Trấn Yểm Long Mạch - Chương 20: Miếu Bà Cốt Đất
Một dải vải đỏ rách nát treo lơ lửng trên cành đa cụt ngọn ngay lối vào bãi đất nứt là dấu hiệu đầu tiên đập vào mắt Nguyễn Trọng Khiêm khi họ đặt chân…
Nội dung chương
Một dải vải đỏ rách nát treo lơ lửng trên cành đa cụt ngọn ngay lối vào bãi đất nứt là dấu hiệu đầu tiên đập vào mắt Nguyễn Trọng Khiêm khi họ đặt chân tới rìa làng Vạn Mạch. Khác với lệ thường của các ngôi miếu thờ thần linh bản thổ vốn được quét dọn sạch sẽ vào ngày rằm, lối dẫn vào miếu Bà Cốt Đất lại bị chắn ngang bởi một chiếc cọc tre cắm ngược xuống lòng đất. Đầu nhọn của nó chĩa thẳng lên trời như một lời cảnh báo cấm người ngoài xâm phạm.
Bãi đất xung quanh ngôi miếu nứt nẻ thành những đường rãnh sâu hoắm, rộng bằng cả bàn tay người lớn, chạy ngoằn ngoèo từ phía bờ sông Bạch Huyệt lan tận vào chân móng công trình cổ. Hơi nóng hầm hập từ những kẽ đất bốc lên, mang theo mùi bùn non ẩm ướt pha lẫn mùi nhang mốc lâu ngày không được thông khí.
Khiêm dừng bước trước chiếc cọc tre cắm ngược, rút chiếc thước dây kim loại từ thắt lưng ra đo đạc khoảng cách giữa các vết nứt trên mặt đất. Anh gõ nhẹ mũi giày xuống lớp đất sét xám xịt bên cạnh kẽ hở, cảm nhận rõ độ rỗng tuếch dưới lòng đất.
- Đất ở đây bị sụt lún nghiêm trọng. - Khiêm nói, giọng anh trầm thấp và lạnh lùng. - Cấu trúc địa tầng bên dưới đã bị phá vỡ hoàn toàn. Nước sông Bạch Huyệt đang ngấm ngược vào trong các mạch đất trống này.
Lê Huyền Anh đứng ngay sau lưng anh, hai tay cô ôm chặt cuốn sổ nợ đã cũ nát lấy được từ nhà thờ họ Trịnh. Gương mặt cô vẫn chưa hồi lại sắc hồng sau những phát hiện kinh hoàng về cái chết của mẹ mình. Cô nhìn chằm chằm vào ngôi miếu nhỏ xây bằng gạch vồ xám xịt nằm lọt thỏm giữa bãi đất hoang, mái ngói âm dương đã phủ kín rêu xanh đen.
- Ba tôi từng nói, miếu Bà Cốt Đất là nơi tụ khí của cả vùng trung du này trước khi đổ ra sông. - Giọng Huyền Anh khản đặc. - Nhưng trong phả hệ dòng họ Lê bị xóa tên, nơi này được gọi là huyệt âm của điểm trấn thứ năm. Những người bị gọi đi... đều phải qua đây trước khi ra sông Bạch Huyệt.
Cụ Vạn, người trông coi ngôi miếu cổ từ hơn ba mươi năm nay, từ trong bóng tối của hiên miếu bước ra. Lưng cụ còng rạp xuống, hai bàn tay gầy guộc bám chặt vào chiếc gậy tre bóng loáng. Cụ nhìn hai người bằng con mắt đục ngầu, không có chút sinh khí nào của người sống.
- Cậu họ Nguyễn và cô họ Lê đúng không? - Cụ Vạn cất tiếng, giọng khàn khàn như tiếng hai mảnh ngói vỡ cọ vào nhau. - Đã biết nơi này là huyệt âm, sao còn tìm đến làm gì? Đất đang động, người sống bén mảng vào chỉ tổ làm mồi cho mạch phản.
Khiêm không lùi bước. Anh bước qua chiếc cọc tre cắm ngược, tiến thẳng đến trước mặt cụ Vạn.
- Chúng tôi đến để tìm hiểu về những cái tên bị xóa trong sổ nợ của họ Trịnh. - Khiêm nhìn thẳng vào mắt cụ Vạn. - Cụ là người trông coi nơi này, chắc chắn cụ biết những ống tre chôn dưới nền miếu chứa thứ gì.
Cụ Vạn nghe nhắc đến "ống tre chôn dưới nền miếu" thì bỗng nhiên rùng mình. Cụ đưa bàn tay run rẩy lên vuốt chòm râu thưa thớt, mắt đảo quanh bãi đất nứt nẻ như sợ hãi một chuyện khuất tất sắp trồi lên từ những kẽ đất sâu.
- Bậy! Không được nói càn ở cửa miếu! - Cụ Vạn gắt lên, giọng run rẩy. - Đó là chuyện của các cụ đời trước, liên quan đến lời thề của bảy dòng họ. Người trẻ các người biết gì mà xen vào? Mau về đi, kẻo trời tối thì không có đường ra khỏi bãi đất này đâu.
Huyền Anh bước lên một bước, cô mở cuốn sổ nợ ra, chỉ vào dòng chữ ghi tên mẹ mình.
- Mẹ tôi, Lê Thị Nhã, đã mất ở khúc sông này năm hai nghìn lẻ bảy. - Nước mắt cô chực trào ra nhưng cô cố kìm nén lại. - Ba tôi đã dâng tên bà ấy cho đất để cứu cả chi họ Lê. Cụ Vạn, cụ có mặt ở đây từ thời điểm đó, cụ không thể bảo mình không biết gì được.
Cụ Vạn nhìn chằm chằm vào dòng chữ mực xanh trên trang giấy bản mục nát. Đôi môi cụ mím chặt, những nếp nhăn trên mặt co rúm lại. Cụ thở dài một tiếng dài thườn thượt, âm thanh ấy nghe giống hệt tiếng gió rít qua khe cửa của ngôi miếu cổ vào những đêm đông lạnh giá.
- Vào đi. - Cụ Vạn buông gậy xuống đất, quay lưng đi vào trong miếu. - Nhưng chỉ được nhìn, không được chạm vào bất cứ thứ gì. Đất ở đây nhạy cảm lắm, chỉ một chút động chạm nhỏ cũng đủ để mạch khí nổi giận.
Khiêm và Huyền Anh theo sau cụ Vạn bước vào bên trong ngôi miếu. Không gian bên trong vô cùng chật hẹp và tối tăm. Nguồn sáng duy nhất phát ra từ ngọn đèn dầu lạc leo lét đặt trên bệ thờ chính. Mùi nhang mốc nồng nặc xộc thẳng vào mũi, khiến Khiêm phải khẽ nhíu mày.
Giữa ban thờ là một pho tượng bà bằng đất nung xám xịt. Pho tượng được tạc theo tư thế ngồi kiết già, nhưng điều đáng sợ là khuôn mặt tượng hoàn toàn nhẵn nhụi, không có mắt, không có mũi, chỉ có một cái miệng hơi hé mở như đang chực phát ra tiếng kêu cứu. Hơi đất ẩm ướt bao phủ lấy pho tượng, khiến trên bề mặt đất nung rỉ ra những giọt nước li ti, trông giống như những giọt mồ hôi lạnh chảy dài trên khuôn mặt không có ngũ quan.
Khiêm tiến lại gần bệ thờ, anh cúi xuống quan sát phần nền miếu được lát bằng gạch vồ cỡ lớn. Khác với những ngôi miếu thông thường có nền gạch bằng phẳng, nền gạch của miếu Bà Cốt Đất lại có dấu hiệu bị xáo trộn. Những viên gạch vồ xung quanh bệ thờ không được xếp khít nhau mà có những khoảng hở nhỏ, từ đó đùn lên lớp đất sét màu xám đen ướt sũng.
Anh quỳ xuống, dùng ngón tay gạt nhẹ lớp đất sét trên một khe gạch. Dưới lớp đất xám, anh nhìn thấy đầu của một ống tre mục nát nằm lộ thiên.
- Đây là cái gì? - Khiêm hỏi, ngước mắt nhìn cụ Vạn đang đứng tựa lưng vào cột gỗ lim.
Cụ Vạn không nhìn Khiêm, cụ nhìn lên pho tượng đất không mắt kia, giọng cụ trầm xuống:
- Đó là những ống tre chứa mệnh của những người đã bị gọi đi. Mỗi khi một dòng họ dâng tên để trả nợ đất, người ta lại viết tên của người đó vào một thẻ gỗ, bỏ vào ống tre rồi chôn dưới chân Bà Cốt Đất. Bà sẽ giữ lấy phần hồn của họ, không cho họ trôi ra sông Bạch Huyệt để quấy nhiễu long mạch.
Huyền Anh quỳ sụp xuống bên cạnh Khiêm. Cô dùng chiếc dao nhỏ chuyên dùng để cạo bia đá mang theo trong túi, cẩn thận nạo lớp đất sét xung quanh ống tre mục. Khi lớp đất được dọn sạch, cô khẽ rùng mình. Dưới nền miếu không chỉ có một ống tre, mà có hàng chục ống tre lớn nhỏ được xếp lớp chồng chéo lên nhau, giống như một ngôi mộ tập thể thu nhỏ.
Khiêm giúp cô nhấc một ống tre đã mục nát gần hết lên khỏi mặt đất. Ống tre mủn ra ngay khi chạm vào tay anh, để lộ ra bên trong một thẻ gỗ dẹt bằng ngón tay, màu đen xỉn vì ngấm nước đất lâu ngày.
Huyền Anh đón lấy thẻ gỗ từ tay Khiêm. Cô dùng khăn giấy lau sạch lớp bùn bám trên bề mặt gỗ. Trên thẻ gỗ khắc ba chữ Nôm bằng nét dao thô sơ nhưng dứt khoát.
- "Thị Nhã". - Huyền Anh đọc nhỏ, giọng cô run lên bần bật. - Chỉ có tên đệm và tên chính. Không có họ Lê.
- Tại sao lại cắt họ? - Khiêm quay sang hỏi cụ Vạn.
Cụ Vạn cười lạnh một tiếng, tiếng cười nghe buốt giá cả sống lưng:
- Đất chỉ đòi mạng người, không đòi dòng họ. Nếu ghi cả họ vào thẻ gỗ, mạch phản sẽ theo đường máu mủ mà tìm đến tiêu diệt toàn bộ những người còn sống trong họ đó. Tổ tiên bảy nhà các người khôn ngoan lắm, khi dâng tên cho đất, họ đều dùng dao cạo sạch chữ họ đi, chỉ để lại tên gọi để đất biết đường mà bắt. Nhưng làm thế là lừa đất, nợ cũ không trả hết thì nợ mới lại chồng lên. Đó là lý do vì sao hơn hai trăm năm qua, bảy dòng họ vẫn lần lượt chết dần chết mòn mà không cách nào hóa giải được.
Khiêm nhìn kỹ vào kẽ đất nơi vừa nhấc ống tre lên. Anh phát hiện ra lẫn trong lớp đất sét xám xịt có vài mảnh trắng nhỏ, kích thước chỉ bằng hạt ngô, bề mặt xốp và dễ vỡ. Anh nhặt một mảnh lên, đưa lên mũi ngửi thử. Mùi vôi mục pha lẫn mùi canxi mục nát.
- Đây là xương người. - Khiêm lạnh lùng kết luận. - Những người bị dâng tên không chỉ bị xóa họ trên thẻ gỗ. Họ thực sự đã bị chôn sống hoặc tro cốt của họ đã được rải dưới nền miếu này.
Huyền Anh nghe vậy thì buông rơi chiếc thẻ gỗ xuống đất. Cô ôm lấy mặt, bờ vai run lên bần bật. Nỗi đau đớn và sự ghê tởm trước những gì tổ tiên mình đã làm khiến cô không thể chịu đựng nổi.
- Ba tôi... ông ấy biết rõ điều này. - Cô nghẹn ngào nói qua kẽ tay. - Ông ấy biết mẹ tôi sẽ phải nằm lại đây, dưới nền đất lạnh lẽo này, không có họ, không có danh tính, chỉ là một cái tên để đất giày xéo. Vậy mà ông ấy vẫn làm.
Khiêm đặt tay lên vai cô, siết nhẹ như một lời an ủi. Anh quay sang cụ Vạn, giọng anh đanh lại:
- Cụ Vạn, chiếc cọc thứ bảy của họ Nguyễn chúng tôi liên quan thế nào đến những thẻ gỗ này? Tại sao cha tôi trước khi mất lại dặn tôi không được nhổ chiếc cọc đó?
Cụ Vạn nghe đến "chiếc cọc thứ bảy" thì sắc mặt lập tức thay đổi. Cụ bước giật lùi lại vài bước, lưng đập mạnh vào cột gỗ lim của ngôi miếu cổ. Đôi mắt đục ngầu của cụ trợn trừng lên nhìn Khiêm, đầy vẻ kinh hãi.
- Cậu... cậu là con trai ông Nguyễn Trọng? - Giọng cụ Vạn run rẩy hỏi lại.
- Phải. - Khiêm nói. - Tôi là Nguyễn Trọng Khiêm. Cha tôi là Nguyễn Trọng Minh. Ông ấy đã chết ở đồi keo khi cố tìm cách mở đường trả lại tên cho những người bị hiến tế.
Cụ Vạn thở dốc, hai tay cụ chắp lại trước ngực vái lấy vái để về phía pho tượng đất không mắt.
- Oan gia... Đúng là oan gia ngõ hẹp! - Cụ Vạn lầm rầm khấn vái. - Ông Nguyễn Trọng năm xưa cũng đến đây, cũng hỏi tôi câu này. Tôi đã bảo ông ấy dừng lại, nhưng ông ấy không nghe. Ông ấy muốn nhổ chiếc cọc thứ bảy để giải thoát cho linh hồn của những người bị dâng tên dưới nền miếu này. Nhưng ông ấy đâu biết rằng, chiếc cọc thứ bảy đó là chốt khóa của toàn bộ trận đồ.
- Chốt khóa thế nào? - Khiêm gặng hỏi, anh bước lại gần cụ Vạn hơn.
Cụ Vạn lắc đầu nguầy nguậy, không chịu nói tiếp. Cụ chỉ tay ra phía ngoài cửa miếu, nơi bãi đất nứt nẻ đang bốc lên những làn hơi nước mờ mịt dưới ánh hoàng hôn đang tắt dần.
- Cậu đừng hỏi tôi nữa. Tôi chỉ là người trông miếu, không phải thầy địa lý lập trận. Tôi chỉ biết rằng, nếu chiếc cọc thứ bảy bị nhổ lên, tất cả những thẻ gỗ chôn dưới nền miếu này sẽ mất đi sức trấn yểm. Những cái tên bị xóa họ sẽ quay trở lại tìm những người cùng huyết thống với họ để đòi lại cái họ đã mất. Lúc đó, không chỉ có họ Nguyễn của cậu, mà cả họ Lê, họ Trịnh, họ Phạm... tất cả sẽ bị đất nuốt chửng.
Không khí trong ngôi miếu đột ngột trở nên ngột ngạt đến khó thở. Ngọn đèn dầu lạc trên ban thờ khẽ chao đảo dù không có gió. Mùi bùn sông Bạch Huyệt bốc lên ngày càng nồng nặc, như thể dòng sông đang dâng nước lên tận chân bệ thờ.
Từ khoảng cách rất xa, tiếng chuông đình làng Vạn Mạch bắt đầu vang lên. Tiếng chuông trầm đục, ngân dài qua những bãi đất nứt nẻ, mang theo hơi lạnh buốt giá của buổi chiều tà vùng trung du Bắc Bộ. Mỗi tiếng chuông vang lên, nền gạch vồ dưới chân Khiêm lại khẽ rung nhẹ, khiến những ống tre mục nát dưới đất va chạm vào nhau tạo ra những tiếng lách cách ghê rợn.
Huyền Anh nhặt chiếc thẻ gỗ ghi tên mẹ mình lên, cẩn thận bọc vào chiếc khăn tay rồi cất vào túi áo. Cô nhìn Khiêm, ánh mắt đầy quyết tâm xen lẫn sự mệt mỏi.
- Chúng ta phải đi thôi, Khiêm. - Cô nói. - Đất ở đây đang chuyển động rồi. Tôi cảm thấy chân mình đang bị hút xuống.
Khiêm cúi xuống nhìn hai bàn chân mình. Lớp đất sét xám xịt dưới khe gạch vồ đang từ từ đùn lên, bao phủ lấy gót giày của anh. Một cảm giác tê buốt, lạnh ngắt từ dưới đất truyền qua đế giày, chạy dọc lên sống lưng anh. Chiếc cọc đồng trong túi áo anh đột nhiên nóng ran lên, tỏa ra một luồng nhiệt lượng mạnh mẽ như để chống lại cái lạnh từ lòng đất bốc lên.
Anh nắm lấy tay Huyền Anh, kéo cô lùi lại phía cửa miếu.
- Cụ Vạn, đi cùng chúng tôi! - Khiêm gọi to.
Nhưng cụ Vạn không di chuyển. Cụ vẫn đứng yên bên cột gỗ lim, hai mắt nhắm nghiền, miệng lầm rầm những lời khấn vái cổ xưa. Thân hình còng rạp của cụ rõ ràng đang hòa làm một với bóng tối của ngôi miếu cổ.
- Tôi không đi đâu cả. - Giọng cụ Vạn vọng ra từ trong bóng tối, nhỏ dần và xa xăm. - Tôi đã thề với đất sẽ ở lại đây canh giữ những cái tên này cho đến hơi thở cuối cùng. Cậu họ Nguyễn kia... hãy nhớ lấy lời cha cậu dặn. Đừng nhổ chiếc cọc thứ bảy, trừ khi cậu sẵn sàng dùng cả dòng họ mình để đền mạng cho đất.
Khiêm và Huyền Anh vội vã bước ra khỏi ngôi miếu. Ngay khi họ đặt chân ra ngoài bãi đất nứt, một luồng gió lạnh buốt từ phía sông Bạch Huyệt thổi tới, cuốn theo những hạt cát bụi mù mịt.
Khiêm ngoảnh lại nhìn ngôi miếu nhỏ. Dưới ánh hoàng hôn đỏ ngầu như máu, ngôi miếu trông giống như một chiếc quan tài bằng gạch vồ khổng lồ được chôn nửa chừng dưới lòng đất nứt nẻ.
Đột nhiên, từ bên trong ngôi miếu vang lên một tiếng "rắc" khô khốc, âm thanh ấy sắc lẹm và rõ mồn một giữa tiếng gió rít.
Khiêm khựng lại. Anh nhìn chằm chằm vào pho tượng bà bằng đất không mắt qua cửa miếu đang mở toang.
Trên khuôn mặt nhẵn nhụi của pho tượng đất nung, một vết nứt lớn xuất hiện ngay vị trí của khuôn miệng. Vết nứt từ từ mở rộng ra, giống như một cái miệng đang há to để nôn ra thứ gì đó.
Từ trong kẽ nứt của khuôn miệng tượng đất, một vật thể nhỏ màu đen từ từ trồi ra, rồi rơi bộp xuống bệ thờ đầy tro nhang mốc.
Đó là một thẻ gỗ cũ kỹ, mục nát hơn tất cả những thẻ gỗ họ từng thấy dưới nền miếu. Trên bề mặt thẻ gỗ, dù đã bị thời gian và bùn đất tàn phá, vẫn còn lộ rõ một chữ Nôm được khắc rất sâu, nét chữ sắc bén và ngạo nghễ.
Chữ đó là: *Nguyễn*.