Trấn Yểm Long Mạch - Chương 13: Nhà họ Lê mất phả
Cánh cửa gỗ bương ghép tạm của nhà thờ họ Lê ở xóm Hạ bị gió bấc đập vào khung tre, phát ra những tiếng cọt kẹt khô khốc giữa buổi chiều muộn. Trên then…
Nội dung chương
Cánh cửa gỗ bương ghép tạm của nhà thờ họ Lê ở xóm Hạ bị gió bấc đập vào khung tre, phát ra những tiếng cọt kẹt khô khốc giữa buổi chiều muộn. Trên then cửa mục nát, một túm tóc rối lẫn với đất sét đỏ được đóng chặt bằng một chiếc đinh sắt lớn han gỉ. Vết sét gỉ chảy dọc theo thớ gỗ, tạo thành một vệt màu nâu đỏ trông như một dòng máu khô bám chặt lấy lối vào. Người dân vùng trung du gọi đây là tục đóng đầu ma, một nghi thức trấn giữ nghiêm ngặt dành riêng cho những ngôi nhà có người chết trùng hoặc những dòng họ bị địa mạch đào thải.
Lê Huyền Anh dừng bước trước bậc thềm đá xanh đã bị rêu phủ kín. Cô đưa ngón tay chạm nhẹ vào túm tóc rối trên cánh cửa, cảm giác thô ráp và hơi lạnh từ lớp đất sét truyền qua da thịt làm cô khẽ rùng mình. Đất xóm Hạ sau trận mưa đêm qua đỏ quạch và nhão nhoét, dính chặt vào đế giày khảo cổ của cô thành từng mảng nặng nề. Mùi bùn sông Bạch Huyệt theo gió từ bến đò cũ thổi vào, mang theo vị tanh nồng đặc trưng của dòng nước đang mùa cạn.
- Nhà thờ họ Lê nằm ở thế đất trũng nhất xóm. - Nguyễn Trọng Khiêm đứng phía sau cô, anh cầm chiếc búa địa chất gõ nhẹ vào chân tảng đá kê cột cổng. - Nhìn hướng chảy của nước mưa trên mặt đất thì thấy toàn bộ nước từ các gò cao xung quanh đều đổ dồn về đây rồi thấm xuống lòng đất. Đây là một điểm tụ thủy, nhưng nước không thoát được mà đọng lại thành những vũng bùn đen.
Huyền Anh không đáp. Cô dùng sức đẩy cánh cửa gỗ. Tiếng chốt cửa bằng tre bên trong gãy giòn dưới lực đẩy của cô. Cánh cửa mở ra, để lộ một khoảng tối tăm và ẩm thấp bên trong gian nhà thờ ba gian lợp ngói vảy rồng đã sụp mất một góc bên tả. Ánh sáng yếu ớt của buổi chiều muộn chỉ đủ soi rõ những hạt bụi lơ lửng trong không khí và những vệt nước mưa chảy loang lổ trên nền đất nện.
Bàn thờ tổ họ Lê đặt ở gian giữa, nhưng trên đó trống trơn. Không có bài vị gỗ mít sơn son thếp vàng, không có ống hương đồng hay chân nến. Trên mặt ban thờ chỉ có một bát hương bằng đất nung xám bị nứt làm đôi, cát bên trong đã đông cứng lại thành một khối mốc xanh xám. Bức hoành phi phía trên đã mất từ lâu, chỉ còn trơ lại hai chiếc đinh sắt cắm sâu vào xà ngang như hai con mắt tối tăm nhìn xuống.
Huyền Anh đi thẳng đến góc bên hữu của gian nhà thờ, nơi đặt chiếc tủ gỗ đựng gia phả. Chiếc tủ làm bằng gỗ xoan đào cũ, cánh tủ bên trái đã mất bản lề, nằm nghiêng vẹo tựa vào vách đất. Cô kéo cánh tủ còn lại ra. Bên trong trống rỗng, chỉ có một lớp bụi dày, vài mảnh vỏ trứng gián và những sợi xơ tre mục nát.
- Họ Lê ở đây đã mất phả từ lâu rồi. - Một giọng nói khàn đặc vang lên từ phía gian nhà ngang bên cạnh.
Một ông lão bước ra từ ngách cửa hẹp nối giữa nhà thờ và gian bếp củi. Ông lão ngoài sáu mươi tuổi, dáng người gầy gò như một thân cây khô, một bên ống quần vải nâu được xắn lên cao, lộ ra khớp gối sưng to, đỏ ửng. Ông lão đi khập khiễng, tay chống một thanh tre đực đã lên nước bóng loáng. Mùi dầu gió nồng nặc trộn lẫn với mùi lá trầu không héo bốc ra từ người ông ta.
Huyền Anh quay lại, cô khẽ cúi đầu:
- Cháu chào bác Chấn. Cháu là Huyền Anh, con ba Sơn ở chi dưới.
Ông Lê Khắc Chấn dừng bước, con mắt kèm nhèm của ông ta nheo lại dưới đôi lông mày bạc trắng. Ông ta nhìn Huyền Anh một lượt từ đầu đến chân, rồi ánh mắt dừng lại ở Khiêm, người đang đứng quan sát những vết đục đẽo trên cột gỗ lim của nhà thờ họ.
- Con nhà chú Sơn à? - Ông Chấn ho khan một tiếng, tiếng ho nghe như tiếng đất đá cọ xát dưới lòng giếng cạn. - Sơn nó đi biệt xứ hai mươi năm nay, giờ con gái mới mò về đây làm gì? Mà người đi cùng cô là ai? Nhìn chẳng giống người vùng này.
- Đây là Khiêm, bạn cháu. Anh ấy làm khảo sát địa chất. - Huyền Anh giải thích, cô bước lại gần ông lão. - Bác Chấn, cháu về đây để tìm lại gia phả họ Lê. Cháu nghe nói trước khi nhà thờ họ bị bỏ hoang, bác là người cầm chìa khóa tủ phả.
Ông Chấn cười khục khục trong cổ họng, tiếng cười không có chút vui vẻ nào. Ông ta chỉ cây gậy tre vào chiếc tủ gỗ trống rỗng:
- Chìa khóa thì còn, nhưng phả thì mất rồi. Mất từ cái năm người ta đến đào cái giếng đá ở đầu làng cơ. Cô hỏi làm gì? Cái họ Lê này bị đất phạt, người trong họ chết trẻ gần hết, kẻ sống sót thì tản mát bốn phương. Giờ xóm Hạ này chỉ còn mình tôi canh cái miếu hoang này thôi.
Khiêm bước lại gần một cột gỗ lim ở gian giữa. Anh chỉ tay vào một vết đục sâu trên thân cột, nơi thớ gỗ đã bị chuyển sang màu đen kịt vì độ ẩm:
- Bác Chấn, vết đục này là do ai làm? Cháu thấy dấu vết đục này còn khá mới, chỉ khoảng vài chục năm trở lại đây. Người ta đục chữ gì ở trên này đi thế?
Mặt ông Chấn biến sắc. Ông ta vội vàng bước tới, dùng thân hình gầy gò của mình che khuất vết đục trên cột gỗ, giọng nói trở nên gắt gỏng:
- Cậu hỏi làm gì? Chuyện trong họ Lê chúng tôi, người ngoài không được phép xen vào. Đi ra ngoài ngay! Nhà thờ họ đang dột nát, sụp xuống đè chết người bây giờ.
- Bác Chấn, cháu biết họ Lê chúng ta có liên quan đến trận đồ trấn yểm núi Long Tàng. - Huyền Anh nói thẳng, cô lấy từ trong túi xách ra một bức ảnh chụp lại đoạn xương cổ có khắc chữ "Lê" bằng chữ Hán mà họ tìm thấy dưới mộ tổ họ Nguyễn đêm qua. - Đoạn xương này bị đóng đinh đồng dưới chân mộ tổ họ Nguyễn Trọng. Trên xương có khắc tên họ của chúng ta. Bác biết điều này nghĩa là gì không?
Ông Chấn nhìn chằm chằm vào bức ảnh trên tay Huyền Anh. Bàn tay cầm gậy tre của ông ta bắt đầu run rẩy, những đường gân xanh nổi lên dưới lớp da mồi mỏng manh như những rễ cây bám chặt vào đá. Ông ta lùi lại một bước, tựa lưng vào cột gỗ lim bị đục đẽo:
- Các người... các người đã động vào mộ cụ Nguyễn Trọng rồi sao? Gan các người to bằng trời rồi! Lời thề bảy dòng họ đã khóa dưới sông Bạch Huyệt, ai cho phép các người đào lên?
- Cha cháu đã chết vì chuyện này. - Khiêm bước lên một bước, giọng anh lạnh lùng nhưng kiên quyết. - Cha của Huyền Anh cũng phải bỏ xứ mà đi. Nếu chúng ta không tìm ra sự thật về các điểm trấn, mạch phản từ núi Long Tàng sẽ nuốt chửng cả làng Vạn Mạch này. Bác nhìn chân của bác đi, đó có phải là do phong thấp thông thường không?
Ánh mắt Khiêm hướng vào khớp gối sưng to của ông Chấn. Dưới lớp da căng mọng, có những vệt màu xám xịt như đá vôi đang lan dần xuống bắp chân ông lão, tương tự như những gì họ đã thấy trên cơ thể ông Ba Khánh ở chương trước.
Ông Chấn thở dốc, ông ta nhìn ra ngoài sân nhà thờ họ, nơi mưa phùn đang làm cho những vũng nước đục ngầu sủi bọt khí bong bóng. Sau một hồi im lặng kéo dài, ông lão buông một tiếng thở dài thườn thượt, cây gậy tre gõ cộc xuống nền đất nện:
- Vào gian buồng trong đi. Ở ngoài này tai vách mạch rừng. Người họ Phạm vẫn lảng vảng quanh đây mấy ngày nay đấy.
Gian buồng trong của nhà thờ họ Lê thực chất là một gian buồng tối tăm, dùng để chứa những đồ đạc hỏng hóc và củi khô. Ông Chấn dẫn họ đến trước một chiếc hòm tôn cũ kỹ đặt dưới gầm giường tre. Ông ta lách tay vào khe hở giữa tường đất và vách gỗ, lấy ra một chiếc chìa khóa đồng nhỏ đã rỉ xanh.
Khi chiếc hòm tôn được mở ra, một mùi giấy mốc và mùi băng phiến xộc thẳng vào mũi Huyền Anh. Bên trong hòm không có sách phả hoàn chỉnh, chỉ có vài tờ giấy bản màu vàng úa, mép giấy đã bị gián nhấm nham nhở.
Huyền Anh cẩn thận dùng nhíp chuyên dụng gắp từng tờ giấy lên, đặt dưới ánh đèn pin của Khiêm. Cô là người nghiên cứu Hán Nôm, chỉ cần nhìn qua những nét chữ viết bằng mực tàu trên giấy bản, cô đã nhận ra niên đại của tài liệu này:
- Đây là những trang phả hệ được chép từ thời Gia Long. Nhưng nhìn những vết rách này đi.
Huyền Anh chỉ ngón tay vào mép của ba trang giấy liên tiếp. Những trang giấy này bị ai đó dùng dao sắc rạch dọc theo đường chỉ khâu gáy sách để lấy đi toàn bộ nội dung, chứ không hề mục nát tự nhiên. Phần sót lại chỉ là những dòng chữ nhỏ ghi chú bên lề bằng thứ mực đỏ đã phai màu:
"Tử vô tung tích" và "Trục xuất khỏi tông tộc".
- Những trang bị xé này ghi chép về ai, thưa bác? - Huyền Anh ngẩng đầu lên hỏi ông Chấn.
Ông Chấn ngồi bệt xuống chiếc ghế gỗ mục. Ông ta rít một hơi thuốc lào từ chiếc điếu bát đặt trong góc buồng, khói thuốc mù mịt che khuất khuôn mặt nhăn nheo:
- Đó là ba đời liên tiếp của chi trưởng họ Lê chúng ta. Những người đó đều làm thầy địa lý cho triều đình vào cuối thế kỷ mười tám, đầu thế kỷ mười chín. Họ là những người đã cùng với quốc sư đi khảo sát địa mạch núi Long Tàng và sông Bạch Huyệt.
- Tại sao họ lại bị xóa tên khỏi gia phả? - Khiêm hỏi, anh dùng điện thoại chụp lại những trang giấy bản còn sót lại.
- Vì họ đã bán tên của dòng họ cho đất. - Giọng ông Chấn chìm đi trong tiếng khói thuốc. - Lời thề bảy dòng họ khi lập trận trấn yểm yêu cầu mỗi nhà phải hiến tế một người làm vật dẫn mạch. Họ Lê chúng ta là nhà giữ phần địa bàn phía tả ngạn sông Bạch Huyệt. Ba người làm thầy địa lý của ba đời đó đã tự nguyện dâng hiến tên tuổi và xương máu của mình để làm cọc trấn phụ dưới lòng sông.
Ông Chấn chỉ tay về phía bức tường đất phía sau nhà thờ:
- Khi người ta xóa tên họ khỏi gia phả, nghĩa là trên cõi đời này họ không còn tồn tại nữa. Về mặt phong thủy, họ đã biến thành những phần xương thịt của địa mạch. Nhưng họ Nguyễn các người thì sao? Tổ tiên các người đã hứa sẽ bảo vệ phần mộ của họ Lê, nhưng cuối cùng các người lại dùng đinh đồng đóng xuyên qua xương cốt của cụ tổ nhà tôi để giữ chặt long khí cho nhà các người!
Huyền Anh cảm thấy lồng ngực mình nghẹn lại. Cô nhìn bức ảnh chụp đoạn xương cổ có chữ "Lê". Hóa ra bộ xương phụ nữ bị đóng đinh dưới mộ tổ họ Nguyễn là bằng chứng của một sự phản bội, không còn là trùng hợp ngẫu nhiên.
- Cha cháu không hề biết chuyện này. - Khiêm nói, giọng anh vẫn giữ được sự bình tĩnh dù trán anh đã lấm tấm mồ hôi. - Ông ấy chết vì cố tìm cách giải thoát cho những bộ xương bị trấn yểm dưới đất. Chiếc cọc đồng thứ bảy mà cha cháu để lại chính là chìa khóa để mở trận đồ này.
- Mở thế nào được mà mở! - Ông Chấn đột ngột đứng phắt dậy, cây gậy tre đập mạnh xuống đất. - Các người có biết tại sao họ Lê chúng tôi mất phả không? Không phải vì giặc giã, cũng không phải vì hỏa hoạn. Chính người họ Phạm đã đến đây lấy đi phần phả chính mười năm trước. Họ muốn tìm ra danh tính của người phụ nữ họ Lê bị hiến tế dưới mộ tổ họ Nguyễn để dùng thuật chiêu hồn, bắt mạch khí phải phục vụ cho nhà họ.
- Phạm Đình Tốn? - Huyền Anh hỏi.
- Chính là ông ta. - Ông Chấn nghiến răng, những sợi gân cổ nổi lên bành bạnh. - Ông ta cho người về đây, giả vờ quyên góp tiền công đức để trùng tu nhà thờ họ, rồi lừa tôi đưa chìa khóa tủ phả. Khi tôi phát hiện ra thì phần phả hệ quan trọng nhất đã bị mất. Từ đó đến nay, chân tôi bắt đầu hóa đá thế này đây. Đó là sự trừng phạt của tổ tiên vì tôi đã để mất phả hệ của dòng họ.
Mặt đất dưới chân họ đột ngột rung nhẹ. Một tiếng ực trầm đục phát ra từ phía sau nhà thờ họ Lê, nơi có chiếc giếng đá cổ nằm sát hiên nhà. Tiếng động nghe như tiếng một con quái vật khổng lồ dưới lòng đất đang nuốt nước vào bụng.
Khiêm ngay lập tức rút chiếc búa địa chất ra khỏi bao da. Anh chạy nhanh ra phía hiên nhà thờ, Huyền Anh và ông Chấn khập khiễng đuổi theo sau.
Nước trong chiếc giếng đá cổ đang dâng lên nhanh chóng. Mặt nước giếng bình thường nằm sâu dưới lòng đất hơn năm mét, nay đã dâng lên sát miệng giếng, mang theo một màu đen kịt như mực tàu và mùi bùn sông Bạch Huyệt nồng nặc. Trên mặt nước giếng, những bong bóng khí lớn liên tục vỡ ra, giải phóng một luồng khí lạnh buốt tỏa ra xung quanh.
Khiêm cúi xuống nhìn vào lòng giếng. Dưới ánh đèn pin, anh thấy thành giếng được ghép bằng những phiến đá xanh hình vòng cung, trên mỗi phiến đá đều có khắc những dấu triện tròn giống hệt như trên những viên gạch vồ ở mộ tổ họ Nguyễn.
- Mạch nước ngầm đang bị ép ngược. - Khiêm nói, anh đưa tay đo nhiệt độ của nước giếng. - Nước lạnh dưới mười độ C. Điều này chứng tỏ nguồn nước này chảy trực tiếp từ các tầng đá sâu dưới núi Long Tàng ra, không phải nước ngầm bề mặt. Có ai đó đang đào bới ở thượng nguồn sông Bạch Huyệt, làm thay đổi áp suất của hệ thống hang động ngầm.
- Là người họ Phạm. - Ông Chấn run rẩy chỉ tay về phía ngọn núi Long Tàng đang chìm trong sương mù phía xa. - Họ đang cho máy xúc đào bới quanh khu vực miếu Quốc sư. Họ muốn nhổ chiếc cọc trấn thứ tư ở đó.
Chiếc cọc đồng nhỏ trong túi áo khoác của Khiêm đột ngột tỏa ra một hơi lạnh thấu xương, khiến anh phải áp chặt tay vào ngực để ngăn cơn co thắt. Tiếng thở dưới đất mà anh vẫn thường nghe thấy từ nhỏ nay lại vang lên. Nó không còn là tiếng thở nhẹ của một sinh vật đang ngủ say, mà giống tiếng gầm đứt quãng của một con thú bị thương đang cố giãy khỏi xích sắt.
Huyền Anh đứng bên cạnh Khiêm, cô nhìn chằm chằm vào dòng nước giếng đen ngỏm đang mấp mé miệng giếng đá. Cô nhận ra một một chuyện khuất tất bất thường trên thành giếng. Ở vị trí ngay dưới mép nước, có một tấm bia đá nhỏ được gắn chìm vào thân giếng. Trên bia đá có khắc những dòng chữ đã bị rêu phủ kín.
Cô không ngần ngại quỳ xuống nền đất ướt, dùng chiếc chổi nhỏ trong túi đồ nghề khảo cổ của mình để gạt bỏ lớp rêu bám trên mặt bia đá. Những dòng chữ Hán dần hiện ra dưới ánh sáng đèn pin:
"Lê thị hiến danh - Địa mạch vĩnh trấn - Nguyễn tộc thủ ước."
Nghĩa là: Người con gái họ Lê hiến dâng tên tuổi - Trấn giữ địa mạch mãi mãi - Họ Nguyễn giữ lời giao ước.
Huyền Anh cảm thấy tim mình đập liên hồi. Dòng chữ này là bằng chứng rõ ràng nhất về sự thỏa thuận giữa hai dòng họ Lê và Nguyễn từ hai trăm năm trước. Nhưng tại sao họ Nguyễn lại phản bội giao ước bằng cách dùng đinh đồng đóng xuyên qua xương cốt của người con gái họ Lê? Phải chăng có một bí mật khác nằm sau việc trấn yểm này mà gia phả họ Nguyễn không hề ghi chép?
- Bác Chấn, người con gái họ Lê bị hiến tế đó tên là gì? - Huyền Anh quay lại hỏi ông lão.
Ông Chấn lắc đầu, khuôn mặt ông hiện lên vẻ đau đớn:
- Tôi không biết. Tên của bà ấy đã bị xóa khỏi phả hệ từ khi bà ấy bước xuống hầm đá dưới lòng sông Bạch Huyệt. Người ta chỉ gọi bà ấy là Cô Chín Đất Nện. Nhưng trong họ vẫn truyền tai nhau rằng, bà ấy là người duy nhất trong họ Lê có thể nghe thấy tiếng rồng thở dưới đất giống như cậu Khiêm đây.
Khiêm nhìn Huyền Anh, anh nhận thấy sắc mặt cô đang tái đi vì lạnh và vì những gì vừa phát hiện ra. Anh nắm lấy vai cô, kéo cô đứng dậy tránh xa miệng giếng đá đang sủi bọt khí:
- Chúng ta phải rời khỏi đây ngay. Nước giếng dâng cao thế này nghĩa là địa tầng bên dưới đang mất ổn định. Nếu đứng đây lâu, nền đất nhà thờ họ có thể sụt lở bất cứ lúc nào.
Họ quay trở lại gian buồng trong để thu dọn những trang giấy bản còn sót lại của gia phả họ Lê. Ông Chấn không ngăn cản họ nữa, ông lão ngồi bệt trên chiếc ghế gỗ, đôi mắt vô thần nhìn vào khoảng không tối tăm trước mặt.
Trong lúc Huyền Anh đang thu dọn những mảnh giấy bản cuối cùng trên chiếc giường tre cũ, tay cô vô tình chạm phải một tấm bài vị gỗ trắng nằm lăn lóc dưới gầm ban thờ phụ trong góc buồng. Tấm bài vị này làm bằng gỗ mít chưa sơn, không có hoa văn trang trí, trông như một tấm gỗ thô sơ mới được đẽo gọt gần đây.
Huyền Anh nhặt tấm bài vị lên. Mặt trước của tấm bài vị hoàn toàn để trống, không khắc một chữ nào. Nhưng khi cô lật mặt sau của tấm bài vị lên dưới ánh sáng đèn pin của Khiêm, cô nhìn thấy ba chữ viết bằng mực son đỏ tươi. Nét mực vẫn còn mới nguyên và hơi ẩm ướt như vừa mới được viết cách đây vài giờ:
"Lê Huyền Anh".