Trấn Yểm Long Mạch - Chương 17: Đêm đất nuốt người

Chiếc xe bán tải cũ kỹ gầm gừ leo lên con dốc dẫn vào xóm ngoài của làng Vạn Mạch. Đêm nay trời không có trăng, bóng tối đặc quánh bao trùm lấy những…

Nội dung chương

Chiếc xe bán tải cũ kỹ gầm gừ leo lên con dốc dẫn vào xóm ngoài của làng Vạn Mạch. Đêm nay trời không có trăng, bóng tối đặc quánh bao trùm lấy những rặng keo lá tràm trồng san sát hai bên đường đồi. Từ phía sông Bạch Huyệt, sương mù tràn vào mỗi lúc một dày, quấn chặt lấy những thân cây khẳng khiu và biến những ngôi nhà ngói xám thưa thớt bên đường thành những khối bóng mờ ảo, dị dạng. Khiêm giữ chặt vô lăng, mắt chăm chú nhìn vào khoảng sáng vàng vọt của hai cụm đèn pha đang cố xuyên qua màn sương mù dày đặc. Cảm giác bất an từ chiều, sau cái chết đột ngột của ông Phán ở ao cổ họ Trần, vẫn chưa hề nguôi ngoai. Nó cứ âm ỉ cháy trong lồng ngực anh, nơi chiếc cọc đồng cổ đang nằm im lìm trong túi áo ngực, tỏa ra một luồng hơi ấm áp dị thường.

Ngồi ở ghế phụ, Huyền Anh liên tục lật giở những trang gia phả chép tay của họ Lê mà cô mang theo. Tiếng giấy dó sột soạt vang lên trong cabin xe chật hẹp, xen lẫn tiếng động cơ rung bần bật mỗi khi bánh xe vấp phải những hòn đá tảng nằm ngổn ngang trên mặt đường chưa cấp phối. Cô đưa ngón tay miết nhẹ lên một dòng chữ Hán đã mờ mực, khẽ thở dài.

- Họ Phạm nhánh phụ ở làng Vạn Mạch vốn là những người trông coi miếu quốc sư dưới chân núi Long Tàng. Nhưng trong phả hệ họ Lê có ghi chép lại, vào năm Minh Mạng thứ hai, họ Phạm đột ngột dời nhà ra sát chân đồi keo, lập thành một nhánh riêng biệt. Người ta đồn rằng họ làm thế là để canh giữ một huyệt trấn sâu dưới lòng đất, tránh xa sự dòm ngó của người ngoài. Nhưng tôi nghĩ họ đang trốn chạy một vật lạ.

Khiêm xoay vô lăng để tránh một vũng nước sâu ngập bùn đỏ.

- Trốn chạy hay không thì họ vẫn phải đối mặt. Họ Trần ở Đông Khê giữ ao cổ, họ Phạm ở Vạn Mạch giữ miếu cổ. Mỗi nhà đều có một điểm trấn riêng. Cái chết của ông Phán chiều nay không phải là ngẫu nhiên. Mạch khí đang thu hồi lại những gì nó đã ban phát cho các dòng họ.

Chiếc xe rẽ vào một con đường mòn nhỏ hẹp, hai bên là những rặng keo lá tràm cao vút, cành lá rủ xuống quẹt vào thùng xe tạo ra những tiếng sột soạt ghê người. Cuối con đường, một ngôi nhà ngói ba gian cũ kỹ hiện ra dưới chân đồi. Đó là nhà của ông Phạm Đình Cự, trưởng nhánh phụ của họ Phạm ở làng Vạn Mạch.

Khiêm tắt máy xe. Không gian lập tức chìm vào một sự im lặng tịch mịch. Chỉ có tiếng ếch nhái kêu râm ran từ những vũng nước đọng và tiếng gió rít qua khe lá keo. Sân nhà họ Phạm nhánh phụ hiện ra dưới ánh đèn định vị của xe. Đó là một khoảng sân khá rộng, mới được lát lại bằng những viên gạch đỏ nung thủ công. Những viên gạch này vẫn còn bốc lên mùi đất nung nồng nồng xen lẫn mùi vôi vữa chưa kịp khô.

Khiêm mở cửa bước xuống xe. Ngay khi chân anh chạm vào nền đất sát mép sân gạch, anh cảm thấy một sự bất thường. Mặt đất dưới chân không hề có độ đàn hồi tự nhiên của đất đồi, mà nó mềm và xốp một cách kỳ lạ, giống như bên dưới lớp cỏ kia là một khoang rỗng chứa đầy nước bùn.

Huyền Anh bước xuống sau anh, cô rùng mình co vai lại vì lạnh.

- Khiêm, anh có nghe thấy tiếng gì không?

Khiêm đứng im, nín thở để lắng nghe. Từ phía dưới nền gạch mới lát của sân nhà họ Phạm, một tiếng động trầm đục, đứt quãng vọng lên. Nó giống như tiếng thở của một sinh vật khổng lồ đang bị nghẹt thở dưới lớp bùn sâu. Âm thanh này Khiêm đã quá quen thuộc từ thuở nhỏ dưới nền nhà tổ họ Nguyễn, nhưng ở đây, tiếng thở nghe nặng nề và dồn dập hơn nhiều.

Chiếc cọc đồng trong túi áo ngực của Khiêm đột ngột nóng lên. Cơn đau nhói ở ngực khiến anh phải đưa tay lên giữ chặt lấy lồng ngực, nín lại rồi nói để lấy lại thăng bằng. Anh bước nhanh về phía hiên nhà.

Cửa chính của ngôi nhà ba gian khép hờ, bên trong có ánh sáng leo lét của một cây đèn bão và mùi hương trầm nồng nặc. Trên thềm hiên, ông Phạm Đình Cự đang ngồi bệt dưới đất, hai tay ôm đầu, người run lên bần bật.

- Ông Cự. - Khiêm gọi khẽ.

Người đàn ông giật nảy mình, ngước khuôn mặt xám ngắt, đầy những nếp nhăn sâu hoắm lên nhìn họ. Đôi mắt ông ta đỏ ngầu, chứa đầy sự sợ hãi tột cùng.

- Các người... các người lại đến đây làm gì? - Ông Cự lắp bắp, giọng nói khàn đặc như người bị viêm họng nặng. - Tôi đã bảo không biết gì rồi mà. Đi đi, đừng ám nhà tôi nữa.

- Ông Cự, ông Phán ở Đông Khê đã chết rồi. Ao cổ họ Trần đã bị sập huyệt. - Huyền Anh bước lên, giọng cô nghiêm nghị. - Nếu ông không nói ra sự thật về điểm trấn thứ tư ở miếu cổ, dòng họ Phạm của ông cũng sẽ không tránh khỏi tai họa.

Ông Cự nghe thấy cái chết của ông Phán thì như bị sét đánh. Ông ta loạng choạng đứng dậy, bám chặt vào cột hiên bằng gỗ mít đã bị mối mọt đục rỗng.

- Ông Phán chết rồi? Thật sự... thật sự đến lượt chúng ta rồi sao? - Ông Cự lầm bầm, nước mắt nước mũi chảy dài trên khuôn mặt khắc khổ. - Lời thề... lời thề hai trăm năm. Đất đòi mạng thật rồi.

Đúng lúc đó, một tiếng rên rỉ yếu ớt vang lên từ góc sân tối om, nơi đống cát sỏi dùng để lát sân vẫn chưa được dọn sạch.

Khiêm lập tức quay người, bật chiếc đèn pin cầm tay công suất lớn quét về phía góc sân.

Dưới ánh sáng trắng của đèn pin, một cảnh tượng kinh hoàng hiện ra trước mắt họ.

Phạm Đình Quý, con trai thứ của ông Cự, đang bị chôn sống giữa nền gạch mới lát. Nhưng đây không phải là một vụ sụt lún thông thường. Mặt đất xung quanh vị trí của Quý hoàn toàn phẳng lặng, không hề có hố sụt hay vết nứt lớn nào. Lớp đất sét xám xịt dâng lên đến ngang ngực anh ta, mút chặt lấy thân thể như một chiếc khuôn đúc khổng lồ.

Quý vẫn còn sống. Hai mắt anh ta trợn ngược lên, môi tím tái vì thiếu oxy. Hai tay anh ta giang rộng trên mặt đất, các ngón tay cào bấu điên cuồng vào những viên gạch đỏ mới lát để tìm điểm tựa, nhưng vô ích. Những viên gạch đỏ dưới ngón tay anh ta đã bị cào nát, máu từ các đầu ngón tay chảy ra nhuộm đỏ một khoảng bùn xám xung quanh.

- Cứu... cứu con... - Giọng Quý khàn đặc, chỉ còn là những tiếng khò khè đứt quãng thoát ra từ lồng ngực đang bị đất siết chặt.

- Quý! - Khiêm kêu lên, định lao tới.

- Đừng động vào nó! - Ông Cự hét lên một tiếng thất thanh rồi lao ra ôm chặt lấy ngang hông Khiêm, kéo anh lùi lại. - Đừng chạm vào đất lúc này! Đất đang đòi nợ. Thằng Quý nó dám động vào bia yểm ở miếu cổ, nó tự chuốc lấy họa. Ai chạm vào nó lúc này cũng sẽ bị đất nuốt chửng.

- Ông điên rồi! - Khiêm giận dữ dùng sức gạt ông Cự ra. - Anh ta đang chết ngạt! Mau tìm xẻng cuốc ra đây!

Khiêm chạy lại bên cạnh Quý, quỳ xuống nền gạch nứt nẻ. Anh dùng hai tay cào thử lớp đất sét xám đang bao quanh ngực chàng trai. Tuy nhiên, ngay khi ngón tay anh chạm vào lớp bùn đó, một cảm giác lạnh buốt chạy dọc sống lưng anh. Đất ở đây có một độ nhớt kỳ lạ. Nó mềm như cháo loãng khi chạm nhẹ, nhưng khi Khiêm cố gắng dùng lực để móc đất ra, lớp bùn lập tức co rút lại. Bùn mút chặt lấy ngón tay anh như một thứ keo dính đặc quánh. Không hề có khoảng trống nào được tạo ra. Lớp đất như một thực thể sống, tự động lấp đầy mọi kẽ hở ngay khi có lực tác động bên ngoài.

Với kinh nghiệm của một kỹ sư khảo sát địa chất, Khiêm biết rằng hiện tượng này không tuân theo bất kỳ nguyên lý cơ học đất thông thường nào. Một nền đất đồi bán sơn địa như ở làng Vạn Mạch không thể tự nhiên biến thành một bồn cát lún có lực mút kinh hoàng như thế này. Phải có dòng chảy ngầm cực lớn bên dưới, hoặc sự hóa lỏng của đất dưới tác động của động đất. Nhưng ở đây, mặt đất hoàn toàn yên tĩnh, chỉ có tiếng thở trầm đục vang lên từ sâu bên dưới.

- Không thể đào bằng tay được. - Khiêm nói, trán anh lấm tấm mồ hôi. - Huyền Anh, tìm cho tôi một sợi dây thừng hoặc một thanh gỗ lớn nhanh lên.

Huyền Anh lập tức chạy quanh sân. Cô phát hiện một sợi dây thừng dùng để kéo nước giếng đang treo trên cành cây xoan bên cạnh bể chứa nước. Cô giật mạnh sợi dây xuống rồi chạy lại đưa cho Khiêm.

Khiêm nhanh chóng thắt một vòng thòng lọng lớn, luồn qua nách và ngực của Quý.

- Quý, bám chắc vào dây! - Khiêm hét lớn.

Nhưng Quý lúc này đã quá yếu. Hai mắt anh ta chỉ còn lòng trắng, đầu ngửa ra sau, miệng há hốc như một con cá mắc cạn. Lực ép của đất sét lên lồng ngực đang tăng lên từng giây, khiến anh ta không thể thực hiện nổi một động tác co bóp phổi bình thường.

Khiêm và Huyền Anh cùng nắm chặt lấy đầu dây thừng còn lại. Họ tì chân vào những viên gạch đỏ mới lát, dùng hết sức bình sinh để kéo. Sợi dây thừng căng ra, phát ra những tiếng két két chịu lực.

Tuy nhiên, thân thể của Quý không hề nhích lên dù chỉ một centimet. Lớp đất sét xám bên dưới như một bàn tay khổng lồ ghì chặt lấy đôi chân và phần thân dưới của anh ta.

- Đất đòi người... đất đòi người rồi... - Ông Cự quỳ sụp xuống bên cạnh, hai tay chắp lại vái lạy liên hồi về phía núi Long Tàng. - Tổ tiên họ Phạm đã ký giấy bán tên cho quốc sư để đổi lấy sự hưng thịnh của dòng họ. Nay mạch khí bị động, đất phải thu hồi nợ. Các người không cứu được nó đâu.

- Ông Cự! Ông câm miệng lại đi! - Huyền Anh hét lên, tay cô đã bị sợi dây thừng thô ráp cứa vào lòng bàn tay làm rớm máu đỏ. - Tại sao các ông lại bán tên? Ai đã bán tên? Nói mau.

Ông Cự nhìn con trai mình đang dần bị đất nuốt chửng, tinh thần hoàn toàn sụp đổ. Ông ta khóc rống lên, giọng nói xen lẫn tiếng nấc nghẹn ngào.

- Hai trăm năm trước... khi lập trận trấn yểm núi Long Tàng... quốc sư bảo mạch khí quá mạnh, cọc đồng không đủ để khóa. Phải dùng tên tuổi của người sống để làm vật dẫn, buộc mạch khí vào đất. Tổ tiên họ Phạm chúng tôi vì muốn giữ lại chức tước, ruộng vườn nên đã đồng ý bán tên của những người chết trẻ trong họ cho quốc sư để yểm vào điểm trấn thứ tư. Mỗi đời họ Phạm phải có một người chết để thế mạng cho mạch khí.

- Và Phạm Đình Tốn đã làm gì? - Khiêm vừa nghiến răng kéo dây vừa hỏi dồn.

- Ba năm trước, thằng Tốn về đây. Nó bảo muốn mở rộng làm ăn, cần phải nhổ cọc trấn để giải phóng long khí. Nó đưa cho thằng Quý một số tiền lớn để thằng Quý dẫn đường vào miếu cổ dưới chân đồi keo. Thằng Quý đã lén đào trộm một góc bia yểm mang đi bán cho Tốn. Từ đó, đất bắt đầu động. Mạch khí ở miếu cổ bị rò rỉ, đất trong sân nhà này cứ thế mềm ra mỗi khi đêm xuống.

Ngay khi ông Cự vừa dứt lời, một tiếng nổ trầm đục vang lên từ phía chân đồi keo, nơi có ngôi miếu cổ của họ Phạm. Một luồng khí lạnh buốt từ hướng đó thổi quét qua khoảng sân, làm tắt phụt cây đèn bão trên thềm hiên. Không gian chìm vào bóng tối dày đặc, chỉ còn lại ánh sáng yếu ớt từ chiếc đèn pin của Khiêm đang đặt trên mặt đất.

Đất dưới chân Quý đột ngột nhão ra như nước, rồi lập tức đông cứng lại như đá. Sợi dây thừng trên tay Khiêm và Huyền Anh đột ngột đứt phựt. Lực đàn hồi khiến cả hai ngã nhào ra phía sau, lưng đập mạnh xuống nền gạch đỏ nứt nẻ.

- Khiêm! - Huyền Anh hét lên trong bóng tối.

Khiêm lồm cồm bò dậy, anh nhặt chiếc đèn pin lên soi về phía góc sân.

Quý đã chìm hẳn xuống dưới lớp đất sét. Trên mặt sân chỉ lộ ra phần đỉnh đầu với mái tóc đen bết bùn đất.

Chiếc cọc đồng trong túi áo ngực của Khiêm lúc này nóng đến mức anh không thể chịu đựng nổi. Anh buộc phải thò tay vào túi áo, rút chiếc cọc đồng ra. Ngay khi chiếc cọc đồng lộ ra dưới ánh sáng đèn pin, bề mặt kim loại màu đồng đỏ của nó bỗng hiện lên những đường vân màu đen chạy dọc thân cọc, trông giống như những huyết quản đang phập phồng.

Khiêm cảm nhận được một luồng lực hút cực mạnh từ chiếc cọc đồng hướng xuống lòng đất dưới chân Quý. Rõ ràng chiếc cọc đồng này chính là chìa khóa điều khiển dòng chảy của mạch khí, nhưng nó cũng là thứ đang kích thích mạch phản hoạt động mạnh mẽ hơn.

Sau khi hút một lượng lớn mạch khí, những đường vân đen trên thân cọc đồng từ từ lặn xuống. Tiếng thở trầm đục dưới lòng đất cũng nhỏ dần rồi biến mất hẳn. Không gian xung quanh trở lại vẻ im lặng đến đáng sợ, chỉ còn tiếng gió rít qua rặng keo và tiếng khóc thê lương của ông Cự.

Mặt đất dưới chân họ không còn rung chuyển nữa. Nước bùn màu đỏ ngầu ở các kẽ nứt cũng bắt đầu rút xuống, để lại những vệt màu nâu đỏ khô khốc trên nền gạch.

Khiêm đứng dậy, người anh ướt đẫm mồ hôi lạnh. Anh nhìn chằm chằm vào khoảng sân phẳng lặng, nơi con trai ông Cự vừa bị nuốt chửng mà không để lại bất kỳ một vết lồi lõm nào trên mặt đất.

Ngay sau đó, mặt đất ở vị trí đỉnh đầu của Quý vừa chìm xuống khẽ đùn lên một chút bùn nhão.

Khiêm lập tức cúi xuống, soi đèn pin vào đống bùn nhỏ vừa đùn lên đó.

Từ trong lớp bùn xám xịt, một vật thể nhỏ màu đen từ từ trồi lên, giống như bị cơ thể của Quý đào thải ra trước khi anh ta hoàn toàn bị chôn vùi dưới lòng đất sâu.

Khiêm dùng ngón tay nhặt vật thể đó lên. Đó là một mảnh đồng cổ hình tam giác, bị rỉ sét ăn mòn nghiêm trọng, nhưng trên bề mặt vẫn còn nhìn rõ một chữ số được khắc chìm bằng nét chữ cổ phong.

Khiêm lau sạch lớp bùn bám trên mảnh đồng.

Chữ số khắc trên đó là số "Tứ".

Đồng thời, từ kẽ nứt dưới đất, một luồng khí tanh nồng bốc lên, kèm theo một tiếng khạc lớn. Mảnh đồng cổ rỉ sét nằm gọn trong lòng bàn tay Khiêm, lạnh buốt như băng đá.

Chương khác

Xem thêm