Trấn Yểm Long Mạch - Chương 12: Lời dặn của người chết

Khói hương bài trong gian hậu cung nhà thờ họ Nguyễn Trọng đặc quánh, quyện vào cái lạnh ẩm của buổi chiều muộn sau lễ thất tuần. Mưa phùn ngoài trời đã…

Nội dung chương

Khói hương bài trong gian hậu cung nhà thờ họ Nguyễn Trọng đặc quánh, quyện vào cái lạnh ẩm của buổi chiều muộn sau lễ thất tuần. Mưa phùn ngoài trời đã dứt từ quá trưa, nhưng hơi nước từ những rãnh thoát nước xung quanh gò đất vẫn rỉ ra liên tục, thấm qua chân tường đá hộc rồi loang ra nền gạch Bát Tràng thành những vệt màu gỉ sắt. Trên ban thờ vong của ông Nguyễn Trọng Sinh, chiếc bát hương bằng gốm men rạn đột ngột nứt làm đôi.

Đường nứt chạy dọc từ miệng bát hương xuống tận chân đế, rỉ ra một thứ nước màu nâu đỏ tanh nồng mùi bùn sông Bạch Huyệt. Những chân nhang cắm bên trong nghiêng ngả rồi đổ sụp xuống mặt bàn thờ, tro nóng rơi vãi trên tấm vải phủ màu đỏ úa.

Khiêm đứng lặng trước ban thờ, đôi bàn tay đút sâu vào túi áo khoác bám đầy bùn đất từ chuyến đào mộ đêm qua. Anh không tiến lại gần để dựng những chân nhang bị đổ, chỉ chăm chú quan sát vệt nước màu gỉ sắt đang chảy tràn qua mép bàn thờ gỗ mít, nhỏ từng giọt cộc cộc xuống nền gạch ẩm ướt.

- Rút chân nhang ra, lau sạch mặt ban đi thôi cháu. - Ông trưởng họ Nguyễn Trọng bước vào từ gian ngoài, giọng khàn đặc vì sương lạnh. - Lễ thất tuần vừa xong mà bát hương đã nứt thế này, cụ nhà dưới suối vàng chắc hẳn còn điều gì u uất chưa đắc ý.

Khiêm vẫn đứng yên, giọng anh lạnh tanh:

- Nước này từ dưới đất đùn lên qua kẽ gạch, không có chuyện cụ nhà tôi không đắc ý. Mạch nước của gò mộ tổ đang xông thẳng vào nền nhà thờ họ.

Ông trưởng họ run rẩy rút từ trong tay áo ra một chiếc khăn vải thô, toan tiến lên lau dọn bát hương nứt, nhưng bước chân ông khựng lại khi nhìn thấy vệt nước màu nâu đỏ kia. Ông ngửi thấy mùi tanh của bùn đất sông Bạch Huyệt, thứ mùi mà những người sống ở làng Vạn Mạch này cả đời không thể nhầm lẫn. Nó là mùi của dòng nước xiết chảy dưới lòng đất, nơi có những bệ đá không rùa đội và những bộ xương bị xích bằng dây đồng.

- Cậu Khiêm này. - Trưởng họ hạ thấp giọng, mắt nhìn dáo dác ra phía cửa võng. - Chuyện đêm qua ở ngoài gò mộ tổ, mấy đứa tuần đinh trong họ đã thấy cả rồi. Cậu đào lên một bộ xương con gái họ Lê dưới chân bia cụ tổ, chuyện này mà truyền ra ngoài thì họ Nguyễn Trọng ta không còn mặt mũi nào nhìn dân làng Vạn Mạch nữa. Người ta sẽ nói nhà mình dùng tà thuật trấn yểm, cướp vận của người khác.

Khiêm quay lại nhìn người họ hàng lớn tuổi. Gương mặt anh hằn lên những nét mệt mỏi sau một đêm không ngủ. Nhưng đôi mắt vẫn giữ vẻ sắc lạnh của một kỹ sư quen đối mặt với những số liệu địa chất khô khan:

- Họ Lê đã bị xóa tên khỏi phả chính từ hai trăm năm trước. Nếu không đào bộ xương đó lên, mạch phản từ sông Bạch Huyệt sẽ ăn mòn hết chân mộ cụ tổ trong vòng ba năm nữa. Lúc đó không chỉ là mất mặt mũi, mà cả cái gò đất này cũng sẽ sạt xuống sông. Cậu tin phong thủy hay tin vào thực tế đất đai đang sụt lún?

Ông trưởng họ nghẹn lời, gương mặt già nua co rúm lại. Ông không dám cãi lý với Khiêm, nhưng nỗi sợ nhòe về những lời nguyền gia tộc vẫn hiện rõ trong từng nếp nhăn trên trán. Ông thở dài, thọc tay vào túi áo bên trong, lôi ra một chiếc hộp gỗ nhỏ dài bằng gang tay, sơn son thếp vàng đã bong tróc gần hết.

- Đây là thứ cha cậu gửi lại cho tôi trước ngày ông ấy đi khảo sát vùng núi Long Tàng rồi qua đời. - Ông trưởng họ đặt chiếc hộp gỗ lên mặt bàn thờ, tránh xa vệt nước gỉ sắt đang chảy. - Ông ấy dặn đúng ngày thất tuần mới được giao lại cho cậu. Cả họ này không ai dám mở ra xem. Giờ việc của nhà cậu, cậu tự giải quyết lấy. Tôi chỉ mong cậu đừng làm kinh động đến phần mộ của tổ tiên thêm lần nào nữa.

Khiêm đón lấy chiếc hộp gỗ. Lớp sơn dầu rái bên ngoài đã xỉn màu, bốc lên mùi thơm hăng hắc của gỗ hoàng đàn trộn lẫn với mùi ẩm mốc của giấy bản để lâu ngày trong rương kín. Anh dùng ngón tay cái gạt nhẹ chiếc chốt đồng hoen gỉ, nắp hộp mở ra với một tiếng cạch khô khốc.

Bên trong hộp chỉ có một phong thư bằng giấy bản dày, mép thư được niêm phong bằng sáp đỏ có đóng dấu triện hình tròn của dòng họ Nguyễn Trọng. Dưới đáy hộp còn có một chiếc cọc đồng nhỏ bằng ngón tay út, dài khoảng mười centimet. Hai đầu nó nhọn hoắt và có khắc những đường rãnh xoắn ốc giống hệt chiếc cọc đồng lớn mà Khiêm đã tìm thấy trong quan tài cụ tổ trước đó.

Khiêm cầm chiếc cọc đồng nhỏ lên. Kim loại lạnh ngắt truyền qua da thịt, khiến những khớp ngón tay của anh run nhẹ. Anh nhận ra trên thân chiếc cọc đồng này có khắc ba chữ Hán rất nhỏ: "Nguyễn Trọng Khiêm".

Tên của chính anh đã được khắc sẵn trên vật trấn yểm này từ trước khi anh chào đời, hoặc ít nhất là từ khi cha anh bắt đầu cuộc hành trình tìm kiếm những điểm trấn yểm trên trục núi Long Tàng.

Huyền Anh từ phía sau bước vào gian hậu cung, bước chân cô nhẹ nhàng không gây ra tiếng động trên nền gạch ẩm. Cô nhìn chiếc cọc đồng trong tay Khiêm, rồi nhìn sang phong thư niêm phong sáp đỏ.

- Anh Khiêm, ông Ba Khánh đang đợi ở gian buồng bên. - Huyền Anh nói khẽ, mắt cô dừng lại ở vệt nước đỏ ngầu trên bát hương nứt. - Ông ấy nói mạch nước sông Bạch Huyệt đã tràn vào đến giếng làng rồi. Nếu chúng ta không nhanh chóng tìm cách giải quyết bộ xương dưới mộ tổ, đêm nay mạch phản sẽ chạy thẳng vào nhà thờ họ.

Khiêm gật đầu, anh cất chiếc cọc đồng nhỏ vào túi áo, cầm phong thư rồi cùng Huyền Anh đi sang gian buồng bên cạnh.

Gian buồng bên của nhà thờ họ là nơi chứa những đồ tế khí cũ hỏng và các tấm văn cúng đã mục nát. Ông Ba Khánh đang ngồi trên một chiếc phản gỗ xẻ đôi, một mắt của ông nhắm nghiền, con mắt còn lại đục ngầu nhìn chăm chăm vào đốm lửa đỏ của chiếc điếu cày trên tay. Khói thuốc lào bay ra từ miệng ông đặc quánh, lơ lửng trong không gian chật hẹp, tạo nên một bức màn xám xịt che khuất những góc tối của gian buồng.

- Đào lên rồi phải không? - Ông Ba Khánh không ngẩng đầu lên, tiếng ông khàn khàn như tiếng hai viên sỏi cọ vào nhau. - Bộ xương của đứa con gái họ Lê dưới chân mộ cụ tổ nhà anh.

Khiêm ngồi xuống chiếc ghế đẩu đối diện ông lão:

- Phải. Bộ xương bị đóng đinh đồng xuyên qua hai xương bả vai, cố định vào nền đá. Trên trán có khắc chữ Lê.

Ông Ba Khánh thở dài một hơi dài, khói thuốc theo đó thoát ra qua những kẽ răng vàng ố:

- Oan nghiệt. Hai trăm năm trước, họ Nguyễn nhà anh đứng đầu bảy họ lập trận khóa long mạch. Người ta nói sáu họ đồng lòng, họ Lê phản thệ nên bị trừng phạt. Nhưng thực chất, họ Lê không phản. Họ chỉ là những người được chọn để làm vật dẫn khí. Máu của người họ Lê chảy dưới lòng đất để nuôi giữ cho long khí không thoát ra ngoài, còn sáu họ kia được hưởng phúc lộc, con cháu đỗ đạt làm quan.

- Cha tôi biết chuyện này từ khi nào? - Khiêm hỏi, anh đặt phong thư lên mặt bàn gỗ.

- Từ mười năm trước, khi ông ấy bắt đầu nhận ra những người đàn ông họ Nguyễn cứ đến tuổi năm mươi là phát bệnh phổi mà chết, không một ai sống thọ. - Ông Ba Khánh chỉ ngón tay gầy guộc vào phong thư. - Cha anh là người thông minh. Ông ấy nhận ra long mạch bị khóa bằng máu người thì sớm muộn cũng có ngày mạch phản. Khi long khí dưới núi Long Tàng cạn kiệt, thứ chảy ngược lại trong đường hầm đá sẽ là oán khí của những người bị hiến tế. Ông ấy muốn mở trận để trả lại tên cho họ, để những linh hồn đó được siêu thoát, cứu lấy con cháu đời sau.

Huyền Anh bước lại gần, cô nhìn phong thư với ánh mắt phức tạp:

- Nhưng cha anh đã dừng lại trước chiếc cọc thứ bảy. Tại sao ông ấy không nhổ nó lên?

Khiêm không trả lời ngay. Anh dùng con dao nhỏ rạch đứt lớp sáp đỏ niêm phong, rút tờ giấy bản bên trong phong thư ra. Nét chữ của cha anh hiện ra trên mặt giấy, nét chữ viết bằng mực tàu đã phai màu, có những chỗ bị nhòe đi vì hơi ẩm của đất trung du.

Khiêm đọc thầm những dòng chữ của người cha quá cố:

"Khiêm con,

Khi con đọc được những dòng này, ta đã nằm dưới lòng đất lạnh của núi Long Tàng hoặc đã trôi theo dòng nước sông Bạch Huyệt. Ta không mong con tin vào những chuyện phong thủy, địa lý mà ta đã theo đuổi cả đời. Con là kỹ sư, con tin vào những gì mắt thấy tai nghe, tin vào những tầng đất đá mà con đo đạc được. Nhưng có những thứ lực lượng nằm sâu dưới lòng đất trung du này, vượt ra ngoài mọi định luật vật lý mà con được học.

Bảy chiếc cọc đồng trấn yểm dọc theo trục núi Long Tàng không phải để giữ cho đất đai vững chãi. Đó là một trận đồ tàn nhẫn được dựng lên bằng máu của người sống. Tổ tiên họ Nguyễn ta cùng năm dòng họ khác đã dùng mạng sống của người họ Lê để làm vật hiến tế, khóa chặt long mạch nhằm đoạt lấy vận khí cho gia tộc.

Ta đã dành mười lăm năm để đi qua từng điểm trấn, từ giếng đá làng Vạn Mạch đến miếu quốc sư trên đỉnh núi. Ta đã cố gắng nhổ những chiếc cọc đồng ở sáu điểm trấn đầu tiên để giải thoát cho mạch khí, trả lại tên cho những người đã chết oan khuất dưới lòng đất. Nhưng khi ta chạm đến chiếc cọc thứ bảy nằm sâu trong hang đá dưới chân núi Long Tàng, ta nhận ra mình đã lầm.

Chiếc cọc thứ bảy không thể nhổ.

Nếu nhổ chiếc cọc thứ bảy, toàn bộ long mạch của vùng trung du này sẽ sụp đổ hoàn toàn. Nước sông Bạch Huyệt sẽ dâng cao nhấn chìm phủ Hoàng Châu, và oán khí tích tụ hai trăm năm qua dưới lòng đất sẽ bộc phát, tiêu diệt toàn bộ hậu duệ của bảy dòng họ không chừa một ai. Ta đã phải dùng chính sinh mạng của mình để gia cố lại chiếc cọc thứ bảy, ngăn không cho mạch phản bùng phát sớm hơn.

Nhưng ta biết, sức người có hạn. Mạch phản đã bắt đầu ăn vào xương tủy của ta, và nó sẽ tìm đến con, đến thế hệ tiếp theo của họ Nguyễn Trọng.

Muốn giải quyết triệt để trận đồ này mà không làm sụp đổ long mạch, con phải tìm lại hậu duệ của sáu dòng họ còn lại. Bảy dòng họ đã lập lời thề bằng máu, thì nay phải chính hậu duệ của bảy dòng họ đó cùng có mặt tại điểm trấn thứ bảy để hóa giải lời thề.

Đừng đi một mình, Khiêm ạ. Hãy tìm họ..."

Bức thư đột ngột dừng lại ở đó. Nét chữ cuối cùng kéo dài ra thành một vệt mực nhòe nhoẹt, giống như người viết đã bị một cơn đau đột ngột quật ngã, không kịp hoàn thành câu viết.

Khiêm đặt bức thư xuống bàn. Gió từ khe cửa sổ hở lùa vào, làm tờ giấy bản mỏng manh khẽ rung lên. Anh nhìn sang ông Ba Khánh, người vẫn đang im lặng rít những hơi thuốc lào cuối cùng.

- Sáu dòng họ còn lại gồm những nhà nào? - Khiêm hỏi, giọng anh không hề dao động. - Trên bia đá dưới sông Bạch Huyệt chỉ ghi danh họ Nguyễn, họ Phạm, họ Trần... Còn ba họ nữa đã bị đục mờ nét chữ.

Ông Ba Khánh đặt chiếc điếu cày xuống đất, dùng ngón tay gạt đi lớp tàn thuốc nóng hổi:

- Họ Phạm ở làng Vạn Mạch này thì dễ tìm, chính là nhà ông Phạm Đình Tốn đang làm ăn lớn trên tỉnh kia. Họ Trần thì đã dời đi nơi khác từ thời chống Pháp, nghe đâu lên mạn ngược lập nghiệp. Còn ba họ bị đục tên... một họ là họ Lê của cô Huyền Anh đây. Hai họ còn lại là họ Hoàng và họ Đỗ. Nhưng họ Hoàng và họ Đỗ đã tuyệt tự từ lâu rồi, hoặc ít nhất là người ta nghĩ thế.

Huyền Anh mím chặt môi. Cô nhìn vào bức thư của cha Khiêm, rồi nhìn xuống bàn tay mình. Những ngón tay của cô thon dài, nhưng dưới móng tay có những vệt màu xám nhạt, dấu hiệu của việc tiếp xúc nhiều với những trang sách cổ chứa đầy bụi mốc và mực tàu.

- Họ Lê của em không tuyệt tự. - Huyền Anh nói, giọng cô nhỏ nhưng kiên quyết. - Gia đình em tuy bị xóa tên khỏi phả chính của làng Vạn Mạch, nhưng ông nội em trước khi mất vẫn giữ một cuốn gia phả phụ, chép tay từ thời Gia Long. Trong đó có ghi rõ mối quan hệ giữa bảy nhà. Cha anh nói đúng, nếu không có đủ đại diện của các dòng họ, chúng ta không thể chạm vào chiếc cọc thứ bảy mà không làm sụp đổ toàn bộ mạch đất.

Khiêm đứng dậy, anh đi lại phía cửa sổ, nhìn ra khoảng sân gạch tối om của nhà thờ họ. Nước mưa vẫn đang rỉ ra từ những kẽ tường, tạo thành những tiếng giọt gianh đều đặn, gõ vào lòng đất ẩm ướt. Anh nhớ lại tiếng thở dài trầm đục dưới lòng đất mà anh nghe thấy đêm qua khi đào mộ tổ. Đó không phải là tiếng gió luồn qua khe đá, mà là tiếng chuyển dịch của các tầng địa chất đang bị nén chặt dưới áp suất khổng lồ.

Lý trí của một kỹ sư địa chất nói với anh rằng cấu trúc địa tầng dưới núi Long Tàng đang ở trạng thái mất cân bằng nghiêm trọng. Bất kỳ một tác động cơ học nào vào các điểm nút phong thủy cũng có thể gây ra một vụ sạt lở quy mô lớn. Những điểm nút ấy vốn là các điểm chịu lực chính của hệ thống hang động ngầm. Nếu chúng bị phá, dòng chảy của sông Bạch Huyệt cũng có thể đổi hướng.

- Ông Tốn đang muốn nhổ bảy chiếc cọc đồng này để lấy long khí đổi vận cho gia tộc. - Khiêm nói, mắt anh vẫn nhìn vào khoảng tối ngoài sân. - Nếu ông ta tìm được chiếc cọc thứ bảy trước chúng ta, hậu quả sẽ ra sao?

- Ông ta sẽ chết trước tiên. - Ông Ba Khánh cười lạnh, tiếng cười khục khục trong cổ họng nghe như tiếng đất đá sụt lở. - Nhưng trước khi chết, ông ta sẽ kéo cả cái phủ Hoàng Châu này xuống sông cùng với ông ta. Mạch phản không chừa một ai đâu, cậu Khiêm ạ. Nhìn cái mắt này của tôi đi.

Ông Ba Khánh chỉ tay vào con mắt nhắm nghiền của mình. Khiêm bước lại gần, anh nhìn kỹ hơn. Dưới mí mắt nhắm chặt của ông lão, không phải là một hốc mắt trống rỗng của người bị hỏng mắt thông thường. Da thịt xung quanh hốc mắt đã hóa cứng, chuyển sang màu xám xịt như đá vôi, và có những đường gân máu màu đen nổi lên như những rễ cây bám chặt vào xương sọ.

Đó không phải là bệnh tật. Đó là mạch phản đang ăn dần vào cơ thể của người canh điểm trấn thứ ba.

- Cha cậu đã cố cứu tôi, nhưng ông ấy chỉ làm chậm lại quá trình này được mười năm. - Ông Ba Khánh nói, giọng ông trầm xuống. - Giờ đến lượt cậu rồi. Chiếc cọc đồng nhỏ trong hộp gỗ kia chính là thứ cha cậu dùng để thế mạng cho cậu tạm thời. Nhưng nếu cậu không tìm đủ sáu dòng họ kia để giải trận, thì trong vòng ba năm nữa, da thịt cậu cũng sẽ hóa đá như tôi thôi.

Huyền Anh cúi xuống, cô cầm phong thư của cha Khiêm lên, đưa sát vào ngọn nến thờ đang cháy leo lét trên bàn gỗ. Hơi nóng từ ngọn nến làm cho lớp giấy bản mỏng manh co lại. Dưới tác động của nhiệt độ, những nét chữ viết bằng nước gừng hoặc một thứ mực tẩm hóa chất đặc biệt bắt đầu hiện rõ lên ở phần rìa của tờ giấy.

Đó là những dòng chữ viết bằng chữ Nôm, nét chữ nhỏ li ti nhưng sắc sảo:

"Muốn cứu nhà mình, trước hết phải tìm nhà họ Lê."

Khiêm quay lại, anh nhìn dòng chữ vừa hiện lên dưới ánh lửa nến. Dòng chữ như một lời xác nhận cuối cùng của người cha quá cố về việc ông đã biết trước mối liên hệ giữa Khiêm và Huyền Anh, cũng như việc dòng họ Lê chính là chìa khóa mở ra trận đồ trấn yểm này.

- Chúng ta phải đi đâu trước? - Huyền Anh ngẩng đầu lên hỏi Khiêm, ánh lửa nến phản chiếu trong đôi mắt cô làm hiện lên một vẻ kiên định kỳ lạ.

Khiêm im lặng một lát, anh lấy phong thư từ tay Huyền Anh, gấp gọn lại rồi đút vào túi áo bên cạnh chiếc cọc đồng nhỏ:

- Đến nhà ông Phạm Đình Tốn. Ông ta là người biết giữ nhiều cổ vật liên quan đến quốc sư nhất, và cũng là người đang ráo riết săn lùng các điểm trấn. Chúng ta cần biết ông ta đã đi đến đâu trong việc định vị chiếc cọc thứ bảy.

Ông Ba Khánh đứng dậy, ông chống chiếc gậy tre xuống nền gạch, tạo ra những tiếng cộc cộc nặng nề:

- Đi đi. Nhưng nhớ lấy lời tôi dặn, bất kỳ lúc nào ngửi thấy mùi bùn sông Bạch Huyệt dưới chân mình, thì phải dừng lại ngay. Mạch phản không báo trước bằng tiếng động đâu, nó chỉ báo bằng mùi của đất chết thôi.

Khiêm và Huyền Anh bước ra khỏi gian buồng bên của nhà thờ họ. Bóng tối đã bao trùm toàn bộ làng Vạn Mạch. Mưa đã tạnh hẳn, nhưng không khí vẫn lạnh buốt và ẩm ướt. Từ phía đình làng Vạn vang lên tiếng chuông đồng vọng lại, tiếng chuông trầm đục, kéo dài rồi tan biến vào màn sương mù đang dâng lên từ phía sông Bạch Huyệt.

Khiêm đi đầu, luồng sáng từ chiếc đèn pin cầm tay của anh vạch ra một lối đi hẹp giữa những ngôi mộ tổ của dòng họ Nguyễn Trọng. Đất dưới chân anh mềm nhão, rỉ nước liên tục sau mỗi bước chân. Anh cảm nhận được chiếc cọc đồng nhỏ trong túi áo đang tỏa ra một hơi lạnh buốt, thấm qua lớp vải áo khoác, áp chặt vào da thịt anh như một lời nhắc nhở không lời của người chết.

Hành trình tìm kiếm sáu dòng họ để giải trận đồ đã bắt đầu. Điểm dừng chân đầu tiên của họ chính là dinh thự của Phạm Đình Tốn trên tỉnh lỵ Hoàng Châu. Sau những bức tường kiên cố ấy, bí mật về dòng họ quốc sư vẫn đang được che giấu.

Chương khác

Xem thêm