TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 246: Tên Con Bây Chừ

Mặt bàn gỗ lim mát lạnh dưới lòng bàn tay Khánh, nhưng cảm giác ê ẩm từ bả vai truyền xuống vẫn khiến hắn phải nhíu mày. Quang kiểm tra lớp băng trên tay…

Nội dung chương

Mặt bàn gỗ lim mát lạnh dưới lòng bàn tay Khánh, nhưng cảm giác ê ẩm từ bả vai truyền xuống vẫn khiến hắn phải nhíu mày.

Quang kiểm tra lớp băng trên tay Khánh lần cuối rồi trải những tấm ảnh chụp trước lúc xuống sông, bản sao trang sổ đen từ hồ sơ cũ và bảng kiểm 9.999 mục lên mặt bàn. Trước mặt anh còn có ba gói vải Khánh mang về. Quang mở từng gói bằng kẹp gỗ, để lộ tấm bìa sẫm đã bạc, bó chỉ gáy rời nút và xấp giấy hoàn toàn trống.

Bồi áp khánh đồng lần lượt cạnh từng món nhưng không nghe thấy tiếng gọi nào. Nước sạch nhỏ lên bề mặt không đổi màu, không rịn mực và không tạo bóng.

Quang đặt tấm bìa vào hộp thứ nhất, bó chỉ vào hộp thứ hai, xấp giấy trống vào hộp thứ ba. Anh tuyệt đối không để ba phần chạm lại nhau. Nhãn trên mỗi hộp ghi rõ: vật liệu vô tri, không còn tên, lời hẹn, dấu vong hay lực siêu nhiên. Chúng chỉ được lưu riêng để giữ chứng tích, không được khâu phục dựng.

Phan Khanh ngồi ở góc bàn đối diện, dưới ánh đèn dầu tù mù, tay cầm cây bút bi xanh ghi chép vào cuốn sổ tay công tác. Tiếng đầu bút lướt trên mặt giấy tạo ra những tiếng sột soạt đều đặn, xen lẫn tiếng mưa rơi lộp bộp ngoài hiên.

- Tao đã ghi rõ trong bảng kiểm.

Quang đặt tay lên ba hộp đã đóng:

- Tất cả mục còn vong đều được đối chiếu tên, vật neo, lời hẹn trước khi tháo; dấu rỗng có ba người xác nhận rồi bỏ qua. Mực độc với quyền giữ tên đã tan sạch. Ba thứ ni chỉ còn là bìa, chỉ và giấy vô hại, cất tách nhau thì không thể thành sổ lại.

Phan Khanh gật đầu, không ngẩng lên khỏi cuốn sổ tay:

- Về mặt giấy tờ, tôi ghi nhận ảnh chụp, bản chép tay. Ba hộp vật liệu rời và mẫu bùn không có tính chất bất thường, thu trong quá trình tìm kiếm người mất tích. Không có quyển sách nguyên vẹn nào được thu hồi. Tôi sẽ lập biên bản từng hộp để không món nào thất lạc, còn phần hồ sơ người sống sẽ xử lý theo chứng cứ thật.

Khánh khẽ cử động vai, vết bớt cá đỏ dưới lớp áo vẫn còn cảm giác âm ấm:

- Cảm ơn anh Khanh. May có anh lo liệu phần việc trên bờ.

Phan Khanh gấp sổ tay lại, cài cây bút vào túi áo ngực:

- Nhiệm vụ của tôi là giữ trật tự trị an ở Gia Hội. Việc dưới sông đã xong, việc trên bờ cứ để tôi lo. Anh Khánh lo việc của tiệm đi.

Khánh không nói thêm, hắn đưa tay mở lớp giấy vàng mã bọc ngoài chiếc kim bài Thoải Phủ đặt ở giữa bàn. Khi lớp giấy cuối cùng được gỡ bỏ, chiếc kim bài bằng đồng lộ ra dưới ánh đèn dầu. Mặt đồng xỉn màu, không còn hắt bóng người lên nước. Dấu máu cũ trên thân bài đã khô đen hoàn toàn, không còn chút lực nào phát sáng như trước.

Khánh quay sang hỏi Bồi đang đứng khép nép bên cạnh:

- Bồi, mi nghe thấy chi từ miếng kim bài ni không?

Bồi nghiêng cái đầu nhỏ sát vào chiếc kim bài, hai mắt nhắm nghiền để tập trung âm giác. Một lúc sau, thằng bé mở mắt ra, lắc đầu:

- Dạ không nghe thấy chi hết eng Khánh. Nó im lặng lắm, giống như một miếng sắt vụn bình thường thôi. Con không nghe thấy tiếng khóc, cũng không nghe thấy tiếng đàn bà hát nữa. Mọi thứ lặng ngắt như tờ.

Khánh khẽ thở ra một hơi dài. Pháp niệm mang hình Thảo Ly đã tan vĩnh viễn khi Hồ Vũ buông quyền giữ. Nó vốn được tạo bởi dấu máu cũ, ký ức cùng chấp niệm của Hồ Vũ và sức kim bài; chưa bao giờ là mảnh hồn còn sót của nàng. Thảo Ly thật đã tan hoàn toàn từ năm 1725.

Hắn lấy cuốn sổ ghi chép tà vật của tiệm, lật đến trang mới. Hắn dùng bút mực đen ghi rõ: 'Tà vật số 12: Kim bài Thoải Phủ bằng đồng. Đã giải. Pháp niệm mang hình Thảo Ly: đã tan vĩnh viễn; không phải vong chủ.'

Khánh không ghi tên Thảo Ly vào cuốn Vong Ký trắng. Nàng đã tan từ năm 1725, cái bóng của nàng cũng đã tan biến đêm nay. Việc ghi tên một người đã tan hoàn toàn vào sổ trắng là việc không cần thiết, bởi sổ trắng chỉ giữ những vong hồn còn tồn tại để giúp họ hoàn tất lời hẹn. Hắn bọc chiếc kim bài lại bằng một tấm vải đỏ cũ, rồi cất nó vào chiếc hòm gỗ niêm phong dưới gầm bàn thờ. Nó sẽ nằm đó như một chứng tích lịch sử của Thoải Phủ sông Hương, không còn gây họa cho ai nữa.

Cô Bảy ngồi trên chiếc ghế rường bên cạnh cửa sau. Bà hướng đôi mắt đục mờ về phía khoảng sân tối đen bên ngoài, nơi tiếng mưa rơi trên những tàu lá chuối đã nhỏ dần. Bà khẽ chớp mắt, rồi quay lại hỏi Khánh:

- Khánh đó hả con? Ngoài sân có bóng người mô đi qua không? O nhìn chỉ thấy một màu đen thui với ánh đèn dầu tù mù ni thôi.

Khánh nhìn ra sân. Khoảng sân trống không, chỉ có những giọt nước mưa đọng lại trên bệ đá phát ra ánh phản chiếu lấp lánh dưới ánh đèn đường hắt vào.

- Dạ không có ai hết o. Mưa tạnh rồi.

Cô Bảy cười nhẹ, nếp nhăn nơi khóe mắt xô lại:

- Rứa là tốt rồi. Âm nhãn của o mất sạch rồi con ạ. Chừ nhìn mô cũng chỉ thấy cảnh đời thường thôi. Mấy đứa nhỏ đi học về, mấy mụ bán hàng bông ngoài chợ... không còn thấy mấy cái bóng lẩn khuất dưới bóng cây nữa. Nhẹ cả người.

Bà đứng dậy, phủi phủi vạt áo dài cũ còn vương mùi chè bắp:

- Sáng mai o lại mở quán chè. Bồi ơi, sáng mai mi qua sớm phụ o rửa mấy cái nồi đồng nghe con. Nghỉ mấy bữa rồi, khách họ réo quá chừng.

Bồi gật đầu lia lịa:

- Dạ o! Sáng mai con qua sớm quét dọn quán cho o luôn.

Cô Bảy không hề có ý định tìm cách khôi phục lại quyền năng Canh Thoải. Đối với bà, việc được trở lại làm một bà già bán chè bình thường ở bến Bao Vinh đã là một sự giải thoát lớn lao sau cả một đời gánh vác trách nhiệm nặng nề của dòng họ.

Quang nhặt miếng đồng nhỏ dẹt nằm cạnh áo khoác ướt của Khánh, lau sạch bùn rồi đặt lại trước mặt hắn. Đó là miếng đồng khắc chữ 'Tích' đã theo Khánh suốt đường xuống Âm Hương. Khi kéo hắn lên thuyền, Quang tháo nó khỏi bàn tay co cứng để băng vết thương; bây giờ hắn trả lại đúng vật ấy.

Quang nói:

- Lúc kéo mi lên, tay mi nắm chặt cái ni đến rách thêm. Tao tháo ra để băng. Giờ trả mi.

Khánh nhìn miếng đồng dẹt. Bề mặt miếng đồng đã mòn vẹt ở các góc do được người ta vuốt ve nhiều lần. Hắn biết miếng đồng này đại diện cho đứa con trai đã chết năm 1945 của Ông Chính, đại diện cho căn nguyên linh hồn đang nằm trong xác thân này của hắn. Nhưng hắn không cầm lấy nó để làm danh tính của mình.

Khánh lắc đầu:

- Không. Tích là đứa con trai của Ông Chính đã chết từ tám mươi mốt năm trước. Còn tui là Nguyễn Vĩnh Khánh. Tui sinh ra năm 2000, lớn lên ở Huế, đi học ở Đà Nẵng rồi lại về đây. Tui giữ ký ức của Tích, giữ tình phụ tử của Ông Chính, nhưng cuộc đời này là của Nguyễn Vĩnh Khánh.

Hắn mở ngăn kéo nhỏ của chiếc tủ gỗ hai lớp, đặt miếng đồng khắc chữ 'Tích' vào bên cạnh bức thư cũ của Ông Tư. Vật đã đi cùng hắn từ những ngày trước cuộc xuống sông nay trở về đúng chỗ, được giữ như ký ức cha con nhưng không định nghĩa con người hiện tại.

Bồi đứng bên cạnh, hai bàn tay nhỏ nhắn bám chặt vào mép bàn gỗ, ngước mắt nhìn Khánh:

- Eng Khánh ơi... Chừ ông Tư mất rồi, o Bảy cũng không còn làm Canh Thoải nữa, tiệm Vong Ký của mình có đóng cửa luôn không eng?

Khánh nhìn đứa nhỏ. Ánh mắt của Bồi đầy vẻ lo lắng. Thằng bé sợ rằng nếu tiệm đóng cửa, nó sẽ không còn nơi nào để đi, và những vong hồn đau khổ ngoài kia sẽ không còn ai lắng nghe lời hẹn của họ. Khánh không trả lời ngay. Hắn không muốn dùng những lời dặn dò hay di nguyện của Ông Tư để làm cái cớ cho sự lựa chọn của mình. Hắn muốn tự mình đưa ra quyết định.

Hắn với tay lấy bức thư cuối cùng của Ông Tư đặt trên kệ sách cũ. Bức thư được viết bằng nét chữ mực tàu đã hơi nhòe của ông cụ. Khánh mở thư ra đọc. Bức thư rất ngắn, không hề có những lời ủy thác nặng nề hay ép buộc Khánh phải nối nghiệp.

Ông Tư chỉ viết vài dòng giản dị:

'Khánh con. Đời người coi sóc sổ trắng vốn dĩ chẳng cần ai ban ơn, đó hoàn toàn là sự lựa chọn tự nguyện. Nếu con chọn bước tiếp con đường này, con phải tự khắc tên mình vào trang cuối, và tự mình gánh vác ba điều luật của tổ tiên truyền lại. Bằng không, hãy đốt cuốn sổ đi và sống một cuộc đời bình thường như con mong muốn. Ta không trách con.'

Ba điều luật được viết rõ ràng ở trang đầu tiên của Vong Ký trắng:

Một, không bán người sống hay người chết vì tiền tài.

Hai, không nhận cầm cố sinh mạng của bất kỳ ai để kéo dài bóng tối.

Ba, không tự ý mở Cửa Âm Hương vì tư lợi cá nhân.

Khánh đọc xong, khẽ mỉm cười. Hắn cầm cây bút lông, chấm vào đĩa son đỏ đã được nghiền sẵn trên bàn. Hắn viết thêm một dòng chữ nhỏ bên dưới ba điều luật cũ. Đó là nguyên tắc hắn tự đúc rút sau trận chiến với Vong Ký đen. Điều thứ tư quy định việc ghi tên nhằm gìn giữ và trả tự do, tuyệt đối không nhằm chiếm hữu.

Hắn lật cuốn Vong Ký trắng đến trang cuối cùng. Trang giấy xù xì, màu vàng ngà của giấy tuyên chỉ cổ, hoàn toàn bỏ trống và không có số trang. Khi Khánh nhìn vào trang giấy, dưới ánh đèn dầu, từng nét chữ mờ nhạt màu xám đột ngột hiện lên như những mạch máu nhỏ chạy ngầm dưới thớ giấy. Những nét chữ đó dần dần định hình thành ba chữ: 'Nguyễn Vĩnh Khánh'.

Tên 'Tích' không hề xuất hiện trên trang giấy này.

Cuốn sổ trắng này nhận diện người đang sống, nhận diện nhân cách và lựa chọn của hiện tại, chứ không đòi hỏi một danh tính đã thuộc về quá khứ của tám mươi mốt năm trước. Trang cuối cùng chỉ chờ đợi sự tự nguyện của người quản sổ mới.

Không có một thế lực nào ép buộc hắn. Không có những tiếng gọi âm u từ dưới sông Hương vọng lên đòi nợ. Chỉ có tiếng mưa đêm rơi đều đều ngoài hiên và ánh mắt tin cậy của Bồi đang nhìn hắn.

Khánh dùng một cây kim nhỏ, chích nhẹ vào đầu ngón tay trỏ của mình. Một giọt máu đỏ tươi rỉ ra. Hắn hòa giọt máu đó vào đĩa son đỏ trên bàn, rồi cầm bút lông chấm mực son, đặt bút lên trang giấy trắng. Hắn viết từng nét dứt khoát, rõ ràng: 'Nguyễn Vĩnh Khánh'.

Nét chữ màu đỏ tươi nổi bật trên nền giấy ngà.

Khi nét chữ cuối cùng hoàn thành, dòng tên đột ngột phát ra một luồng sáng đỏ nhạt rồi dịu đi, thấm sâu vào thớ giấy giống như nó đã nằm ở đó từ hàng trăm năm trước. Khánh không cảm thấy có bất kỳ sợi xiềng xích vô hình nào trói buộc lấy linh hồn mình. Ngược lại, hắn cảm thấy một sự nhẹ nhõm kỳ lạ thấm đẫm khắp cơ thể.

Cùng lúc đó, những trang giấy cũ trong cuốn Vong Ký trắng - nơi ghi tên của hàng trăm vong hồn đã được giải thoát trước đây - đồng loạt phát ra tiếng xào xạc nhẹ. Những nét chữ mực đỏ trên các trang cũ hơi phai đi một tông màu, trở nên trầm mặc và nằm yên lặng trong lòng cuốn sổ.

Dưới lớp áo, vết bớt cá đỏ trên bả vai Khánh khẽ nhói rồi dịu. Đầu cá vẫn dừng sát xương ức, cách tim một khoảng ngắn. Từ lúc Cửa khép nó chưa tiến thêm, nhưng màu đỏ không nhạt đi và không có giao ước mới nào trung hòa nó. Khánh ghi riêng vào sổ theo dõi: vết neo hồn còn nguy hiểm, phải kiểm tra mỗi ngày.

Bồi đứng bên cạnh, nhìn thấy dòng tên viết bằng máu và son trên trang giấy, liền khẽ gọi:

- Eng Khánh...

- Răng con?

Khánh quay lại nhìn em.

- Chừ con có được tiếp tục ở lại tiệm để nghe tên cho tiệm nữa không eng?

Giọng thằng bé hơi run, hai bàn tay cứ xoắn lấy vạt áo.

Khánh xoa đầu đứa nhỏ, cười nói:

- Không ở đây thì mi đi mô? Quán chè của o Bảy đâu có nuôi nổi cái bụng háu ăn của mi. Việc của mi từ ngày mai là phụ tui dọn dẹp tiệm, đếm khánh đồng trên bàn thờ mỗi buổi sáng, và ghi chép danh sách khách vào cuốn sổ phụ. Nhưng tui cấm mi không được tự ý xuống sông Hương hay đụng vào mấy món tà vật trong kho nghe chưa?

Bồi nghe vậy thì hai mắt sáng lên, gật đầu lia lịa:

- Con nhớ rồi eng! Con hứa không nghịch bậy đâu!

Cô Bảy đứng dậy, bước về phía cửa tiệm:

- Thôi, o về nhà ngủ đây. Mai còn phải dậy sớm nấu chè bắp. Mấy đứa cũng nghỉ ngơi sớm đi, mấy ngày ni mệt mỏi quá chừng rồi.

Quang và Phan Khanh cũng đứng lên. Quang vỗ vai Khánh:

- Tao về trường đây. Mấy hôm nay xin nghỉ dạy nhiều quá, ngày mai phải lên lớp lại rồi. Có chuyện chi cứ gọi tao.

Phan Khanh chỉnh lại chiếc áo khoác gió, gật đầu với Khánh:

- Tôi cũng phải về đồn để hoàn tất hồ sơ vụ án Hoàng Thị Lan. Mọi việc ở đây ổn rồi chứ?

- Dạ ổn. Cảm ơn anh Khanh, cảm ơn mi nghe Quang.

Khánh tiễn họ ra đến cửa tiệm.

Trời đêm Bao Vinh mát mẻ sau cơn mưa. Những ngôi nhà cổ lợp ngói liệt nằm im lìm dưới ánh đèn đường vàng vọt. Dòng sông Hương ngoài kia trôi lững lờ, mặt nước phẳng lặng như một tấm gương lớn phản chiếu bầu trời đêm đầy sao. Cửa Âm Hương đã khép lại hoàn toàn, trả lại sự bình yên cho mảnh đất cố đô.

Khánh quay trở vào trong tiệm, đóng chặt cánh cửa gỗ rường phía trước. Hắn bước đến bàn thờ, lấy một nén nhang trầm đặt trên khay gỗ. Hắn châm lửa, khói nhang màu xám nhạt bay lên, mang theo mùi thơm ấm áp, quen thuộc của tiệm Vong Ký phủ khắp gian nhà.

Đây là nén nhang đầu tiên được thắp lên dưới danh nghĩa chủ tiệm mới của tiệm Vong Ký.

Khánh cắm nén nhang vào bát hương đồng cổ kính giữa bàn thờ, rồi cùng Bồi ngồi xuống chiếc phản gỗ giữa nhà. Hai người ngồi im lặng, lắng nghe tiếng đêm xứ Huế trôi qua trong sự yên bình hiếm hoi.

Thời gian trôi dần về khuya. Đồng hồ cổ treo tường trong tiệm gõ nhịp đều đặn.

*Cộc... Cộc... Cộc...*

Qua mười một giờ đêm, kim phút còn chưa chạm số mười hai. Ngày 07/09 vẫn chưa hết. Gian tiệm chìm vào bóng tối sâu thẳm, chỉ còn ánh sáng leo lét từ nén nhang trầm trên bàn thờ tỏa ra.

*Cộc. Cộc. Cộc.*

Ba tiếng gõ cửa khô khốc, nhẹ nhàng nhưng rõ mồn một đột ngột vang lên từ phía cánh cửa sau hướng ra sông Hương.

Bồi đang thiu thiu ngủ trên phản gỗ bỗng giật mình mở mắt. Em nghiêng đầu về phía cửa sau, đôi tai khẽ động đậy để lắng nghe một âm thanh rất khẽ truyền qua làn gió đêm.

Khánh đứng bật dậy, tay nắm chặt lấy cuốn Vong Ký trắng trên bàn.

Bồi ngước nhìn Khánh, giọng em run run nhưng rõ ràng:

- Eng Khánh... Có người gõ cửa. Là một giọng đàn bà ngoài bến sông. Người ta hỏi... tiệm Vong Ký chừ còn nhận giữ lời hẹn nữa không...

Chương khác

Xem thêm