Trấn Yểm Long Mạch - Chương 15: Con đường không lên bản đồ
Đường đất qua rừng keo xuất hiện một dấu hiệu trái lệ, kéo Nguyễn Trọng Khiêm vào những tính toán sai lệch của hệ thống định vị cầm tay. Chiếc xe bán tải…
Nội dung chương
Đường đất qua rừng keo xuất hiện một dấu hiệu trái lệ, kéo Nguyễn Trọng Khiêm vào những tính toán sai lệch của hệ thống định vị cầm tay. Chiếc xe bán tải hai cầu gầm rú, bánh lốp bám đầy bùn đỏ trượt dài trên con dốc trơn trượt dẫn sâu vào thung lũng phía sau núi Long Tàng. Trên màn hình táp-lô, mũi tên định vị GPS màu xanh lam xoay tròn ba vòng liên tiếp rồi đứng im tại chỗ, chuyển sang màu xám đục báo hiệu mất kết nối vệ tinh. Bản đồ địa chính số của phủ Hoàng Châu mà Khiêm tải về máy tính bảng từ tuần trước cũng trống trơn một dải dài chạy dọc theo sườn núi. Không có đường đồng mức, không có ranh giới sử dụng đất, chỉ có một khoảng trắng vô hồn nằm kẹp giữa sông Bạch Huyệt và phân khu rừng phòng hộ.
Khiêm buông một tay khỏi vô lăng, gõ nhẹ vào mặt kính máy tính bảng nhưng màn hình vẫn trơ ra. Anh nhìn kính chiếu hậu, sương mù từ lòng sông Bạch Huyệt đang tràn ngược lên các khe núi, nuốt chửng rặng keo lá tràm xơ xác phía sau đuôi xe. Mùi lá keo mục rữa quyện với mùi đất ướt sau trận mưa rào ban sáng bốc lên nồng nặc qua khe gió điều hòa.
- Thiết bị đo cao độ cũng hỏng rồi. - Khiêm nói, giọng anh trầm xuống trong không gian chật hẹp của cabin xe. - Áp suất khí quyển ở đây đang thay đổi đột ngột. Lẽ ra chúng ta đang xuống dốc, nhưng đồng hồ hiển thị áp suất lại báo độ cao đang tăng lên.
Lê Huyền Anh ngồi ở ghế phụ, hai tay ôm chặt chiếc tráp gỗ chứa những mảnh gia phả mục của họ Lê. Cô không nhìn màn hình định vị mà đăm đăm nhìn ra ngoài cửa kính, nơi những thân keo khẳng khiu, vỏ bong tróc từng mảng lớn như những cánh tay người chết cắm ngược xuống đất.
- Bản đồ địa chính hiện đại không ghi nhận khu vực này là có lý do. - Huyền Anh khẽ vuốt lớp vải bọc tráp gỗ. - Trong các tài liệu Hán Nôm từ thời Nguyễn mà tôi dịch ở thư viện tỉnh, vùng này được gọi là "Đất câm". Mọi cuộc đo đạc địa giới dưới triều Nguyễn đều bỏ qua dải đất này. Họ ghi vào tờ bạ là đất sỏi đá cằn cỗi không thể canh tác, nhưng thực chất là để người ngoài không tò mò tìm đến.
Ở băng ghế sau, ông Thụ vẫn ngồi im lặng từ lúc xe rời khỏi khu lưu trữ của dòng họ. Khuôn mặt nhăn nheo của ông lão đầy những nếp gấp sâu hoắm, đôi mắt kèm nhèm nhìn chăm chằm vào khoảng trống giữa hai ghế trước. Tay ông không ngừng mân mê chuỗi hạt gỗ dâu tằm đã bóng loáng vì mồ hôi. Mỗi lần chiếc xe xóc mạnh qua một ổ gà chứa đầy nước đỏ ngầu, ông Thụ lại lầm rầm khấn vái một chuyện khuất tất trong họng, âm thanh nhỏ đến mức chỉ như tiếng gió rít qua khe cửa.
Khiêm dừng xe ở một khoảng đất bằng phẳng dưới một tán keo cổ thụ. Anh tắt máy, không gian lập tức chìm vào một sự im lặng tịch mịch. Tiếng động duy nhất còn lại là tiếng nước mưa nhỏ giọt từ lá keo xuống nắp ca-pô nóng hổi, tạo ra những tiếng "tách tách" đều đặn.
Khiêm lôi từ trong ba-lô ra một cuộn giấy can đã ngả màu vàng ố. Đây là bản đồ thực địa do cha anh, ông Nguyễn Trọng Hoán, vẽ tay bằng mực kỹ thuật từ hơn ba mươi năm trước, thời điểm ông tiến hành đợt khảo sát địa chất độc lập quanh khu vực núi Long Tàng. Khác với bản đồ hành chính trống trơn của tỉnh, bản vẽ của ông Hoán có những đường nét mực Rotring mảnh nhưng cực kỳ sắc nét. Ông đã vẽ một con đường mòn nhỏ chạy ngoằn ngoèo, bám sát theo sống lưng của một mạch đá vôi ngầm. Con đường bắt đầu từ bờ sông Bạch Huyệt và kết thúc ở một điểm được đánh dấu bằng ba dấu thập đỏ chồng lên nhau.
Khiêm trải bản đồ lên vô lăng, dùng đèn pin soi vào những dòng chú thích viết bằng chữ tay nhỏ li ti của cha mình.
- Cha tôi đã đi con đường này. - Khiêm chỉ ngón tay vào đường vẽ mực đen. - Ông ghi chú đây là "Tuyến mạch thứ tư - Hướng đầu rồng". Con đường này chạy song song với đứt gãy địa chất sâu dưới lòng đất, nơi đá vôi bị ép mạnh tạo thành các hang động ngầm. Nhưng tại sao ông lại phải vẽ riêng một bản đồ thế này mà không sử dụng bản đồ khảo sát của đoàn địa chất?
- Vì nếu ông ấy đưa nó vào hồ sơ chính thức, con đường này sẽ bị san phẳng hoặc bị khai thác. - Huyền Anh cúi đầu nhìn bản đồ, ngón tay cô chạm vào nét vẽ của ông Hoán. - Anh nhìn kỹ những điểm chấm tròn dọc theo con đường này đi. Đó là ký hiệu của các điểm trấn yểm, không giống mốc tọa độ địa lý thông thường. Cha anh đã phát hiện ra hệ thống cọc đồng trước cả khi ông bị tai nạn ở mộ tổ.
Chiếc cọc đồng nhỏ giấu trong túi áo ngực của Khiêm đột ngột tỏa ra một hơi lạnh thấu xương. Cảm giác lạnh buốt ấy không chỉ nằm trên bề mặt da thịt, nó xuyên qua lớp áo, ép thẳng vào xương sườn anh, tạo ra một cơn đau nhói làm lồng ngực anh co thắt lại. Khiêm phải nín lại rồi nói để giữ cho giọng mình không bị run rẩy. Anh nhận ra rằng, càng đi sâu vào con đường không có trên bản đồ này, chiếc cọc đồng càng phản ứng mạnh mẽ. Nó giống như một chiếc kim la bàn đang bị hút chặt bởi một khối nam châm khổng lồ nằm sâu dưới lòng đất.
- Bác Thụ. - Khiêm quay đầu lại phía sau, mắt nhìn thẳng vào ông lão đang run rẩy. - Bác là người trông coi kho tư liệu họ Lê lâu năm. Bác biết con đường này dẫn đi đâu đúng không? Bản đồ của cha cháu vẽ rất rõ, con đường này kết thúc ở một khu vực có cổng đá cổ. Đó có phải là nơi dòng họ Lê và họ Nguyễn từng lập đàn tế không?
Ông Thụ giật mình, chuỗi hạt dâu tằm trên tay suýt rơi xuống sàn xe. Ông nhìn Khiêm bằng ánh mắt đầy e ngại, rồi lại liếc nhìn Huyền Anh như thể đang tìm kiếm một sự che chở.
- Cậu Khiêm à, tôi chỉ là người coi đền miếu, quét lá rụng thôi. - Giọng ông Thụ run run, đứt quãng. - Chuyện của các cụ ngày xưa, người trẻ các cậu cứ muốn đào bới lên làm gì. Con đường này... ngày xưa các cụ gọi là đường lánh nạn. Nhưng thực chất là đường đưa người đi không có ngày về. Ai bước chân vào đây cũng phải thề giữ kín miệng. Họ Nguyễn nhà cậu ngày xưa đứng ra làm đầu mối, bắt sáu họ kia phải ký vào tờ cam kết bằng máu. Bây giờ cậu lại dẫn chúng tôi vào đây, lỡ động đến long mạch thì cả làng Vạn Mạch này gánh không nổi thiên tai đâu.
- Cháu không muốn đào bới chuyện cũ để gây họa. - Khiêm kiên quyết, tay anh vẫn áp chặt vào ngực để cản cái lạnh từ chiếc cọc đồng. - Nhưng cha cháu đã chết vì chuyện này. Dòng họ Nguyễn của cháu đang chịu mạch phản, người trong họ chết trẻ không rõ nguyên nhân. Nếu không tìm ra điểm trấn thứ tư và hiểu rõ giao ước ngày xưa là gì, thì không chỉ họ Nguyễn mà cả họ Lê của Huyền Anh cũng sẽ bị cuốn vào. Bác nhìn tấm bài vị khắc tên Huyền Anh dưới giếng cổ đi. Đó là lời cảnh báo hay là một lời nguyền đã đến hạn?
Huyền Anh im lặng, khuôn mặt cô tái nhợt dưới ánh sáng lờ mờ của chiếc đèn pin cầm tay. Cô hiểu Khiêm nói đúng. Tấm bài vị gỗ mít trắng khắc tên cô bằng mực son đỏ vẫn còn nằm trong ba-lô phía sau xe là một minh chứng rõ ràng cho thấy họ không thể đứng ngoài cuộc được nữa. Có một thế lực nào đó, hoặc chính địa mạch dưới núi Long Tàng này, đang chủ động gọi tên những hậu duệ của bảy dòng họ trở về.
Ông Thụ thở dài một tiếng sườn sượt, tiếng thở dài mang theo mùi trầu thuốc và cả sự bất lực của một người già cả đời sống dưới bóng tối của những kiêng kỵ cổ xưa.
- Lời thề của bảy họ... - Ông Thụ lầm bầm, mắt nhìn ra ngoài cửa sổ xe, nơi sương mù đã dày đến mức không còn nhìn thấy ranh giới giữa đường đất và rừng keo. - Ngày xưa, khi quốc sư triệu tập bảy thầy địa lý về đây, họ đã dựng lên một ranh giới. Con đường này chính là ranh giới đó. Nó không nằm trên bản đồ vì nó không thuộc về cõi người sống. Nó là lối đi của quan binh nhà trời đi tuần tra long mạch. Người phàm đi vào đây mà không mang theo lễ vật thế mạng thì sẽ bị đất nuốt mất hồn.
- Cháu là kỹ sư địa chất, cháu chỉ tin vào những gì có thể đo đạc và nhìn thấy được. - Khiêm dứt khoát vặn chìa khóa khởi động lại động cơ xe. - Nếu đất ở đây sụt lún, đó là do hiện tượng karst hóa của đá vôi dưới tác động của nước ngầm sông Bạch Huyệt. Cháu sẽ chứng minh cho bác thấy không có thần thánh nào nuốt người ở đây cả.
Chiếc xe bán tải lại từ từ chuyển bánh. Con đường đất đỏ lúc này hẹp lại chỉ vừa đủ cho một thân xe đi qua. Những cành keo sà xuống thấp, gạt vào nóc xe và gương chiếu hậu tạo ra những tiếng sột soạt ghê rợn.
Khiêm phải tập trung cao độ để giữ cho xe không bị trượt bánh xuống rãnh nước sâu bên lề đường. Anh cảm nhận được vô lăng trong tay mình đang rung lên từng đợt nhẹ. Độ rung ấy không đến từ động cơ diesel, mà là một nhịp đập đều đặn, trầm đục truyền từ dưới đất qua lốp xe, dội thẳng lên hệ thống lái. Nhịp đập ấy trùng khớp hoàn toàn với tiếng thở dưới đất mà anh vẫn thường nghe thấy từ thuở nhỏ mỗi khi nằm áp tai xuống nền nhà tổ họ Nguyễn.
Tiếng thở lúc này không còn xa xăm nữa. Nó nghe như tiếng một sinh vật khổng lồ đang nằm ngay dưới lớp đất đá mỏng dưới bánh xe, mỗi hơi thở ra lại làm mặt đất khẽ rùng mình chuyển động.
Huyền Anh đột ngột chỉ tay về phía trước:
- Khiêm, dừng lại! Có vật cản ven đường.
Khiêm đạp phanh. Chiếc xe trượt đi một đoạn ngắn rồi dừng lại hẳn. Ánh đèn pha LED cực sáng của xe bán tải xuyên qua màn sương mù, rọi thẳng vào một vật thể màu xám dựng đứng bên mép đường.
Đó là một cột mốc bằng đá xanh cổ. Cột mốc này cao khoảng một mét, hình lăng trụ tứ giác, phần chân cột bị chôn sâu dưới lớp lá keo mục và đất bùn đỏ. Bề mặt đá xanh đã bị phong hóa mạnh, rêu phong bám đầy các kẽ đá, nhưng vẫn có thể nhìn rõ những nét khắc chìm sâu vào thân đá.
Huyền Anh mở cửa xe, không ngại nước mưa và sương lạnh tràn vào cabin. Cô bước xuống đất, đôi giày thể thao ngập sâu trong bùn nhão. Khiêm cũng nhanh chóng cầm đèn pin bước xuống theo để che ô cho cô, trong khi ông Thụ vẫn ngồi co rúm người ở ghế sau, không dám thò đầu ra ngoài.
Huyền Anh quỳ xuống bên cạnh cột mốc đá, dùng ngón tay gạt bỏ lớp bùn đất bám trên các nét chữ. Cô dùng đèn pin soi xiên để tạo bóng, giúp các nét khắc hiện lên rõ ràng hơn.
- Đây là chữ Nôm cổ. - Huyền Anh vừa đọc vừa dịch. - "Địa giới vạn khoảnh - Nhân gia cấm bộ". Nghĩa là vùng đất rộng vạn khoảnh, người nhà lành cấm bước vào. Phía dưới có khắc một ký hiệu hình tròn, bên trong có hình một con rùa đội cọc. Ký hiệu này giống hệt ký hiệu trên tấm bản đồ vẽ tay của cha anh.
Khiêm cúi xuống sát cột mốc đá. Anh đưa tay chạm vào bề mặt đá xanh. Một cảm giác lạnh buốt truyền từ đá vào đầu ngón tay anh, lan nhanh lên cánh tay. Anh nhận thấy chất liệu đá này hoàn toàn khác biệt so với đá vôi bản địa của núi Long Tàng. Đây là loại đá xanh Thanh Hóa, loại đá thường được dùng để xây dựng lăng tẩm và làm bia ký cho các bậc vương hầu thời trước. Để vận chuyển những khối đá nặng hàng tấn này từ miền trong ra vùng trung du phủ Hoàng Châu này vào thế kỷ mười tám, người xưa chắc chắn phải tốn hao rất nhiều nhân lực và tiền của.
- Họ đã dùng đá xanh để đánh dấu ranh giới của trận đồ trấn yểm. - Khiêm nói, mắt anh nhìn sâu vào rừng keo tối tăm phía sau cột mốc. - Điều này chứng tỏ khu vực này không đơn giản là đất cấm canh tác. Nó là một vùng đệm an toàn để ngăn người ngoài tiếp cận các điểm trấn ngầm. Cha tôi chắc chắn đã hiểu ra điều này nên mới cố gắng vẽ lại bản đồ để tìm cách hóa giải.
Từ phía sau họ, nương theo chiều gió thổi từ thung lũng, một âm thanh trầm đục vang lên. Đó là tiếng chuông đình làng Vạn Mạch. Tiếng chuông không ngân vang như thường lệ mà đứt quãng, nặng nề, mỗi tiếng chuông cách nhau một khoảng lặng dài đầy đe dọa. Tiếng chuông vọng qua các khe núi, bị sương mù khuếch đại thành một thứ âm thanh u uất, luẩn quẩn khắp rừng keo.
Ông Thụ từ trong xe thò đầu ra ngoài, khuôn mặt ông cắt không còn giọt máu:
- Tiếng chuông động mạch rồi! Cậu Khiêm, cô Huyền Anh, quay lại đi thôi! Đình làng Vạn Mạch đang thỉnh chuông báo động, nghĩa là nước sông Bạch Huyệt đang dâng tràn vào các giếng cổ trong làng. Nếu chúng ta còn đi tiếp, đất dưới chân sẽ sụt xuống sông đấy!
Khiêm nhìn đồng hồ trên tay. Đã gần năm giờ chiều, trời trung du mùa này tối rất nhanh. Sương mù mỗi lúc một dày, tầm nhìn xa giảm xuống chỉ còn chưa đầy ba mét. Nhưng chiếc cọc đồng trong túi áo anh lúc này không còn lạnh nữa, nó bắt đầu nóng lên, tỏa ra một sức nóng âm ỉ như một hòn than đượm. Nó đang thúc giục anh đi tiếp. Anh biết, nếu bây giờ quay lại, họ sẽ không bao giờ có cơ hội thứ hai để tiếp cận điểm trấn này khi người họ Phạm đang ráo riết cho máy xúc đào bới quanh miếu Quốc sư ở phía bên kia núi.
- Chúng ta không quay lại. - Khiêm nói, giọng anh đanh lại. - Bác Thụ, nếu bác sợ, bác có thể ngồi yên trong xe. Cháu phải đi hết con đường này.
Anh nắm lấy tay Huyền Anh, kéo cô trở lại cabin xe. Cửa xe đóng sập lại, ngăn cách họ với tiếng chuông đình u uất và tiếng gió rít qua rặng keo. Khiêm vào số, nhấn ga. Chiếc xe bán tải tiếp tục lầm lũi tiến về phía trước, hai luồng ánh sáng đèn pha mạnh mẽ vạch đôi màn sương mù dày đặc như hai lưỡi dao sắc bén.
Con đường càng đi càng dốc và gồ ghề hơn. Những tảng đá hộc nằm ngổn ngang giữa đường buộc Khiêm phải liên tục đánh lái để tránh va quệt vào gầm xe. Nước mưa chảy tràn trên mặt đường đất tạo thành những dòng suối nhỏ màu đỏ ngầu, cuốn theo những mảnh gỗ mục và lá khô trôi xuôi về phía hạ lưu sông Bạch Huyệt.
Huyền Anh mở tráp gỗ, lấy ra tờ sắc phong hai lần mực mà họ đã lấy được từ khu lưu trữ của dòng họ Lê. Cô dùng chiếc đèn pin nhỏ cầm tay soi vào phần cuối tờ sắc phong, nơi có những nét chữ khắc chìm bằng kim đồng mà họ vừa phát hiện ra lúc chiều.
- Khiêm, anh có nghĩ rằng người con gái họ Lê bị hiến tế đó... bà ấy vẫn còn ở đây không? - Huyền Anh khẽ hỏi, mắt cô không rời những nét chữ khắc chìm "Hiến danh nhân".
Khiêm im lặng một lúc lâu trước khi trả lời:
- Về mặt khoa học, không ai có thể sống sót dưới lòng đất hơn hai trăm năm. Nhưng về mặt năng lượng địa chất, một cơ thể bị chôn sống tại điểm nút của mạch khí sẽ hoạt động như một vật dẫn. Năng lượng sinh học của họ bị khóa lại cùng với áp suất của dòng nước ngầm và đá vôi. Đó là lý do tại sao dòng họ Nguyễn của tôi luôn nghe thấy tiếng thở dưới đất. Đó không phải là tiếng của rồng, mà là tần số dao động của địa tầng bị khóa bởi xương cốt người chết.
- Và tổ tiên anh là người đã thực hiện việc đó. - Giọng Huyền Anh có chút nghẹn ngào. - Họ đã dùng mạng sống của một người con gái dòng họ tôi để đổi lấy sự hưng thịnh cho dòng họ Nguyễn và năm dòng họ còn lại. Nhưng tại sao họ lại xóa tên bà ấy? Tại sao họ lại phản bội giao ước?
- Cháu tôi không phản bội! - Ông Thụ đột ngột hét lên từ phía sau, khiến cả Khiêm và Huyền Anh đều giật mình. Ông lão nhoài người ra phía trước, hai tay bám chặt vào lưng ghế lái, đôi mắt đỏ ngầu vì xúc động. - Cậu Khiêm, cô Huyền Anh, hai người không hiểu đâu! Ngày xưa, họ Nguyễn không muốn làm thế. Nhưng nếu không làm, cả vùng phủ Hoàng Châu này sẽ bị lũ lụt sông Bạch Huyệt cuốn trôi hết. Trận lụt năm Mậu Thân đó, nước dâng ngập tận ngọn cây keo cổ thụ kia kìa. Quốc sư nói chỉ có cách dùng người có mệnh Thổ của họ Lê mới trấn giữ được dòng nước hung dữ. Họ Nguyễn chỉ là người thực thi lời thề thôi!
- Vậy tại sao họ lại cạo sửa sắc phong? Tại sao lại xóa tên bà ấy khỏi phả hệ? - Huyền Anh quay lại hỏi dồn dập.
Ông Thụ há miệng định nói gì đó, nhưng rồi ông lại ngậm miệng lại, khuôn mặt hiện lên vẻ đau đớn và sợ hãi tột cùng. Ông buông tay khỏi lưng ghế, ngã sụp xuống băng ghế sau, hai tay ôm lấy đầu lầm rầm khấn vái:
- Tôi không biết... tôi không dám nói nữa... Nói ra là phạm vào lời thề dòng họ, đất sẽ nuốt chửng cả nhà tôi mất...
Khiêm không hỏi thêm nữa. Anh hiểu rằng những người già ở làng Vạn Mạch này đã bị nỗi sợ hãi từ lời thề hai trăm năm trước ăn sâu vào máu thịt. Họ thà chịu đựng sự suy tàn của dòng họ còn hơn là dám nói ra sự thật để hóa giải nó.
Chiếc xe bán tải đột ngột khựng lại.
Bánh trước của xe va phải một vật cản lớn bằng đá, động cơ xe lịm đi rồi tắt hẳn. Ánh đèn pha của xe rọi thẳng vào một công trình kiến trúc cổ kính hiện ra giữa màn sương mù dày đặc.
Đó là một cổng đá cổ chắn ngang con đường mòn. Cổng đá được dựng bằng ba phiến đá xanh nguyên khối khổng lồ, cao hơn ba mét. Phiến đá ngang phía trên cùng đã bị nứt một đường dọc lớn ở chính giữa, rêu phong và những nhánh dây leo rừng bám chằng chịt như những sợi dây xích trói chặt lấy công trình cổ.
Khiêm tắt đèn pha xe, chỉ để lại đèn định vị nhỏ. Anh và Huyền Anh mở cửa xe bước xuống đất. Lần này, ông Thụ cũng run rẩy bước xuống theo, ông không dám đứng một mình trong chiếc xe tối om giữa rừng keo âm u này.
Họ tiến lại gần cổng đá. Dưới ánh sáng từ ba chiếc đèn pin cầm tay, cấu trúc của cổng đá hiện lên rõ ràng. Đây là một cổng tam quan kiểu cổ nhưng đã bị bịt kín hai lối đi phụ bằng những viên gạch vồ màu xám xịt, loại gạch giống hệt như ở mộ tổ họ Nguyễn. Chỉ còn lại lối đi chính giữa rộng khoảng hai mét, nhưng lối đi này cũng bị chắn ngang bởi một tấm bia đá lớn đặt ngay dưới vòm cổng.
Khiêm đưa đèn pin soi vào cột đá bên trái của cổng tam quan. Trên mặt đá xanh nhẵn mịn, có khắc những dòng chữ Hán lớn được bố trí theo chiều dọc.
- Đây là danh sách các dòng họ tham gia lập trận. - Huyền Anh nói, cô bước lại gần để đọc rõ các chữ khắc. - Nhìn này Khiêm. Cột bên trái khắc ba họ: Phạm, Lê, Trần. Cột bên phải khắc ba họ: Ngô, Hoàng, Vũ.
Khiêm chuyển hướng ánh sáng đèn pin sang cột đá bên phải. Đúng như Huyền Anh nói, ba dòng họ Ngô, Hoàng, Vũ được khắc rõ ràng bằng những nét chữ sâu và sắc sảo. Tuy nhiên, ở phần chân của cột đá bên phải, ngay dưới chữ "Vũ tộc", có một khoảng trống lớn.
Khoảng trống đó không phải để tự nhiên. Bề mặt đá ở vị trí này đã bị đục đẽo một cách thô bạo bằng đục sắt. Những vết đục nham nhở, sâu hoắm vẫn còn trơ ra phần ruột đá màu xám xịt, tương phản hoàn toàn với bề mặt đá xanh đã nhẵn mịn và lên nước đen bóng của phần còn lại. Ai đó đã cố tình dùng búa và đục để xóa bỏ hoàn toàn tên của dòng họ thứ bảy ra khỏi cổng đá này.
- Họ Nguyễn. - Khiêm khẽ nói, anh đưa bàn tay run rẩy chạm vào những vết đục nham nhở trên cột đá. - Họ Nguyễn của tôi đã bị xóa khỏi cổng đá này. Nhưng không phải do người họ khác làm, mà chính người họ Nguyễn đã tự tay xóa tên mình để trốn tránh lời thề.
Chiếc cọc đồng trong túi áo ngực của Khiêm đột ngột nóng rực lên như một thanh sắt nung đỏ. Cơn đau nhói ở ngực khiến anh loạng choạng, phải tựa một tay vào cột đá xanh để không bị ngã xuống bùn. Tiếng thở dưới đất lúc này bỗng chuyển thành một tiếng gầm gừ trầm đục, mặt đất dưới chân họ khẽ rung chuyển nhẹ làm những viên gạch vồ bịt kín lối đi phụ của cổng đá rơi ra vài mảnh vụn.
Huyền Anh nhìn Khiêm bằng ánh mắt đầy lo lắng, nhưng cô cũng nhận ra một chi tiết khác trên tấm bia đá lớn chắn ngang lối đi chính giữa. Trên mặt bia đá không khắc văn bia, mà chỉ khắc duy nhất một trận đồ hình tròn với bảy nhánh tỏa ra như hình một con sao biển. Nhánh thứ bảy hướng về phía đỉnh núi Long Tàng đã bị một vết nứt lớn trên đá cắt đứt làm đôi.
- Đây không phải là cổng chào. - Huyền Anh thì thầm, giọng cô run lên vì lạnh. - Đây là một cái khóa. Và chiếc khóa này đã bị hỏng từ khi họ Nguyễn tự tay xóa tên mình trên cột đá.