Trấn Yểm Long Mạch - Chương 19: Gương đồng soi mạch

Ba bát nước giếng đặt trên bậc thềm đá xanh nhà họ Trịnh đã hóa thành một màu đỏ ngầu như máu loãng ngay từ khi trời chưa sập tối. Nước trong bát không…

Nội dung chương

Ba bát nước giếng đặt trên bậc thềm đá xanh nhà họ Trịnh đã hóa thành một màu đỏ ngầu như máu loãng ngay từ khi trời chưa sập tối. Nước trong bát không bốc mùi tanh của bùn sông Bạch Huyệt, nhưng mặt nước phẳng lặng đến mức không một gợn gió nào có thể làm lay động. Trên cánh cửa buồng kín ở chái bên phải, tờ giấy bản màu đỏ niêm phong phòng bị dán ngược từ bao giờ. Chữ "Trấn" viết bằng nét mực tàu thô kệch lộn ngược đầu xuống đất, những vệt mực chảy dài xuống thớ gỗ xoan ngâm mục nát trông giống như những ngón tay đen đúa đang cố bám lấy ngạch cửa.

Khiêm dừng bước trước thềm đá, gót giày da của anh lún nhẹ xuống lớp đất thịt ẩm ướt trong sân. Mảnh đồng cổ khắc chữ "Tứ" nằm trong túi áo ngực vẫn tỏa ra một luồng lạnh buốt, ép chặt vào da thịt anh qua lớp vải sơ mi mỏng.

- Nước giếng đổi màu từ giờ Ngọ. - Một giọng nói khàn đặc vang lên từ phía hiên tối.

Ông Trịnh Tấn bước ra từ sau cánh cửa võng chạm hình hổ phù. Dáng người ông ta còng rạp xuống, hai đầu gối khuỳnh ra như người cả đời phải gánh đất nặng. Trên những ngón tay thô ráp của ông ta vẫn còn bám đầy những vệt đất sét xám xịt chưa kịp rửa sạch. Ông ta không nhìn vào Khiêm, cũng không nhìn vào Huyền Anh đang đứng bên cạnh với gương mặt nhợt nhạt, mà chỉ chăm chăm nhìn vào ba bát nước giếng trên thềm.

- Nhà họ Trịnh chúng tôi không đón khách sau khi mặt trời lặn sau núi Long Tàng. - Ông Tấn nói tiếp, giọng nói đều đều như tiếng cối xay lúa bằng gỗ. - Cậu Khiêm, cậu mang thứ không nên mang về đây rồi.

Khiêm không lùi bước. Anh thò tay vào túi áo, rút mảnh đồng cổ hình tam giác ra. Dưới ánh sáng nhập nhẹm của buổi hoàng hôn trung du, nét khắc chữ "Tứ" trên mảnh đồng xỉn màu trông rõ mồn một.

- Con trai ông Cự ở đồi keo đã bị đất nuốt. - Khiêm nói, giọng anh lạnh và dứt khoát. - Mảnh đồng này là thứ duy nhất trồi lên sau khi đất đông cứng lại. Ông Tấn, họ Phạm đã mất người thế mạng cho điểm trấn thứ tư. Họ Lê cũng đã có người nằm lại sông Bạch Huyệt. Bây giờ đến lượt họ Trịnh của các ông sao?

Ông Tấn khựng lại. Hai bàn tay đầy đất sét của ông ta khẽ siết chặt vào hai bên hông quần vải thô. Ông ta ngước mắt lên, con ngươi đục ngầu nhìn xoáy vào mảnh đồng trên tay Khiêm, rồi chuyển sang Huyền Anh.

Huyền Anh vẫn im lặng, nhưng bàn tay cô đang nắm chặt cuốn sổ tay bọc da. Những ngón tay cô siết mạnh đến mức các khớp xương chuyển sang màu trắng bệch. Dòng chữ ghi tên mẹ cô, bà Lê Thị Nhã, trong cuốn sổ nợ của họ Lê vẫn như một vết thương chưa lành, liên tục nhức nhối trong đầu cô.

- Họ Lê đã mất phả. - Huyền Anh lên tiếng, giọng cô run lên nhưng vẫn giữ được sự bình tĩnh. - Nhưng nợ đất thì vẫn còn đó. Ông Tấn, ba tôi đã dâng tên mẹ tôi cho sông Bạch Huyệt để cứu chi họ Lê ở phủ Hoàng Châu này. Họ Trịnh các ông giữ điểm trấn thứ hai, các ông định giấu chuyện này đến bao giờ?

Ông Tấn thở dài một tiếng sườn sượt. Tiếng thở của ông ta nặng nề, giống như tiếng gió rít qua những kẽ nứt của những ngôi mộ cổ ngoài cánh đồng Vạn Mạch. Ông ta quay người, đi về phía gian chái bịt kín bằng gạch vồ ở bên phải nhà thờ họ.

- Đi theo tôi. Nhưng nếu có chuyện gì xảy ra, hai người tự chịu lấy hậu quả. Lời thề của tổ tông bảy nhà không phải là thứ để người trẻ các người mang ra đùa giỡn.

Lối vào căn buồng kín nhỏ hẹp đến mức Khiêm phải hơi nghiêng vai mới lách qua được. Căn phòng hoàn toàn không có cửa sổ. Bốn bức tường xung quanh được xây bằng gạch vồ cỡ lớn, loại gạch nung thủ công từ thế kỷ trước, xám xịt và ẩm mốc. Không khí bên trong đặc quánh mùi dầu rái và mùi đất cát tích tụ lâu năm.

Ở chính giữa căn phòng, trên một chiếc bục gỗ lim thấp đã bị mối mọt ăn khuyết một góc, là một vật thể hình tròn được phủ kín bằng một tấm vải điều màu đỏ đã bạc màu. Tấm vải bám đầy bụi bặm, nhưng ở những chỗ nếp gấp, màu đỏ của vải vẫn giữ được vẻ rực rỡ đến kỳ lạ, giống như màu của những lá cờ hội đã cũ.

Khiêm đưa đèn pin soi xung quanh phòng. Dưới chân bục gỗ lim, đất nền không lát gạch mà để trần. Lớp đất thịt ở đây khô khốc, nứt nẻ thành những rãnh nhỏ chạy ngoằn ngoèo, hướng thẳng về phía chân bục gỗ như những nhánh sông đổ về biển.

- Đây là Thấu Long Kính. - Ông Tấn đứng bên cạnh ngọn đèn dầu lạc leo lét đặt trên một chiếc đôn sứ cũ, giọng ông ta thì thào. - Tổ tiên họ Trịnh khi xưa được quốc sư truyền lại chiếc gương này để canh chừng mạch khí của điểm trấn thứ hai. Gương này không dùng để soi mặt người sống. Ai cố tình nhìn vào mặt gương để tìm hình dung của mình, người đó sẽ bị mạch đất hút mất hồn phách.

Khiêm bước lại gần chiếc bục gỗ. Anh cảm nhận được một luồng khí lạnh buốt tỏa ra từ dưới tấm vải điều, luồng khí ấy mạnh đến mức khiến những sợi lông tơ trên tay anh dựng đứng lên.

- Làm thế nào để soi mạch? - Khiêm hỏi, tay anh đã đặt lên mép tấm vải đỏ.

- Dùng máu của người trong bảy dòng họ để khai quang mặt gương, sau đó đặt vật chứng của điểm trấn đã vỡ bên cạnh. - Ông Tấn nói, đôi mắt đục ngầu của ông ta lộ ra vẻ e dè. - Nhưng cậu Khiêm, cậu là người họ Nguyễn. Họ Nguyễn các người là dòng họ đứng đầu, cọc thứ bảy nằm trong tay nhà cậu. Cậu có chắc muốn khơi dậy mạch khí này không? Một khi mặt gương đã mở, những thứ nằm dưới đất sâu sẽ biết có người đang tìm chúng.

Khiêm không trả lời. Anh dùng ngón tay trỏ của bàn tay phải miết mạnh vào cạnh sắc của mảnh đồng cổ khắc chữ "Tứ". Cạnh đồng rỉ sét cứa một đường sâu vào da thịt anh, máu đỏ lập tức ứa ra, nhỏ từng giọt xuống tấm vải điều phủ trên gương.

Ngay khi giọt máu đầu tiên chạm vào vải đỏ, tấm vải bỗng nhiên co rúm lại như có một luồng lửa vô hình đang đốt cháy nó từ bên trong. Tấm vải tự động trượt tuột xuống đất, để lộ ra chiếc gương đồng cổ đặt bên dưới.

Chiếc gương đồng có đường kính khoảng một gang tay, vành gương được đúc bằng đồng đỏ dày dặn, chạm khắc hình những con rồng uốn lượn nhưng tất cả các con rồng đều không được khắc mắt. Mặt gương hơi lồi lên, không nhẵn bóng như gương soi thông thường mà có màu vàng xỉn của đồng thau pha lẫn những vệt màu xám tro của chì.

Khiêm cầm chiếc gương lên. Mặt gương lạnh buốt như một tảng băng vừa được vớt lên từ lòng sông Bạch Huyệt vào mùa đông. Anh đặt chiếc gương nằm ngửa trên bục gỗ, rồi đặt mảnh đồng khắc chữ "Tứ" ngay sát cạnh vành gương.

- Tránh ra sau tôi. - Khiêm nói với Huyền Anh.

Huyền Anh bước lùi lại một bước, nhưng mắt cô vẫn không rời khỏi mặt gương đồng.

Trong căn phòng kín không cửa sổ, tiếng gió ngoài sân bỗng nhiên biến mất. Thay vào đó là một tiếng động trầm đục vang lên từ dưới lòng đất, giống như tiếng một con thú khổng lồ đang trở mình dưới lớp đất đá sâu hàng chục mét. Nền đất dưới chân Khiêm bắt đầu rung nhẹ. Những rãnh nứt trên mặt đất xung quanh bục gỗ đột ngột mở rộng ra, từ bên trong những kẽ nứt đó, một thứ chất lỏng màu đen ngòm, đặc quánh như bùn ao bắt đầu đùn lên.

Khiêm nhìn thẳng vào mặt gương đồng.

Mặt gương không hề phản chiếu khuôn mặt của anh, cũng không phản chiếu ánh sáng từ chiếc đèn pin đang cầm trên tay. Thay vào đó, trên mặt đồng xỉn màu từ từ hiện lên hình ảnh của những đường rãnh khí chạy ngoằn ngoèo dưới lòng đất. Những đường rãnh này trông giống như những sợi gân máu màu xám tro, liên tục co bóp và di chuyển như có sự sống.

Khiêm cảm thấy hai bàn chân mình đột ngột tê dại. Một luồng lực hút cực mạnh từ mặt đất truyền qua đế giày, chạy dọc lên hai cẳng chân anh. Cảm giác tê buốt ấy khiến anh suýt chút nữa thì ngã quỵ xuống nền đất ẩm. Anh phải nghiến chặt răng, dùng hai tay bám chặt vào mép bục gỗ lim để giữ thăng bằng.

- Nhìn kìa! - Huyền Anh khẽ thốt lên, cô chỉ tay vào mặt gương.

Trên mặt gương đồng, ở điểm giao nhau của ba đường rãnh khí lớn, xuất hiện một đốm sáng màu đỏ sẫm. Đốm sáng này đang nhấp nháy liên hồi, mỗi lần nhấp nháy, nó lại lan tỏa ra những luồng khí màu đen chạy dọc theo các nhánh rãnh khí phụ.

- Đó là điểm trấn thứ tư ở đồi keo. - Khiêm nói, giọng anh khản đi vì lạnh. - Nó đã bị vỡ hoàn toàn sau khi con trai ông Cự bị nuốt. Còn những điểm khác thì sao?

Khiêm dịch chuyển mảnh đồng cổ dọc theo vành gương. Theo chuyển động của mảnh đồng, hình ảnh trong gương cũng thay đổi. Những đường gân máu màu xám tro bắt đầu co cụm lại, hiện ra một sơ đồ địa hình mờ ảo của vùng trung du quanh núi Long Tàng.

Một đường rãnh khí lớn chạy từ đỉnh núi Long Tàng, lao thẳng xuống thung lũng, rồi rẽ làm hai nhánh ôm lấy làng Vạn Mạch trước khi đổ ra sông Bạch Huyệt. Trên đường đi của nhánh khí này, Khiêm nhìn thấy rõ năm đốm sáng khác nhau.

Đốm sáng thứ nhất nằm ở khu mộ tổ họ Nguyễn dưới chân núi Long Tàng. Đốm sáng này có màu vàng nhạt, xung quanh được bao bọc bởi một vòng tròn xám xịt, trông giống như một cái lồng sắt đang khóa chặt luồng khí bên trong.

Đốm sáng thứ hai nằm ngay dưới chân họ, chính là căn phòng kín của nhà họ Trịnh này. Nó đang phát ra những luồng sáng màu xanh lam yếu ớt, chập chờn như ngọn lửa ma trơi trên cánh đồng hoang.

Đốm sáng thứ ba nằm ở phía thượng nguồn sông Bạch Huyệt, nơi có ngôi đền cổ thờ quan giám sát dòng nước. Đốm sáng này gần như đã tắt hẳn, chỉ còn lại một vệt đỏ sẫm mờ nhạt như một vết máu khô.

- Điểm trấn thứ năm... sông Bạch Huyệt. - Huyền Anh thì thầm, nước mắt cô bắt đầu rơi xuống mặt đất khô nứt. - Mẹ tôi đã nằm lại đó để giữ cho đốm sáng này không bị tắt hoàn toàn. Ba tôi... ông ấy đã biết trước điều này.

Ông Trịnh Tấn đứng bên cạnh ngọn đèn dầu, khuôn mặt ông ta bị bóng tối che khuất một nửa, chỉ có đôi mắt đục ngầu là vẫn sáng lên lấp lánh dưới ánh lửa leo lét.

- Đúng vậy. - Ông Tấn nói, giọng ông ta mang theo vẻ cam chịu của kẻ đã biết trước số phận. - Họ Lê các người canh điểm trấn thứ năm, nơi mạch khí sông Bạch Huyệt hung hãn nhất. Năm đó, nếu không có người tự nguyện hiến tế để làm vật dẫn cho cọc đồng, dòng nước sông Bạch Huyệt đã phá vỡ đê, cuốn trôi cả làng Vạn Mạch này rồi. Ba của cô không còn lựa chọn nào khác. Ông ấy phải chọn giữa vợ mình và cả dòng họ.

- Tại sao lại phải chọn? - Huyền Anh quay lại nhìn ông Tấn, giọng cô đầy phẫn nộ. - Tại sao tổ tiên bảy nhà lại lập ra cái trận đồ quỷ quái này? Dùng mạng người sống để trấn yểm long mạch, đó là phong thủy hay là tội ác?

Ông Tấn im lặng một lúc lâu. Tiếng mõ cầm canh từ đình làng Vạn Mạch vọng lại qua những bức tường gạch vầy của căn phòng kín, âm thanh trầm ấm nhưng đơn điệu, gõ nhịp vào không gian tĩnh mịch của đêm tối.

- Hai trăm năm trước, khi quốc sư lập trận, đất nước đang trong cảnh loạn lạc. - Ông Tấn chậm rãi nói. - Mạch khí núi Long Tàng khi ấy bùng phát dữ dội, đất đai nứt nẻ, mùa màng thất bát, người chết đói nhiều vô kể. Quốc sư bảo mạch khí này là long mạch đế vương, nhưng lại là thứ long mạch nghịch thiên. Nếu không khóa nó lại, cả vùng trung du này sẽ biến thành bãi tha ma. Bảy dòng họ khi ấy đã cùng nhau lập lời thề, tự nguyện dâng hiến để giữ vững giang sơn. Họ Nguyễn của cậu Khiêm đây đứng ra làm chủ trận, dùng cọc thứ bảy để khóa chặt tất cả.

Khiêm nhìn chằm chằm vào mặt gương đồng. Anh không tin vào những lời giải thích mang tính huyền thoại của ông Tấn. Với tư cách là một kỹ sư khảo sát địa chất, anh biết rõ những gì đang diễn ra dưới lòng đất là sự dịch chuyển của các tầng địa chất và sự tích tụ của các nguồn năng lượng tự nhiên. Nhưng chiếc gương đồng này, cùng với những đốm sáng đang hiện lên trên mặt nó, là một thứ thực tế vật lý mà anh không thể phủ nhận.

- Cọc thứ bảy... - Khiêm lẩm bẩm. - Cụ Tiên nói cọc thứ bảy không nằm ở một điểm cố định. Nó nằm ở nơi giao nhau của các mạch khí. Ông Tấn, ông có biết vị trí chính xác của nó không?

Ông Tấn lắc đầu, những nếp nhăn trên trán ông ta xô lại vào nhau.

- Chưa ai trong làng nói rõ cả. Chỉ có kẻ canh cọc của họ Nguyễn mới biết được vị trí của cọc thứ bảy. Cha của cậu, ông Nguyễn Trọng Minh, trước khi mất đã về đây soi gương một lần. Ông ấy đã nhìn thấy thứ gì đó trong gương, rồi lập tức mang theo bản đồ địa chất đi vào rừng sâu núi Long Tàng. Sau đó thì ông ấy không trở về nữa.

Khiêm siết chặt hai nắm tay. Cái chết của cha anh luôn là một ẩn số lớn đối với anh. Ông Nguyễn Trọng là một nhà địa chất học thực thụ, ông không bao giờ tin vào những chuyện mê tín dị đoan. Nhưng những năm cuối đời, ông lại trở nên kỳ lạ, suốt ngày vùi đầu vào những cuốn gia phả cũ và những tấm bản đồ thực địa tự vẽ.

- Cha tôi đã nhìn thấy gì trong gương? - Khiêm hỏi dồn.

- Tôi không biết. - Ông Tấn cúi đầu. - Lúc đó tôi đứng ngoài cửa buồng. Chỉ nghe thấy ông ấy hét lên một tiếng, rồi tấm vải điều tự động phủ lại lên mặt gương. Khi tôi chạy vào, ông ấy đã ngã gục dưới đất, khóe mắt chảy ra hai dòng máu tươi. Ông ấy chỉ kịp dặn tôi: "Đừng để thằng Khiêm chạm vào chiếc gương này."

Khiêm nhìn xuống mặt gương đồng. Những đường gân máu màu xám tro trên mặt gương lúc này bắt đầu chuyển động nhanh hơn, chúng co rút lại rồi đột ngột giãn ra, tạo nên những làn sóng chấn động chạy dọc theo các nhánh mạch khí.

Cùng lúc đó, chiếc cọc đồng trong túi áo Khiêm phát ra một tiếng "coong" thanh mảnh nhưng vang vọng, giống như tiếng chuông đồng bị gõ nhẹ bằng một thanh sắt nhỏ. Luồng khí lạnh từ mặt gương bốc lên cao hơn, bao trùm lấy cả ba người trong căn phòng kín. Mùi bùn sông Bạch Huyệt tanh nồng bốc lên từ những kẽ đất dưới chân họ ngày một rõ rệt.

- Mạch phản đang tìm đến đây! - Ông Tấn hốt hoảng kêu lên. - Cậu Khiêm, mau phủ tấm vải điều lại! Nếu không, mạch khí của điểm thứ hai sẽ bị kích động, cả ngôi nhà này sẽ sập xuống!

Huyền Anh bước lên định giật lấy tấm vải điều dưới đất để phủ lên gương, nhưng Khiêm đã ngăn cô lại.

- Khoan đã. - Khiêm nói, mắt anh vẫn dán chặt vào mặt gương đồng. - Nhìn vào góc gương bên trái đi. Có một đường rãnh khí mới đang hiện lên.

Huyền Anh dừng tay, nhìn theo hướng ngón tay của Khiêm.

Ở góc bên trái của mặt gương, nơi biểu thị khu vực rừng sâu phía sau núi Long Tàng, một đường rãnh khí màu đen đục, to hơn tất cả các đường rãnh khác, đang từ từ trồi lên từ dưới lòng đất sâu. Đường rãnh này không di chuyển nhẹ nhàng như những đường khác, mà nó cuộn xoắn lại như một con rắn khổng lồ đang cố gắng thoát khỏi lớp da cũ của mình.

Mỗi nơi đường rãnh màu đen này đi qua, những đốm sáng biểu thị các điểm trấn khác đều bị lu mờ đi. Nó rõ ràng đang hút lấy năng lượng từ các điểm trấn xung quanh để tự nuôi dưỡng bản thân.

- Đó là gì? - Huyền Anh hỏi, giọng cô run rẩy.

- Đó là mạch khí chủ của núi Long Tàng. - Ông Tấn run giọng nói, hai chân ông ta khuỵu xuống nền đất ẩm. - Nó đã bị đánh thức sau khi cọc thứ tư bị nhổ. Mạch khí chủ đang đi tìm cọc thứ bảy để giải phóng hoàn toàn sức mạnh của nó. Nếu nó tìm thấy... cả vùng trung du này sẽ sụp đổ.

Khiêm cúi sát mặt xuống gương đồng. Anh muốn nhìn rõ hơn đường đi của mạch khí chủ đó. Anh thấy nó chạy qua một thung lũng hẹp, rồi biến mất dưới một hang đá sâu nằm ở sườn phía bắc núi Long Tàng. Đó chính là khu vực mà cha anh đã tiến hành cuộc khảo sát cuối cùng trước khi mất.

Đột nhiên, mặt gương đồng loang loáng như nước ao tù bị ném đá. Những đường gân máu màu xám tro biến mất, thay vào đó là một màu đen ngòm sâu thẳm.

Từ trong lòng gương đồng, một hình ảnh phản chiếu bắt đầu hiện lên rõ dần.

Đó không phải là hình ảnh của căn phòng kín, cũng không phải là hình ảnh của Khiêm hay Huyền Anh.

Trong gương, Khiêm thấy một bóng người đang đứng ngay sau vai mình. Bóng người đó mặc một chiếc áo khoác kaki màu xám tro đã sờn cũ, vai áo bám đầy bụi đất đỏ của vùng trung du. Khuôn mặt của người đó mờ ảo dưới ánh sáng yếu ớt của mặt gương, nhưng Khiêm lập tức nhận ra vầng trán cao và mái tóc muối tiêu quen thuộc.

Đó là cha anh, ông Nguyễn Trọng Minh.

Ông Nguyễn Trọng đứng đó, lặng lẽ nhìn Khiêm qua mặt gương đồng. Gương mặt ông không có biểu cảm gì, nhưng đôi mắt ông lộ ra vẻ u uất đến đáng sợ.

Khiêm định quay đầu lại nhìn phía sau mình, nhưng một luồng lực vô hình từ mặt gương đã khóa chặt cổ anh, khiến anh không thể cử động được dù chỉ một milimet. Anh chỉ có thể đứng trân trối nhìn vào hình ảnh trong gương.

Lúc này, Khiêm nhìn thấy rõ cổ tay phải của cha mình.

Nơi cổ tay xương xẩu của ông Nguyễn Trọng, có một sợi chỉ đỏ được buộc chặt bằng một nút thắt cổ phong. Sợi chỉ đỏ ấy đang rớm máu, những giọt máu đỏ tươi chảy dọc theo ngón tay ông, nhỏ xuống khoảng không gian vô hình phía sau vai Khiêm.

Cổ tay buộc chỉ đỏ.

Đó là dấu hiệu của những người đã bị dâng tên cho đất.

Khiêm cảm thấy tim mình như thắt lại. Hơi thở của anh trở nên dồn dập, lồng ngực phập phồng như thiếu oxy. Anh muốn hét lên, muốn hỏi cha mình tại sao lại có sợi chỉ đỏ đó trên tay, nhưng cổ họng anh khô khốc, không thể phát ra bất kỳ một âm thanh nào.

Bóng của ông Nguyễn Trọng trong gương từ từ đưa bàn tay có sợi chỉ đỏ lên, ngón tay trỏ chỉ thẳng vào ngực Khiêm, nơi chiếc cọc đồng thứ tư đang nằm.

Đồng thời, từ dưới nền đất của căn phòng kín, một tiếng thở dài thườn thượt lại vang lên, mang theo hơi lạnh buốt giá của lòng đất sâu và mùi tanh nồng của bùn sông Bạch Huyệt. Tiếng thở ấy như đang thì thầm bên tai Khiêm một cái tên đã bị xóa bỏ từ lâu trong gia phả họ Nguyễn.

Tấm gương đồng đột ngột rung lên dữ dội. Một vết nứt nhỏ xuất hiện ngay chính giữa mặt gương, chạy dọc từ trên xuống dưới, chia hình ảnh của ông Nguyễn Trọng làm đôi.

- Khiêm! Buông ra! - Tiếng hét của Huyền Anh vang lên bên tai anh.

Huyền Anh không đợi nữa. Cô lao lên, giật mạnh tấm vải điều dưới đất rồi phủ dứt khoát lên mặt gương đồng.

Ngay khi tấm vải điều màu đỏ phủ kín mặt gương, luồng lực hút cực mạnh dưới chân Khiêm lập tức biến mất. Anh loạng choạng lùi lại vài bước, lưng đập mạnh vào bức tường gạch vồ lạnh ngắt của căn phòng kín. Anh thở dốc, mồ hôi lạnh chảy ròng ròng trên trán, ướt đẫm cả vạt áo sau lưng.

Căn phòng trở lại vẻ im lặng đến đáng sợ. Chỉ còn tiếng ngọn đèn dầu lạc của ông Tấn cháy lép bép, tỏa ra làn khói đen mỏng mảnh bay lơ lửng trên không trung.

Khiêm nhìn xuống hai bàn tay mình. Chúng đang run lên bần bật. Cảm giác tê buốt ở hai chân vẫn chưa tan hết, khiến anh phải mất một lúc lâu mới có thể đứng vững lại được.

Huyền Anh đứng bên bục gỗ, cô cũng đang thở dốc. Cô nhìn Khiêm bằng ánh mắt lo lắng xen lẫn kinh hoàng.

- Anh có sao không? - Cô hỏi, giọng nhỏ nhẹ nhưng đầy lo âu. - Anh đã nhìn thấy gì trong đó vậy?

Khiêm không trả lời ngay. Anh đưa tay lên ngực, cảm nhận nhịp tim đang đập liên hồi của mình. Chiếc cọc đồng trong túi áo đã bớt nóng, nhưng nó vẫn giữ một độ ấm kỳ lạ, giống như một sinh vật vừa được tiếp thêm sinh lực sau khi hút được mạch khí từ gương đồng.

Anh nhìn sang ông Trịnh Tấn. Ông ta vẫn đang quỳ sụp dưới đất, hai tay chắp lại trước ngực, miệng lầm rầm những lời khấn vái bằng thứ ngôn ngữ cổ xưa mà Khiêm không thể hiểu được.

- Ông Tấn. - Khiêm bước lại gần, giọng anh trầm xuống. - Sợi chỉ đỏ buộc trên cổ tay... đó là ý nghĩa gì?

Ông Tấn khựng lại lời khấn vái. Ông ta ngước mắt lên nhìn Khiêm, khuôn mặt già nua của ông ta co rúm lại vì sợ hãi.

- Cậu... cậu đã nhìn thấy sợi chỉ đỏ sao? - Giọng ông ta run rẩy đến mức gần như không thành tiếng.

- Phải. - Khiêm nói, mắt anh nheo lại. - Tôi thấy cha tôi có sợi chỉ đỏ đó trên cổ tay phải.

Ông Tấn ôm lấy đầu, giọng ông ta nghẹn ngào:

- Đó là dấu hiệu của kẻ thế mạng... Khi một dòng họ không thể tìm ra người tự nguyện dâng tên, mạch đất sẽ tự động chọn người có dòng máu thuần khiết nhất trong họ để buộc chỉ đỏ. Kẻ bị buộc chỉ đỏ sẽ không thể sống quá ba năm. Họ sẽ bị mạch phản ăn dần từ bên trong, cho đến khi cơ thể họ hoàn toàn tan biến vào lòng đất như con trai ông Cự... Cha của cậu... ông ấy đã bị đất đánh dấu từ ba năm trước rồi.

Huyền Anh nghe vậy thì lùi lại một bước, cô nhìn Khiêm với ánh mắt đầy thương cảm. Cô biết rõ cảm giác mất đi người thân vì những lời thề quỷ quái này là thế nào. Mẹ cô đã nằm lại sông Bạch Huyệt, và bây giờ, cha của Khiêm cũng đã chịu chung số phận.

- Vậy còn tôi? - Khiêm hỏi, giọng anh lạnh lùng đến đáng sợ. - Tôi là con trai ông ấy. Tôi cũng mang dòng máu họ Nguyễn.

Ông Tấn không trả lời. Ông ta chỉ chỉ tay xuống nền đất dưới chân Khiêm.

Khiêm cúi xuống nhìn.

Dưới chân anh, trên lớp đất thịt khô khốc của căn phòng kín, từ lúc nào đã xuất hiện một vệt nước màu đỏ ngầu, chạy từ dưới bục gỗ lim đến thẳng gót giày của anh. Vệt nước ấy không thấm vào đất, mà nó đọng lại thành một đường chỉ dài, đỏ tươi và sắc lẹm như một sợi dây thừng vừa được nhuộm máu.

Tiếng chuông đình làng Vạn Mạch lại vang lên một lần nữa, âm thanh trầm đục kéo dài, báo hiệu canh ba đã đến. Đêm trung du tĩnh mịch và lạnh lẽo đang bao trùm lấy ngôi nhà cổ họ Trịnh, giấu kín những bí mật của bảy dòng họ dưới lòng đất sâu.

Chương khác

Xem thêm