Trấn Yểm Long Mạch - Chương 18: Dòng họ bán tên
Xóm buôn đồ cổ nằm dọc theo quốc lộ 12B cũ, đoạn chạy qua rìa phủ Hoàng Châu, đón những đợt gió lạnh mang theo hơi nước buốt giá từ sông Bạch Huyệt thổi…
Nội dung chương
Xóm buôn đồ cổ nằm dọc theo quốc lộ 12B cũ, đoạn chạy qua rìa phủ Hoàng Châu, đón những đợt gió lạnh mang theo hơi nước buốt giá từ sông Bạch Huyệt thổi về. Dọc hai bên đường nhựa loang lổ vết dầu hắc ín là những dãy nhà cấp bốn lợp ngói xi măng xám xịt. Trước cửa mỗi nhà bày la liệt chum vại sứt vòi, tượng đá cụt đầu và những mảng chạm khắc gỗ mục nát được trục vớt từ các ngôi đình sụp đổ. Ngay lối rẽ dẫn vào nhà thờ họ nằm sâu sau rặng nhãn cổ thụ, một dấu hiệu trái lệ đập vào mắt Nguyễn Trọng Khiêm. Một hàng gồm bảy chiếc đèn lồng giấy đỏ được treo ngược dọc theo bờ tường đá ong. Những chiếc đèn này không hướng phần miệng mở xuống dưới để thắp sáng như thông thường, mà đáy đèn quay ngược lên trời, miệng đèn chúc xuống đất, để lộ những sợi bấc đen đúa đã tắt ngấm từ lâu. Gió từ cánh đồng thổi vào làm những khung tre của đèn lồng va đập vào tường đá ong, phát ra những tiếng lộc cộc khô khốc.
Khiêm dừng bước trước cổng tam quan xây bằng gạch vồ xám, loại gạch giống hệt gạch xây ngôi mộ cổ lộ ra dưới đáy ao nhà họ Trần ở làng Đông Khê. Bùn đất từ đồi keo vẫn còn bám đen kịt trên ống quần và gót giày của anh, khô lại thành những vệt xám ngoằn ngoèo. Chiếc cọc đồng nằm trong túi áo ngực của anh lúc này đã nguội đi, nhưng sức nặng của nó vẫn đè nặng lên xương sườn, tạo ra một cảm giác âm ỉ khó chịu mỗi khi anh hít thở sâu.
- Treo đèn ngược là tục cúng vong không tên của vùng này. - Lê Huyền Anh bước lên bên cạnh Khiêm, giọng cô khản đặc sau một đêm dài chạy dọc các triền đồi. Cô chỉ tay vào những chiếc đèn lồng giấy rách tả tơi. - Người ta tin rằng làm thế này thì những linh hồn bị tước mất tên tuổi dưới lòng đất mới tìm được đường về ăn xôi cúng. Nhưng đây là nhà thờ họ, không có lý nào lại treo thứ này ngay lối vào chính môn.
Khiêm không đáp. Anh nhìn vào khoảng sân gạch bên trong cổng tam quan. Khác với những nhà thờ họ thông thường ở vùng trung du với cây hương đá và bể cạn nuôi cá cảnh, khoảng sân ở đây chất đầy những kiện gỗ lớn nhỏ. Mùi gỗ mục, mùi sơn ta chưa khô và mùi đất ẩm ướt trộn lẫn vào nhau, tạo nên một thứ không khí đặc quánh, khó thở. Tiếng xe tải chở cát chạy trên quốc lộ ngoài kia thỉnh thoảng lại gầm rú lên, làm rung chuyển cả những cánh cửa gỗ của các gian nhà phụ xung quanh.
Một người đàn ông luống tuổi bước ra từ gian nhà ngang, tay cầm chiếc đục gỗ và một mảnh giẻ lau thấm dầu bóng. Ông ta có dáng người còng, nước da xám xịt như người thiếu nắng lâu ngày, đôi mắt kèm nhèm nhìn hai người khách lạ với vẻ dò xét.
- Tìm mua đồ giả cổ thì đi lối ngoài đê. - Người đàn ông lên tiếng, giọng khàn khàn đặc trưng của người vùng chiêm trũng. - Nơi này là nhà thờ họ, không đón khách vãng lai.
- Chúng tôi tìm cụ Tiên. - Khiêm bước lên một bước, bàn tay anh vô thức chạm vào túi áo ngực, nơi mảnh đồng cổ khắc chữ "Tứ" đang nằm. - Ông Cự ở đồi keo bảo chúng tôi đến đây. Ông ấy nói chỉ có cụ Tiên mới biết cách đọc những chữ khắc trên mảnh đồng này.
Nghe đến tên ông Cự và nhìn thấy bộ dạng lấm lem bùn đất của hai người, thái độ của người đàn ông dịu đi đôi chút, nhưng sự cảnh giác trong mắt ông ta vẫn không hề biến mất. Ông ta quay người, dùng chiếc đục gỗ gõ ba tiếng vào cánh cửa gian chính điện rồi né sang một bên, ra hiệu cho họ đi vào.
Bước qua ngưỡng cửa gỗ lim cao ngang đầu gối, Khiêm cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Ánh sáng tự nhiên từ khoảng sân bị chặn lại bởi tấm liếp tre dày treo trước cửa ra vào. Gian chính điện chỉ được chiếu sáng bằng hai cây nến sáp vàng đặt trên bàn thờ lớn ở trung tâm.
Khi mắt đã quen với bóng tối, Khiêm nhận ra cấu trúc kỳ lạ của ban thờ này. Các gia đình Việt Nam thường bày bài vị khắc rõ tên tuổi và thụy hiệu của tổ tiên theo thứ tự chi ngành. Ba tầng ban thờ ở đây thì khác hẳn: chúng chỉ bày kín những tấm bài vị bằng gỗ thị đen bóng, kích thước giống hệt nhau. Trên bề mặt những tấm bài vị đó hoàn toàn để trống. Phần trung tâm, nơi đáng lẽ phải ghi danh tính người khuất, chỉ có những vết cạo sâu vào thớ gỗ, để lại những đường rãnh nham nhở. Thay vào đó, ở góc dưới cùng bên phải của mỗi tấm bài vị, người ta khắc một chữ số bằng chữ Nôm cổ.
- Họ Phạm ở đây không có tổ tiên sao? - Huyền Anh thì thầm, ngón tay cô siết chặt lấy mép cuốn sổ tay ghi chép Hán Nôm mà cô luôn mang theo bên mình. - Tại sao tất cả bài vị đều bị xóa tên?
- Họ có tổ tiên, nhưng tên của những người này đã được bán đi rồi. - Một giọng nói già nua, đứt quãng vang lên từ góc tối phía sau bức bình phong vẽ hình rồng cuốn thủy.
Một cụ già bước ra. Cụ Tiên đã ngoài tám mươi, tóc bạc trắng như cước, mặc bộ quần áo bà ba bằng vải thô màu nâu sòng. Đôi bàn tay cụ run rẩy, các ngón tay thâm đen vì nhựa gỗ và mực tàu. Cụ nhìn chằm chằm vào Khiêm, hay đúng hơn là nhìn vào vị trí túi áo ngực của anh, nơi chiếc cọc đồng đang phát ra những nhịp rung siêu nhỏ mà mắt thường không thấy được.
Khiêm rút mảnh đồng hình tam giác khắc chữ "Tứ" ra, đặt lên chiếc bàn gỗ trắc đặt giữa phòng. Tiếng kim loại chạm vào mặt gỗ vang lên một tiếng "cộc" khô khốc.
- Đây là thứ trồi lên từ chỗ Quý bị đất nuốt ở đồi keo. - Khiêm nói thẳng, mắt không rời khuôn mặt đầy nếp nhăn của cụ Tiên. - Ông Cự nói họ Phạm các người đã bán tên của những người chết trẻ cho quốc sư để giữ lại ruộng vườn khi lập trận trấn yểm núi Long Tàng. Tôi muốn biết việc bán tên này diễn ra thế nào, và tại sao nó lại liên quan đến chiếc cọc đồng của họ Nguyễn chúng tôi.
Cụ Tiên tiến lại gần bàn, đưa những ngón tay khô héo như cành củi khô vuốt ve mảnh đồng rỉ sét. Cụ thở dài, tiếng thở nghe nặng nề như tiếng gió lùa qua khe cửa hẹp của ngôi miếu hoang.
- Cậu là người họ Nguyễn ở làng Vạn Mạch. - Cụ Tiên nói, giọng cụ trầm xuống. - Nhìn khí sắc của cậu, tôi biết cậu đã chạm vào cọc trấn. Hai trăm năm trước, tổ tiên cậu mang cọc đồng đi cắm khắp trục núi Long Tàng, còn tổ tiên chúng tôi thì đi gom tên. Người ta cứ nghĩ làm thầy địa lý là vẻ vang, là nắm giữ huyết mạch của đất trời. Nhưng đất trời có luật của nó. Muốn khóa một long mạch lớn như thế, cọc đồng chỉ là phần xác, còn phần hồn phải có người gánh.
Cụ Tiên xoay mảnh đồng cổ, chỉ vào chữ "Tứ" được khắc chìm.
- Điểm trấn thứ tư nằm dưới chân đồi keo, nơi có ngôi miếu cổ của họ Phạm. Khi quốc sư lập trận, mạch khí phản ứng dữ dội, đất đai sụt lún, trâu bò chết hàng loạt. Để làm dịu mạch khí, cần phải có người tự nguyện hiến tế linh hồn để làm vật dẫn khí. Nhưng ai lại muốn con cháu mình bị chôn sống dưới huyệt lạnh? Vì thế, tổ tiên chúng tôi đã nghĩ ra một cách. Họ bán tên của những người chết trẻ, những người chưa kịp lập gia đình, chưa có vị trí trong gia phả.
Huyền Anh bước lên, giọng cô run lên vì giận dữ:
- Bán tên? Tên tuổi của một con người mà cũng mang ra mua bán được sao? Các người dùng cách gì để xóa bỏ sự tồn tại của họ?
- Dùng giấy phả và mực tàu trộn máu gà trống. - Cụ Tiên chậm rãi giải thích, mắt cụ nhìn lên những tấm bài vị không tên trên ban thờ. - Mỗi cái tên bị bán đi sẽ được ghi vào một cuốn sổ riêng. Kẻ coi cuốn sổ đó phải làm lễ xóa tên trên bài vị gia đình, cạo sạch chữ trên bia mộ, và thề trước thần sông Bạch Huyệt rằng dòng họ này chưa từng có người đó sinh ra. Đổi lại, quan phủ thời đó sẽ miễn thuế thân cho cả họ, cấp cho hàng trăm mẫu ruộng dọc bờ sông, và bảo đảm cho con cháu họ Phạm đời đời có người đỗ đạt.
- Nhưng cái giá phải trả không chỉ có thế. - Khiêm ngắt lời, giọng anh lạnh lùng. - Quý đã chết. Đất đã nuốt cậu ta ngay trước mắt chúng tôi. Đó là mạch phản, đúng không?
Cụ Tiên im lặng một lúc lâu. Cụ đi đến bên góc ban thờ, cầm lấy một chiếc chìa khóa đồng cũ kỹ rỉ sét bám đầy bụi. Cụ mở ngăn kéo của chiếc tủ chè đặt góc phòng, lôi ra một gói nhỏ bọc trong tấm vải điều đã xỉn màu. Khi tấm vải được mở ra, bên trong là một cuốn sổ dày, bìa bọc bằng da trâu khô cứng, đã nứt nẻ nhiều chỗ.
Ngay khi cuốn sổ xuất hiện, chiếc cọc đồng trong ngực Khiêm đột ngột nóng lên. Cơn đau nhói ở lồng ngực khiến anh phải lùi lại nửa bước, tay tì chặt vào mép bàn gỗ để giữ thăng bằng. Anh ngửi thấy một mùi hôi thối nồng nặc bốc lên từ cuốn sổ, giống như mùi của xác động vật phân hủy dưới bùn sông lâu ngày.
- Đây là sổ nợ tên của họ Phạm. - Cụ Tiên đặt cuốn sổ lên bàn. - Mỗi khi có một điểm trấn bị động, đất sẽ đòi nợ. Nếu không có tên mới để đắp vào, mạch khí sẽ tràn ra, nuốt chửng cả dòng họ. Thằng Quý chết vì ba năm trước nó đã bán mảnh bia yểm cho Phạm Đình Tốn. Nó đã tự tay mở cửa huyệt dưới đồi keo, nên đất phải lấy mạng nó để bù vào.
Huyền Anh run rẩy đưa tay lật trang đầu tiên của cuốn sổ. Giấy bản bên trong đã mục nát, mép giấy mủn ra như tàn tro mỗi khi có ngón tay chạm vào. Trên trang giấy, những dòng chữ viết bằng mực tàu đen sẫm, xen lẫn những vệt màu đỏ nâu đã khô.
Mỗi dòng ghi rõ: *“Phạm Văn Kính, sinh năm Bính Tý, mất năm mười tám tuổi. Bán tên vào huyệt thứ tư. Giá nhận: Mười lăm lạng bạc, ba mẫu ruộng đất bồi sông Bạch Huyệt.”*
Bên cạnh mỗi cái tên là một dấu triện đồng hình vuông màu đỏ thẫm, nét chữ trên triện đã mờ nhưng vẫn nhận ra chữ “Trấn Yểm Long Tàng”.
- Thật tàn nhẫn. - Huyền Anh nói, nước mắt cô chực trào ra. - Họ đã bán đi chính máu mủ của mình để đổi lấy vinh hoa phú quý tạm thời. Để rồi giờ đây, con cháu họ phải trả giá bằng mạng sống.
- Cô không hiểu được thời loạn đâu. - Cụ Tiên lắc đầu, giọng cụ mang theo sự cay đắng của một người đã chứng kiến quá nhiều cái chết trong dòng họ. - Thời đó, không bán tên thì cả họ chết đói, chết vì binh lửa. Bán đi một vài cái tên chết trẻ để cứu sống cả trăm người khác, tổ tiên chúng tôi nghĩ đó là việc nên làm. Nhưng họ không ngờ rằng, nợ của đất là nợ truyền kiếp. Hai trăm năm qua, cứ mỗi chu kỳ năm mươi năm, khi mạch khí núi Long Tàng chuyển mình, cuốn sổ này lại tự động hiện lên những cái tên mới của người họ Phạm. Và những người đó đều chết vì những tai nạn kỳ lạ: đuối nước ở sông Bạch Huyệt, bị đất lở đè chết, hoặc tự lao đầu xuống giếng cổ.
Khiêm cố nén cơn đau ở ngực, anh tiến lại gần và quan sát kỹ những trang sổ. Anh nhận ra một quy luật kỳ lạ. Những cái tên bị bán đi không được chọn một cách ngẫu nhiên. Họ đều là những người có giờ sinh, ngày đẻ xung khắc với mạch khí của điểm trấn, hoặc là những người có số mệnh đặc biệt có thể dùng để chế ngự luồng khí dữ dưới lòng đất.
- Ông có biết về chiếc cọc thứ bảy không? - Khiêm hỏi, giọng anh trầm và sắc bén như lưỡi dao. - Cha tôi trước khi chết đã dặn tôi: “Đừng nhổ chiếc cọc thứ bảy.” Tại sao họ Nguyễn chúng tôi lại giữ chiếc cọc đó?
Cụ Tiên ngước mắt nhìn Khiêm, đôi mắt mờ đục của cụ đột nhiên co rút lại. Cụ đưa tay lên che miệng, ho khan vài tiếng rồi nói:
- Chiếc cọc thứ bảy... Đó là cọc chủ. Nó không nằm ở một điểm trấn cố định như sáu chiếc cọc kia. Nó nằm ở nơi giao nhau của tất cả các mạch khí. Tổ tiên họ Nguyễn của cậu là những người thông minh nhất, nhưng cũng là những người tàn nhẫn nhất. Họ không bán tên của người họ Nguyễn. Họ dùng chiếc cọc thứ bảy để khóa chặt tất cả các dòng họ khác vào trận đồ này. Nếu cậu nhổ chiếc cọc thứ bảy, mạch khí của toàn bộ núi Long Tàng sẽ được giải phóng, nhưng đồng thời, tất cả những cái tên đã bị bán đi hai trăm năm qua sẽ quay trở lại đòi mạng những người đang sống.
Không gian trong gian chính điện đột ngột trở nên im ắng đến đáng sợ. Tiếng gió ngoài sân rõ ràng cũng ngừng bặt. Chỉ còn tiếng nến cháy lép bép và mùi dầu bóng nồng nặc từ gian nhà ngang bay vào.
Đột nhiên, từ dưới nền đất của nhà thờ họ, một tiếng động trầm đục vang lên. Nó không phải là tiếng nổ như ở đồi keo, mà là một tiếng thở dài thườn thượt, kéo dài và mang theo hơi lạnh buốt giá của lòng đất sâu.
Nền gạch đỏ dưới chân họ khẽ rung lên. Những tấm bài vị không tên trên ban thờ bắt đầu va đập vào nhau, tạo ra những tiếng lách cách liên hồi.
- Mạch khí lại động rồi. - Cụ Tiên hốt hoảng đứng dậy, hai tay chắp lại hướng về phía ban thờ vái lấy vái để. - Đất lại đòi nợ... Hôm nay là ngày giỗ của một người bị bán tên...
Huyền Anh vẫn đang lật tiếp những trang sau của cuốn sổ nợ. Những trang giấy bản mục nát kêu sột soạt dưới ngón tay cô. Càng về những trang cuối, chữ viết càng mới hơn, nét mực tàu không còn là chữ Nôm cổ nữa mà chuyển sang chữ Quốc ngữ viết bằng bút mực mực xanh.
Khiêm nhìn thấy mồ hôi hột chảy dài trên trán Huyền Anh. Gương mặt cô chuyển từ vẻ phẫn nộ sang kinh hoàng, rồi trắng bệch như mất hết máu. Cô đứng trân trối nhìn vào một trang giấy ở gần cuối cuốn sổ, hai tay run rẩy đến mức không thể giữ nổi mép giấy.
- Huyền Anh, có chuyện gì thế? - Khiêm bước lại gần, đặt tay lên vai cô.
Huyền Anh không trả lời. Cô chỉ tay vào một dòng chữ viết bằng mực xanh đã hơi nhạt màu, nằm ở góc dưới của trang giấy. Nét chữ viết tay nguệch ngoạc, rõ ràng được ghi lại một cách vội vã trong một đêm mưa gió nào đó của nhiều năm về trước.
Khiêm cúi xuống nhìn vào dòng chữ mà ngón tay Huyền Anh đang chỉ.
Dòng chữ ghi: *“Lê Thị Nhã, sinh năm Kỷ Mùi, mất ngày rằm tháng Bảy năm hai nghìn lẻ bảy. Thế mạng cho điểm trấn thứ năm sông Bạch Huyệt. Người dâng tên: Lê Văn Hùng.”*
Lê Thị Nhã.
Đó là tên của mẹ Huyền Anh.
Khiêm sững sờ. Anh nhìn sang Huyền Anh, thấy cô đang cắn chặt môi đến mức bật máu. Đôi mắt cô trợn trừng nhìn vào dòng chữ đó, như thể không tin vào những gì đang hiện ra trước mắt mình.
- Mẹ tôi... - Giọng Huyền Anh run rẩy, nhỏ giọt giữa không gian âm u của nhà thờ họ. - Mẹ tôi mất vì tai nạn giao thông năm tôi mười tuổi. Ba tôi luôn bảo đó là một tai nạn ngoài ý muốn. Tại sao tên của bà lại nằm ở đây? Tại sao ba tôi... Lê Văn Hùng... lại dâng tên của bà cho đất?
Cụ Tiên nhìn thấy dòng chữ đó thì khẽ thở dài, cụ quay mặt đi chỗ khác, không dám nhìn thẳng vào mắt Huyền Anh.
- Họ Lê các người là dòng họ thứ sáu trong bảy nhà lập trận. - Cụ Tiên nói nhỏ, giọng đầy vẻ bất lực. - Họ Lê đã mất phả từ lâu, nhưng nợ đất thì vẫn còn đó. Khi điểm trấn thứ năm ở sông Bạch Huyệt bị rò rỉ vào năm hai nghìn lẻ bảy, nếu không có người thế mạng, cả chi họ Lê ở phủ Hoàng Châu sẽ bị cuốn trôi. Trận lũ năm đó đã lên sát mái đình. Ba cô... ông ấy đã chọn dâng tên của vợ mình để cứu lấy cô và những người khác trong họ.
Huyền Anh lùi lại vài bước, lưng cô đập mạnh vào cột gỗ lim của nhà thờ họ. Cuốn sổ tay trên tay cô rơi xuống đất, trang giấy mở ra đè lên mảnh đồng cổ khắc chữ "Tứ".
Chiếc cọc đồng trong túi áo Khiêm đột ngột phát ra một tiếng "coong" thanh mảnh, giống như tiếng chuông chùa vang lên từ một khoảng cách rất xa. Một luồng khí lạnh buốt từ cuốn sổ nợ bốc lên, bao trùm lấy cả ba người trong gian chính điện âm u, mang theo mùi của bùn sông và sự phản bội của những người đi trước.