhưng đôi mắt lại sáng một cách kỳ lạ, lòng đen to và sâu hoắm. Nó nhìn Khánh một lượt từ đầu đến chân rồi nói.
- Thầy bảo người mô đi chuyến tàu muộn nhất, mặt mũi ngơ ngác, đi đứng cứ nhìn quanh quất như sợ ai theo sau thì là eng Khánh. Với lại, thầy nói eng có mùi nước sông Hương không lẫn đi mô được.
Khánh tặc lưỡi. Ông Tư đúng là vẫn không bỏ được cái thói trêu chọc người khác. Hắn buông tay để thằng bé xách hộ cái túi nhẹ, hai người đi ra phía cổng ga, nơi mấy chiếc xe máy thồ đang nổ máy chờ khách dưới mưa.
- Mi tên chi? Quê ở mô?
Khánh hỏi khi cả hai đi dưới mái hiên ga.
- Con tên Bồi. Nhà con ở Làng Chuồn, xã Phú An, huyện Phú Vang, ngay bên đầm Cầu Hai đó eng.
Thằng bé trả lời nhanh nhảu.
- Răng lại lên đây ở với ông Tư?
Khánh tò mò hỏi tiếp.
- Thầy đón con lên phụ việc tiệm. Con ở đây được nửa năm rồi. Con lo việc quét dọn với chùi mấy cái đồ đồng trong kho.
Bồi vừa đi vừa nói, bước chân của nó trên nền gạch ướt nhẹ bẫng.
Khánh im lặng một lúc. Làng Chuồn xa lắc xa lơ dưới phá Tam Giang, dân dưới đó quanh năm bám mặt vào nước lợ, làm nghề chài lưới. Ông Tư tự dưng lặn lội về tận đó dắt một đứa nhỏ lên phố làm gì. Hắn nhớ lại bức thư ngắn ngủn viết bằng mực tàu gửi đến phòng trọ của hắn ở Đà Nẵng tuần trước. Nét chữ của Ông Tư đã bắt đầu run rẩy, không còn sắc sảo như trước. Thư chỉ viết đúng mấy dòng, bảo chân trái ông yếu hẳn rồi, đi đứng không tiện, bảo hắn dọn đồ về trông tiệm giùm ông vì Tết nhất tới nơi, việc nhiều.
Họ thuê một chiếc xe máy thồ chở cả hai về phía Gia Hội. Khánh ngồi phía sau, kẹp thằng bé Bồi ở giữa để che bớt gió lạnh thổi ngược từ sông vào. Chiếc xe máy cũ nát nổ máy giòn giã, chạy qua những con phố Huế đêm muộn vắng bóng người. Những bức tường vôi ẩm mốc của những ngôi nhà cổ bên đường loang lổ vệt nước mưa. Cầu Gia Hội hiện ra trong màn sương mù mờ ảo, nước sông Hương bên dưới đen thẫm, phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ không phản chiếu bầu trời.
Gió từ sông thổi lên mang theo mùi bùn non và mùi rong rêu ẩm ướt. Khánh cúi đầu hỏi thằng bé ngồi phía trước.
- Bồi ni, ông Tư ở nhà dạo ni răng rồi?
Bồi khẽ gật đầu dưới vành mũ vải ướt sũng.
- Dạ, chân thầy đau nhiều, có hôm không tự đứng dậy được. Con phải đỡ thầy vô nhà. Thầy bảo xương cốt dạo ni chịu không nổi tiết trời lạnh.
Khánh nhíu mày. Hắn tự trào.
- Về Huế đúng dịp Tết để né nợ đời, ai dè lại về làm chân sai vặt cho một ông già đau chân với một đứa con nít. Mà này, tiệm dạo này có khách khứa chi lạ không?
Bồi nói nhỏ, giọng bị tiếng gió xe máy át đi một phần.
- Dạ có. Mấy tuần ni có mấy người lạ tới hỏi mua đồ cổ, nhưng thầy không bán. Họ cứ lảng vảng ngoài ngõ lúc nửa đêm. Thầy bảo kệ họ, họ không dám vô nhà đâu.
Chiếc xe máy thồ giảm ga rồi dừng lại ngay đầu một con kiệt nhỏ tối om nằm sâu trong khu Gia Hội, đoạn gần Bao Vinh. Bác tài xế xe ôm thò chân xuống đất, nhìn vào con kiệt sâu hun hút không một bóng đèn đường, lắc đầu nguầy nguậy.
- Tới đây thôi nghe hai chú em. Trong kiệt ni đường hẹp mà tối quá, tui không chạy vô được đâu. Với lại, đoạn ni đêm hôm huông lắm, tui không muốn vô.
Khánh trả tiền xe rồi bước xuống đường nhựa ướt nhẹp. Con kiệt này dẫn thẳng ra phía bờ sông, hai bên là những bức tường gạch cũ kỹ phủ đầy rêu xanh bám chặt. Một chiếc đèn lồng giấy màu vàng treo ở đầu kiệt khẽ đưa qua đưa lại, phát ra tiếng cót két khô khốc dù xung quanh không hề có một ngọn gió nào thổi qua.
Bồi xách túi đi trước. Bước chân của nó nhẹ bẫng trên những viên gạch lát đường trơn trượt, hầu như không phát ra tiếng động. Khánh đi sau, kéo cao cổ áo khoác để ngăn những hạt mưa lạnh luồn vào gáy. Con kiệt tối đến mức hắn chỉ thấy được cái bóng lưng nhỏ thó của Bồi phía trước. Mùi ẩm mốc từ những bức tường gạch cũ xộc thẳng vào mũi, lẫn với mùi khói trầm thoang thoảng từ phía cuối kiệt bay ra.
- Bồi, đi chậm lại chút. Tối thui thế này bước hụt xuống cống bây giờ.
Khánh nói vọng lên, giọng hơi run vì lạnh.
Bồi dừng lại, nhưng không quay đầu. Giọng thằng bé nhỏ rí, lẫn vào tiếng mưa rơi trên những mái ngói âm dương hai bên đường.
- Eng đi sát con nghe. Đêm trong kiệt ni có nhiều người đi không nghe tiếng chân đâu. Họ hay ghẹo người lạ lắm. Cứ đi thẳng, đừng ngó hai bên tường.
Khánh rùng mình một cái. Cái chất linh dị của đất Huế này luôn làm hắn thấy ngột ngạt. Hắn bước nhanh hơn, đứng ngay sau lưng Bồi. Hắn có thể cảm nhận được hơi lạnh tỏa ra từ những kẽ gạch dưới chân, như thể có dòng nước âm u nào đó đang chảy xiết ngay dưới lớp đất đá này.
Bồi đột ngột đứng khựng lại trước một khúc quanh tối tăm nhất của con kiệt, nơi bóng tối đặc quánh như mực đổ. Nó ngước mắt nhìn vào khoảng không vô định trước mặt, rồi quay sang nói với Khánh bằng giọng thì thầm.
- Eng đi sau con. Có người đang đợi eng.
Khánh nhìn theo hướng mắt của Bồi nhưng chẳng thấy gì ngoài một bức tường gạch cũ nát đổ nát nửa phần. Hắn hỏi.
- Ai đợi tau? Ông Tư hả?
Bồi không trả lời. Nó chỉ lẳng lặng bước tiếp vào bóng tối, để lại Khánh đứng trơ trọi giữa màn mưa phùn lạnh buốt.