Trấn Yểm Long Mạch - Chương 14: Sắc phong hai lần mực
Mùi giấy mục cùng với bụi phấn xám từ những cuốn thư tịch cổ bay lơ lửng trong không gian hẹp của kho Hán Nôm huyện cũ. Nằm sâu trong khuôn viên một dãy…
Nội dung chương
Mùi giấy mục cùng với bụi phấn xám từ những cuốn thư tịch cổ bay lơ lửng trong không gian hẹp của kho Hán Nôm huyện cũ. Nằm sâu trong khuôn viên một dãy nhà xây từ thời Pháp thuộc ở rìa thị trấn Hoàng Châu, gian phòng lưu trữ này chỉ có một ô cửa sổ nhỏ hướng ra phía bờ sông Bạch Huyệt. Ánh sáng mặt trời buổi chiều lọt qua khung sắt rỉ sét, rọi thành một vệt sáng chéo đầy những hạt bụi chuyển động hỗn loạn. Khiêm đứng tựa lưng vào chiếc tủ gỗ lim đựng tài liệu, lòng bàn tay anh áp chặt vào túi áo khoác, nơi chiếc cọc đồng nhỏ vẫn liên tục tỏa ra hơi lạnh buốt.
Dưới nền nhà lát gạch bông cũ kỹ đã bong tróc nhiều chỗ, Khiêm nghe thấy một nhịp rung rất khẽ. Đó không phải là rung động của xe tải chạy ngoài đường lộ. Nó là một nhịp thở chậm, nặng nề, dội lên từ các tầng địa chất sâu dưới móng nhà, giống hệt tiếng thở mà anh vẫn nghe thấy dưới nền nhà tổ họ Nguyễn Trọng từ những ngày còn nhỏ. Mỗi lần nhịp thở đó mạnh lên, lồng ngực Khiêm lại nhói đau như có một chiếc đinh cắm sâu vào da thịt.
Huyền Anh ngồi ở chiếc bàn gỗ duy nhất giữa phòng, xung quanh xếp đầy những hộp các-tông đựng tài liệu sưu tầm từ các làng xã quanh vùng núi Long Tàng. Gương mặt cô vẫn chưa lấy lại được sắc hồng sau biến cố tấm bài vị gỗ mít ghi tên cô ở nhà thờ họ Lê. Cô đeo găng tay vải mỏng, cẩn thận dùng chiếc chổi lông nhỏ quét sạch lớp bụi bám trên một ống tre đựng sắc phong cổ.
- Chú ý phần mép của ống tre. - Khiêm nói, giọng anh khàn đi vì bụi giấy. - Trục định vị của các điểm trấn luôn được ghi chép lại trong các tài liệu hành chính thời Nguyễn. Nếu họ Nguyễn và họ Lê từng có thỏa thuận, triều đình chắc chắn phải lưu lại dấu vết sắc phong cho vị thần được thờ ở miếu Quốc sư.
Huyền Anh không ngẩng đầu lên. Ngón tay cô miết nhẹ dọc theo thân ống tre đã chuyển sang màu nâu đen vì bồ hóng.
- Ống tre này được gửi từ đình làng Vạn Mạch lên huyện từ những năm tám mươi của thế kỷ trước, khi người ta dọn dẹp hậu cung để làm kho hợp tác xã. Trong danh mục lưu trữ chỉ ghi ngắn gọn: Sắc phong thần làng Vạn Mạch năm Gia Long thứ ba. Nhưng anh nhìn vết niêm phong này đi.
Khiêm bước lại gần, cúi xuống nhìn theo hướng ngón tay của Huyền Anh. Trên nắp ống tre, vết sáp ong dùng để niêm phong đã bị cạy ra từ lâu, nhưng ở phần rìa vẫn còn sót lại một mảnh giấy bản nhỏ có đóng dấu triện đỏ. Con dấu đã mờ, chỉ còn nhìn rõ hai chữ "Nguyễn Trọng" ở góc trái.
Một tiếng ho khan vang lên từ phía cửa ra vào. Ông giáo Thụ, người trông coi kho tư liệu này hơn ba mươi năm qua, bước vào với một ấm nước chè xanh trên tay. Ông đặt ấm nước lên góc bàn, đôi mắt kèm nhèm sau cặp kính lão dày cộp nhìn chằm chằm vào ống tre mà Huyền Anh đang cầm.
- Hai cháu tìm cái sắc phong này làm gì? - Ông Thụ hỏi, giọng khàn đặc của người nghiện thuốc lào nặng. - Cái này là đồ bỏ đi từ lâu rồi. Chữ nghĩa trên đó mờ hết, lại bị ẩm mục, chẳng ai đọc được nữa đâu.
- Chúng cháu đang phục dựng lại lịch sử các điểm di tích quanh núi Long Tàng, thưa bác. - Khiêm trả lời, cố giữ giọng điệu bình thản của một kỹ sư khảo sát. - Cha cháu ngày trước cũng từng nghiên cứu về hệ thống thủy lợi và phong thủy vùng này. Cháu muốn tìm hiểu xem tại sao miếu thờ ở làng Vạn Mạch lại bị thay đổi tên gọi qua các thời kỳ.
Ông Thụ dừng tay khi đang rót nước chè ra chiếc chén sành sứt vòi. Ông ngẩng lên nhìn Khiêm, con ngươi đục lờ đờ co lại:
- Cha cháu là ông Nguyễn Trọng phải không? Ông Trọng địa chất?
- Vâng, đúng là cha cháu. - Khiêm gật đầu.
Ông Thụ đặt mạnh chiếc ấm đất xuống bàn, nước chè xanh sóng ra ngoài, thấm vào lớp bụi giấy trên mặt bàn thành một vệt màu vàng xỉn. Ông thở dài, lắc đầu:
- Mười năm trước, ba cháu cũng ngồi đúng cái ghế cô kia đang ngồi. Ông ấy cũng đòi xem bằng được tờ sắc phong này. Xem xong, ông ấy đi thẳng lên núi Long Tàng rồi không bao giờ quay lại đây nữa. Tôi đã bảo rồi, những thứ liên quan đến cái miếu ấy không lành đâu. Người làng Vạn Mạch xưa nay không ai dám nhắc đến tên vị thần trong sắc phong đó.
- Tại sao lại không dám nhắc, thưa bác? - Huyền Anh hỏi gặng, tay cô vẫn giữ chặt ống tre.
Ông Thụ không trả lời ngay. Ông đi đến bên cửa sổ, nhìn ra dòng sông Bạch Huyệt đang cuộn chảy dòng nước màu đỏ gạch dưới bầu trời chiều âm u. Mùi bùn sông ẩm ướt theo gió lùa qua khe cửa sổ hẹp, mang theo cả vị tanh nồng của đất chết.
- Đó là lệ làng. - Ông Thụ nói chậm rãi. - Ai phạm vào tên của người dưới đất, người đó sẽ bị sông cuốn đi. Họ Lê nhà cô ngày xưa chẳng phải cũng vì thế mà mất sạch phả hệ đó sao? Cả một dòng họ lớn ở tổng Vạn Mạch, thế mà đùng một cái, tên tuổi trong sổ sách của phủ Hoàng Châu bị xóa sạch, chỉ còn lại những trang giấy trắng. Cô nghĩ đó là ngẫu nhiên à?
Huyền Anh run lên. Cô nhìn Khiêm, nhưng Khiêm đã bước tới gần bàn, anh cầm lấy ống tre từ tay cô. Anh dùng một chiếc kẹp y tế đầu dẹt để nhẹ nhàng rút cuộn sắc phong ra khỏi ống.
Tờ giấy sắc phong hiện ra, có màu vàng sậm của giấy long đằng cổ, nhưng xung quanh mép đã bị mủn nát do độ ẩm của vùng trung du. Những hoa văn hình rồng vẽ bằng nhũ bạc đã xỉn màu, chuyển sang màu xám đen. Ở giữa tờ sắc phong, những dòng chữ Hán viết bằng mực tàu đen nhánh vẫn còn khá rõ nét.
Huyền Anh ghé sát mắt vào tờ giấy, cô đọc nhỏ những chữ đầu tiên:
- "Sắc chỉ... Vạn Mạch xã... phụng thờ..."
Cô dừng lại, chân mày nhíu chặt. Cô dùng ngón tay trỏ rà theo những nét chữ tiếp theo. Ở phần ghi danh hiệu của vị thần được phong sắc, nét mực có một sự thay đổi kỳ lạ. Nét chữ to hơn, nét bút thô và đè lên một lớp mực cũ đã bị cạo mỏng.
- Có hai lớp mực. - Huyền Anh nói, giọng cô run lên vì phấn khích xen lẫn lo sợ. - Lớp mực phía trên ghi là "Thành hoàng bản cảnh, tôn thần". Nhưng ở dưới lớp mực đó, vẫn còn những nét mực cũ chưa bị xóa sạch hoàn toàn. Người ta đã dùng một con dao mỏng để cạo lớp chữ cũ đi trước khi viết chữ "Thành hoàng" đè lên.
Khiêm rút từ trong túi đồ nghề ra một chiếc đèn pin chuyên dụng. Đây là loại đèn có bước sóng ánh sáng đặc biệt, thường dùng để kiểm tra các vết nứt địa chất và tuổi của các lớp trầm tích đá vôi. Nó cũng có tác dụng tốt trong việc phân tách các lớp mực có độ tuổi khác nhau trên giấy cổ. Anh tắt ngọn đèn tuýp trên trần phòng kho, khiến gian phòng chìm vào bóng tối lờ mờ của buổi hoàng hôn.
Khiêm bật chiếc đèn pin, chiếu luồng ánh sáng màu xanh tím lên bề mặt tờ sắc phong.
Dưới ánh sáng đặc biệt này, sự khác biệt giữa hai lớp mực hiện lên rõ rệt. Lớp mực viết chữ "Thành hoàng bản cảnh" phát ra màu xám đục của loại mực tàu pha tạp chất thời muộn, có lẽ được viết vào cuối thế kỷ XIX hoặc đầu thế kỷ XX. Trong khi đó, lớp mực bị cạo ở phía dưới lại phát ra một sắc xanh đen sắc nét của loại mực thỏi cổ thượng hạng, ngấm sâu vào từng sợi xơ của giấy long đằng.
- Nhìn vào những nét chữ bị cạo đi. - Khiêm chỉ vào phần trung tâm của tờ sắc phong. - Huyền Anh, em có đọc được những nét chữ ẩn bên dưới không?
Huyền Anh nghiêng đầu, cô cố gắng ráp nối những nét mực đứt gãy phát quang dưới ánh đèn tím. Mồ hôi rịn ra trên trán cô, chảy dài xuống má:
- Chữ đầu tiên là chữ "Địa"... tiếp theo là chữ "Mạch"... Chữ thứ ba là "Trấn"... Không, không phải "Trấn", là chữ "Giữ". "Địa mạch thủ huyệt nhân". Người canh huyệt địa mạch.
Căn phòng bỗng trở nên im lặng đến đáng sợ. Chỉ còn tiếng gió rít qua khe cửa sổ hẹp và tiếng sóng vỗ vào chân đê sông Bạch Huyệt vọng lại từ xa.
- Người canh huyệt? - Khiêm lặp lại danh hiệu đó. - Triều đình không bao giờ sắc phong cho một người sống làm thần với danh hiệu "Người canh huyệt". Sắc phong chỉ dành cho những người đã khuất có công với nước, hoặc các vị thần linh sông núi. Việc phong cho một "người canh huyệt" chứng tỏ đây không phải là một sắc phong thờ cúng thông thường. Đây là một văn bản hành chính dùng để hợp thức hóa một nghi lễ trấn yểm.
Ông Thụ đứng ở góc phòng, nhìn thấy luồng ánh sáng xanh tím trên tờ sắc phong liền bước giật lùi lại phía sau. Lưng ông đập mạnh vào chiếc tủ gỗ lim, làm những chồng tài liệu phía trên rung lên bần bật.
- Các cháu tắt cái đèn đó đi! - Ông Thụ nói lớn, giọng ông run rẩy, đầy vẻ hoảng loạn. - Đừng nhìn vào cái chữ đó nữa. Tôi đã nói rồi, cái sắc phong này đã bị nguyền rủa. Ai đọc được chữ dưới lớp mực đó đều không có kết cục tốt đẹp đâu. Ba cháu ngày xưa cũng dùng cái đèn giống thế này để soi, rồi ông ấy cứ lẩm bẩm về việc "họ Nguyễn phải trả nợ". Ông ấy điên rồi!
Khiêm không tắt đèn. Anh bước lại gần ông Thụ, ánh mắt anh lạnh lùng nhìn thẳng vào khuôn mặt nhăn nheo của ông lão:
- Bác Thụ, bác biết rõ những gì đã xảy ra ở đây mười năm trước đúng không? Cha cháu đã tìm thấy gì trong tờ sắc phong này? Và tại sao dòng họ Lê lại bị xóa tên khỏi phả hệ của huyện?
Ông Thụ tránh ánh mắt của Khiêm. Ông cúi xuống, hai bàn tay đan chặt vào nhau, run rẩy:
- Tôi chỉ là người coi kho. Tôi không biết gì cả. Tôi chỉ biết rằng, khi triều đình nhà Nguyễn lập phủ Hoàng Châu, họ đã ban xuống ba tờ sắc phong giống hệt nhau cho ba làng dọc sông Bạch Huyệt. Nhưng cả ba tờ sắc phong đó đều bị sửa chữa. Người ta bảo, nếu không sửa chữ "Người canh huyệt" thành "Thành hoàng", thì long mạch dưới núi Long Tàng sẽ nổi giận, nước sông Bạch Huyệt sẽ dâng cao nuốt chửng cả vùng trung du này.
- Ai đã sửa? - Huyền Anh bước tới, giọng cô đanh lại. - Là người của dòng họ Nguyễn Trọng đúng không?
Ông Thụ im lặng. Sự im lặng kéo dài như một lời thừa nhận ngầm.
Khiêm cảm nhận được chiếc cọc đồng trong túi áo ngực của mình đột ngột nóng lên. Sức nóng lan ra, làm da thịt anh bỏng rát. Tiếng thở dưới đất lúc này bỗng chuyển thành một nhịp đập nhanh, dồn dập, như thể có một sinh vật khổng lồ đang cố gắng phá vỡ lớp đá vôi dưới nền nhà để chui lên.
Anh nhìn xuống tờ sắc phong. Dưới ánh sáng xanh tím, lớp mực cổ bị cạo mỏng ở phần cuối tờ sắc phong bắt đầu hiện lên thêm những nét chữ nhỏ li ti khác. Đó không phải là chữ của quan thư lại viết sắc phong, mà là những chữ được khắc bằng một vật nhọn trực tiếp lên mặt giấy, nét khắc sâu đến mức làm rách nhẹ lớp xơ giấy.
Huyền Anh cũng nhận ra điều đó. Cô run rẩy chỉ tay vào những nét khắc chìm:
- Khiêm, nhìn chỗ này đi. Có người đã dùng móng tay hoặc một cây kim đồng để khắc chữ lên đây trước khi tờ sắc phong này bị cuộn lại và cất vào ống tre.
Khiêm đưa sát chiếc đèn pin chuyên dụng vào bề mặt giấy. Dưới bước sóng ánh sáng mạnh, những nét khắc chìm hiện lên rõ mòn một.
Đó là ba chữ Nôm:
"Hiến danh nhân".
Người hiến dâng tên tuổi.
Khiêm cảm thấy một luồng khí lạnh buốt chạy dọc sống lưng. Chữ "Hiến danh" này trùng khớp hoàn toàn với dòng chữ khắc trên tấm bia đá dưới giếng cổ nhà họ Lê mà họ vừa tìm thấy lúc chiều: "Lê thị hiến danh - Địa mạch vĩnh trấn".
Như vậy, người con gái họ Lê bị hiến tế để trấn giữ địa mạch không chỉ bị chôn sống dưới lòng đất, mà ngay cả tên tuổi của bà cũng bị xóa bỏ khỏi tất cả các tài liệu chính thức của triều đình. Tờ sắc phong này ban đầu là để ghi nhận sự hy sinh của bà. Sau đó, chính những người lập trận đã cạo bỏ danh hiệu ấy, thay bằng danh hiệu "Thành hoàng bản cảnh" để che giấu tội ác với hậu thế.
- Họ đã lừa dối cả triều đình. - Huyền Anh nói, nước mắt cô bắt đầu rơi xuống mặt bàn gỗ. - Họ dùng mạng sống của người họ Lê để khóa long mạch, rồi họ tự nhận công trạng về mình. Họ Nguyễn các anh... các anh đã giữ lời giao ước như thế này sao?
Khiêm nhìn Huyền Anh. Anh thấy sự oán hận hiện rõ trong mắt cô. Anh không thể phủ nhận điều đó, bởi vì chiếc cọc đồng trong túi áo anh, thứ thuộc về dòng họ Nguyễn Trọng, đang phản ứng dữ dội với những gì đang diễn ra.
Đúng lúc đó, từ phía ngoài cửa sổ, một tiếng động lớn vang lên.
Tiếng động trầm đục giống như tiếng một mảng đất lớn sạt lở xuống sông. Nước sông Bạch Huyệt vốn đang chảy êm đềm bỗng nhiên xao động mạnh. Những con sóng lớn màu đỏ ngầu đập liên tiếp vào bờ kè đá dưới chân dãy nhà kho. Mùi bùn sông nồng nặc bốc lên, len qua khe cửa sổ, lấp đầy gian phòng lưu trữ chật hẹp.
Ông Thụ hoảng hốt chạy ra phía cửa:
- Mạch nước lại động rồi! Đi mau! Nền đất ở đây yếu lắm, sạt lở bây giờ!
Khiêm nhanh chóng cuộn tờ sắc phong lại, đút vào ống tre rồi nhét vào ba-lô của mình. Anh nắm lấy tay Huyền Anh, kéo cô chạy theo ông Thụ ra phía hành lang bên ngoài.
Hành lang tối om, chỉ có ánh sáng từ chiếc đèn pin của Khiêm vạch ra một lối đi giữa những bức tường vôi lở loét. Dưới chân họ, những viên gạch lát nền bắt đầu nứt toác ra. Nước sông Bạch Huyệt màu đỏ đục từ các khe nứt dưới nền nhà phun lên thành những vệt nhỏ, mang theo cát và bùn đen.
Khi họ chạy ra đến sân trước của khu lưu trữ, tiếng chuông từ ngôi đình cổ làng Vạn Mạch ở phía xa lại vang lên. Tiếng chuông dồn dập, đứt quãng, báo hiệu một sự cố nghiêm trọng đang xảy ra ở các điểm trấn yểm dọc sông Bạch Huyệt.
Khiêm quay đầu nhìn lại dãy nhà kho Hán Nôm cũ. Một góc của ngôi nhà, nơi có ô cửa sổ hẹp hướng ra sông, đã bắt đầu nghiêng dần về phía dòng nước xiết. Những mảng tường gạch vỡ vụn rơi xuống sông, tạo ra những tiếng "tõm" nặng nề trong bóng tối.
Địa mạch dưới núi Long Tàng đang chuyển dịch, và những tài liệu chính thức bị sửa chữa kia chính là chiếc chìa khóa đầu tiên bị bẻ gãy trong chuỗi xích khóa giữ con rồng đất suốt hai trăm năm qua.
Khiêm siết chặt quai ba-lô, anh nhìn về phía con đường đất chạy dọc bờ sông Bạch Huyệt, nơi sương mù đang dâng lên dày đặc, che khuất lối đi lên núi Long Tàng. Anh biết, họ không còn nhiều thời gian trước khi toàn bộ hệ thống trấn yểm này hoàn toàn sụp đổ.