Trấn Yểm Long Mạch - Chương 9: Dấu triện trên xương cổ
Căn nhà kho của ban quản lý di tích nằm sát mép sông Bạch Huyệt luôn ngập trong thứ ánh sáng tù mù của bóng đèn tuýp công suất thấp. Dưới trần nhà cao…
Nội dung chương
Căn nhà kho của ban quản lý di tích nằm sát mép sông Bạch Huyệt luôn ngập trong thứ ánh sáng tù mù của bóng đèn tuýp công suất thấp. Dưới trần nhà cao lợp ngói fibro xi măng đã ngả màu xám xịt, tiếng máy phát điện ở góc sân nổ giòn từng chặng, khiến sợi dây điện treo lủng lẳng giữa phòng không ngừng đung đưa. Trên chiếc bàn gỗ dài dùng để phân loại hiện vật, đốt xương cổ của cụ Nguyễn Trọng Uẩn nằm trơ trọi trên một tấm vải dạ đen.
Nguyễn Trọng Khiêm đứng tựa lưng vào mép bàn sắt bên cạnh. Anh vừa trở về từ gò mộ tổ sau khi chứng kiến những dấu chân sũng nước màu đỏ của chú Bình biến mất vào màn sương mù dày đặc. Đầu ngón tay anh vẫn còn dính chút đất bùn ẩm ướt của vùng trung du, thứ đất sét pha cát đặc trưng của lưu vực sông Bạch Huyệt.
Có một dấu hiệu trái lệ xuất hiện trên đốt xương cổ vốn đã được làm sạch và sấy khô bằng cồn y tế từ ba ngày trước. Một giọt dịch lỏng màu nâu sẫm, đặc quánh như nhựa cây, đang rỉ ra từ hốc tủy của đốt sống thứ ba. Nó không chảy tràn xuống tấm vải dạ mà ngưng đọng lại thành một hạt tròn nhỏ, tỏa ra mùi tanh nồng của bùn sông ngâm lâu ngày pha lẫn mùi vôi mục.
Khiêm đeo găng tay cao su, cầm chiếc nhíp chuyên dụng gạt nhẹ giọt dịch màu nâu. Anh đưa kính lúp sát vào bề mặt xương. Dưới lớp dịch đặc kia, một vết lõm sâu hình vuông hiện ra rõ mòn một. Vết lõm có các cạnh sắc nét, góc vuông vức, đè bẹp cấu trúc xốp của xương cổ. Đây không phải là vết thương do vũ khí thông thường gây ra, cũng không phải vết gãy tự nhiên do áp lực của đất đá trong mộ. Đó là một dấu ấn cơ học được đóng mạnh vào xương khi người chết vừa nằm xuống, hoặc thậm chí là khi dòng máu trong cơ thể vẫn còn đang lưu thông.
Cửa ngách nhà kho kẹt cửa mở ra. Gió đêm từ sông Bạch Huyệt ùa vào, cuốn theo hơi lạnh ẩm và tiếng sóng vỗ oàm oạp vào những rặng tre bên bờ lở. Lê Huyền Anh bước vào, hai tay ôm chiếc hộp gỗ trắc nhỏ của ông Nguyễn Trọng Tuyên để lại. Tóc cô bết lại vì nước mưa, gương mặt tái đi dưới ánh đèn trắng.
- Tôi vừa tìm thấy cái này trong ngăn kéo bí mật dưới đáy hòm sách của chú Tuyên. - Huyền Anh đặt chiếc hộp gỗ lên góc bàn sạch, hơi thở cô dồn dập. - Chú ấy đã dùng sáp niêm phong rất kỹ. Nhìn dấu triện này đi, Khiêm.
Khiêm đón lấy phong thư bằng giấy bản dày đặt trên nắp hộp. Phong thư được gấp làm tư theo lối cổ, mép giấy được dán chặt bằng một miếng sáp đỏ lớn bằng quân cờ. Trên mặt sáp đỏ nổi bật một dấu triện hình vuông, nét chữ khắc chìm theo lối triện thư cổ, ngoằn ngoèo và sắc sảo.
Anh đặt phong thư nằm cạnh đốt xương cổ của cụ tổ. Dưới ánh sáng của đèn tuýp, Khiêm dùng kính lúp đối chiếu hai dấu vết. Vết lõm sâu trên đốt xương cổ thứ ba của cụ Nguyễn Trọng Uẩn hoàn toàn trùng khớp với dấu triện sáp trên phong thư của cha anh. Từ độ dày của nét chữ cho đến góc vát của đường viền hình vuông, tất cả đều khớp nhau đến từng phần mười milimet.
- Cha tôi không chết vì tai nạn sạt lở địa chất thông thường. - Khiêm nói, giọng anh lạnh tanh như tiếng kim loại va vào đá. - Ông ấy đã tìm thấy dấu triện này ở núi Long Tàng. Ai đó đã dùng chính chiếc triện đồng này để đóng lên xương cổ cụ tổ từ hai trăm năm trước, và cha tôi đã dùng nó để khóa phong thư này lại trước khi ông ấy bị chôn vùi dưới chân núi. Đây là một vụ án mạng trận đồ được sắp đặt qua nhiều thế hệ.
Huyền Anh tiến lại gần, mắt cô chăm chú nhìn vào chữ Hán cổ khắc trên sáp đỏ. Cô khẽ dùng ngón tay trỏ miết dọc theo viền sáp:
- Chữ này là chữ 'Trấn'. Nhưng không phải chữ trấn trong trấn tĩnh hay trấn giữ thông thường. Nét chữ có thêm bộ 'Thạch' ở bên cạnh, đây là chữ dùng riêng cho việc đè nặng, khóa chặt một dòng chảy hoặc một nguồn khí dưới lòng đất. Dòng họ Nguyễn Trọng của anh đã dùng dấu triện này để đánh dấu vật tế. Cụ Nguyễn Trọng Uẩn là người đầu tiên nằm xuống để giữ cho chiếc cọc đồng ở mộ tổ không bị mạch đất đẩy lên.
Tiếng bước chân nặng nề từ ngoài sân cắt ngang lời Huyền Anh. Cánh cửa gỗ mục rữa của nhà kho bị đẩy mạnh, ông trưởng họ Nguyễn Trọng Hoán bước vào, theo sau là ông Ba Khánh. Người thầy địa lý già đi từng bước khập khiễng, một bên mắt phủ gạc trắng bám đầy bụi đất, bên mắt còn lại đục ngầu nhìn thẳng vào chiếc bàn gỗ.
- Cất ngay bộ xương ấy đi! - Ông Hoán lớn tiếng, mặt ông đỏ gay vì giận dữ và sợ hãi. - Thằng Khiêm, mày có nghe thấy tiếng chuông đình Vạn Mạch vừa rồi không? Mạch đất nhà họ Nguyễn đang lở rồi. Chú Bình của mày đã đi ra gò mộ tổ thế mạng cho cái cọc đồng mày vừa nhổ. Mày còn ở đây bới móc xương cốt người chết làm gì nữa?
Khiêm không di chuyển. Anh đứng chắn giữa ông Hoán và chiếc bàn đặt đốt xương cổ.
- Chú Bình đi đâu? Người trong họ đã tìm khắp gò mộ chưa? - Khiêm hỏi, giọng anh vẫn giữ được sự bình tĩnh đáng sợ.
- Tìm cái gì mà tìm! - Ông Hoán đập mạnh tay xuống chiếc tủ sắt bên cạnh cửa, tiếng kêu vang lên chói tai. - Nó đi vào cõi âm rồi. Người nhà họ Nguyễn một khi đã bị mạch đất gọi tên thì không bao giờ trở về nữa. Cha mày ngày xưa cậy thế học rộng biết nhiều, mang máy móc về đo đạc núi Long Tàng, rồi tự ý nhổ cọc đồng ở mộ tổ để nghiên cứu cái gọi là địa chất. Kết cục của nó thế nào mày biết rồi đấy. Bây giờ mày lại muốn cả dòng họ này phải chết theo à?
Huyền Anh đứng bên cạnh Khiêm, cô nhìn thẳng vào ông trưởng họ:
- Ông Hoán, ông sợ cái chết của chú Bình hay ông sợ người ta biết được sự thật về dấu triện này? Họ Nguyễn các người đã dùng xương cốt của cụ tổ để làm vật yểm. Vết lõm trên đốt xương cổ này chính là bằng chứng. Tổ tiên các người đã tự tay đóng chiếc triện đồng này vào gáy cụ Uẩn trước khi chôn cụ xuống cùng với chiếc cọc thứ nhất.
Ông Hoán giật mình, gương mặt già nua của ông co rúm lại. Ông nhìn chằm chằm vào đốt xương cổ trên vải đen, rồi lại nhìn sang phong thư niêm phong sáp đỏ. Ông lùi lại nửa bước, tay run rẩy chỉ vào Huyền Anh:
- Cô... cô là người họ Lê. Dòng họ các người đã bỏ trốn khỏi làng Vạn Mạch từ hai trăm năm trước, mang theo cả la bàn định vị bảy điểm trấn. Các người để lại sáu dòng họ chúng tôi chịu trận phản mạch ở cái đất Hoàng Châu này. Cô không có tư cách nói về luật lệ của chúng tôi. Lời thề năm xưa đã định, xương máu họ Nguyễn phải nằm lại dưới đất để giữ cho long mạch không nổi giận.
- Lời thề đó là do ai lập ra? - Khiêm gặng hỏi, anh tiến lên một bước, ép sát ông Hoán. - Có phải vị quốc sư thời Tây Sơn kia không? Hay chính tổ tiên họ Nguyễn đã tự nguyện dâng hiến người trong nhà để đổi lấy sự hưng thịnh giả tạo cho dòng họ?
Ông Hoán không trả lời. Ông quay mặt đi, hơi thở đứt quãng.
Ông Ba Khánh từ góc tối bước ra, tiếng gậy tre gõ cộc cộc xuống nền xi măng ẩm ướt. Ông ta dừng lại bên cạnh chiếc bàn gỗ, con mắt độc nhất nhìn chăm chú vào phong thư của ông Tuyên. Mùi bùn sông Bạch Huyệt và mùi lá ngải cứu khô từ người ông ta tỏa ra, lấn át cả mùi cồn sát trùng trong nhà kho.
- Thằng Tuyên nó khôn hơn các người nghĩ nhiều. - Ông Ba Khánh khàn khàn nói, giọng ông ta trầm đục như tiếng nước chảy trong lòng cống tối. - Nó biết mình sẽ chết ở núi Long Tàng nên mới dùng chính chiếc triện đồng tìm được dưới hang đá để khóa phong thư này lại. Chiếc triện đó không chỉ là vật đóng dấu, nó là một phần của trận đồ trấn yểm. Khí của cọc đồng nằm ở đâu, thì khóa của phong thư nằm ở đó.
Khiêm nhìn phong thư. Anh cầm chiếc dao mổ y tế đặt trên khay inox, thử lách mũi dao thép mỏng vào mép sáp đỏ. Nhưng ngay khi mũi dao vừa chạm vào lớp sáp, một luồng lực cản vô hình khiến tay anh tê dại. Mũi dao trượt đi, cắm phập xuống mặt bàn gỗ trắc, lưỡi dao thép gãy đôi với một tiếng "tách" khô khốc. Miếng sáp đỏ vẫn nguyên vẹn, không hề có một vết xước nhỏ.
- Tôi đã nói rồi, không mở được bằng sức người đâu. - Ông Ba Khánh cười lạnh, để lộ hàm răng khấp khểnh đen sì. - Thằng Tuyên đã dùng thuật phong thủy khóa nó bằng khí của cọc đồng. Muốn mở phong thư này, anh phải mang chiếc cọc đồng thứ nhất lại đây. Chỉ có khí của cọc đồng mới hóa giải được dấu triện của chính nó.
Khiêm im lặng một lát. Anh quay người đi về phía góc tối của nhà kho, nơi chiếc cọc đồng rỉ sét mà anh nhổ từ mộ tổ họ Nguyễn đang được bọc kín trong tấm vải bạt màu xanh. Chiếc cọc nặng trịch, dài hơn một mét, thân cọc phủ đầy những vết rỉ xanh của đồng điếu ngâm dưới đất ẩm hàng thế kỷ. Khi anh nhấc nó lên, cái lạnh buốt của kim loại cổ truyền qua lớp vải bạt, chạy dọc theo xương cánh tay anh, làm các khớp ngón tay co rút lại.
Anh đặt chiếc cọc đồng lên bàn gỗ, ngay sát cạnh phong thư niêm phong sáp đỏ.
Một sự thay đổi đột ngột diễn ra trong không gian nhà kho. Bóng đèn tuýp trên trần nhà chớp nháy liên tục ba lần rồi tắt phụt. Tiếng máy phát điện ngoài sân bỗng nhiên lịm đi, chỉ còn lại tiếng gió rít qua khe ngói và tiếng nước sông Bạch Huyệt vỗ bờ dồn dập. Không gian chìm vào bóng tối, chỉ được chiếu sáng bởi ánh đèn pin cầm tay của Huyền Anh đang đặt trên bàn.
Mùi đất ướt và mùi nước sông dâng cao đột ngột nồng nặc. Dưới ánh sáng đèn pin, miếng sáp đỏ trên phong thư bắt đầu có dấu hiệu biến đổi. Những nét chữ Hán cổ khắc chìm từ từ giãn ra, màu đỏ tươi của sáp chuyển dần sang màu đỏ thẫm như máu loãng. Một làn khói mỏng bốc lên từ phong thư, mang theo mùi khét của giấy bản bị nung nóng và mùi tanh của máu tươi.
Lớp sáp đỏ hoàn toàn tan chảy, hóa thành một chất lỏng màu đỏ sậm chảy tràn ra mặt bàn gỗ trắc, tạo thành một vệt dài uốn lượn giống như hình dáng của một con sông nhỏ. Khi lớp sáp chảy hết, phong thư tự động mở ra, bốn góc giấy bản bung rộng.
Bên trong phong thư không có những trang giấy viết tay dài dòng. Chỉ có một mảnh bản đồ địa hình cổ, được vẽ bằng mực tàu trên nền giấy bản đã ngả màu vàng ố. Mảnh bản đồ không còn nguyên vẹn, góc bên phải của nó đã bị cháy sém một nửa, những vết cháy đen loang lổ che khuất hầu hết các thông tin quan trọng ở phần trung tâm.
Khiêm cẩn thận dùng nhíp nhấc mảnh bản đồ lên. Trên mặt giấy, những đường nét uốn lượn thể hiện hệ thống mạch nước ngầm chảy từ dãy núi Long Tàng đổ về sông Bạch Huyệt. Các điểm nút giao nhau của mạch nước được đánh dấu bằng những vòng tròn màu đỏ.
- Đây là sơ đồ hệ thống trấn yểm của bảy dòng họ. - Huyền Anh thì thầm, cô đưa sát đèn pin vào mảnh bản đồ. - Nhìn vào ba điểm đầu tiên này đi. Điểm thứ nhất là mộ tổ họ Nguyễn ở gò đất phía Tây làng. Điểm thứ hai là giếng đá cổ ở giếng Bạch Huyệt. Điểm thứ ba nằm ngay dưới lòng sông, đoạn khúc cua ngã ba sông nơi nhà ông Ba Khánh đang ở.
Khiêm nhìn theo ngón tay của Huyền Anh. Ba điểm này được vẽ rất chi tiết, có kèm theo các ký hiệu hình cọc đồng khắc chìm. Tuy nhiên, phần bản đồ thể hiện bốn điểm trấn còn lại, đặc biệt là vị trí của chiếc cọc thứ bảy nằm sâu trong núi Long Tàng, đã bị ngọn lửa thiêu rụi hoàn toàn. Chỉ còn lại những vệt tro đen mỏng dính, chỉ cần một làn gió nhẹ thổi qua cũng có thể tan biến.
Ở mép giấy bản bị cháy sém, có một dòng chữ nhỏ viết bằng mực đỏ mới hơn, nét chữ cứng cáp của ông Nguyễn Trọng Tuyên:
"Mạch phản đã chạy đến đình Vạn. Cọc thứ bảy đang hút máu của người sống để hoàn thành vòng lặp. Đừng nhổ cọc thứ bảy trước khi trả lại tên cho..."
Dòng chữ dừng lại đột ngột ở đó, phần còn lại đã bị vệt cháy đen nuốt chửng.
- Cha tôi đã biết trước điều này. - Khiêm nói, anh nhìn chằm chằm vào dòng chữ đỏ. - Ông ấy muốn trả lại tên cho những người bị hiến tế. Nhưng ông ấy chưa kịp làm xong thì mạch phản đã lấy mạng ông ấy.
Ông Ba Khánh bước lại gần, con mắt độc nhất nhìn vào mảnh bản đồ cháy sém. Ông ta khẽ thở dài, tiếng thở dài mang theo hơi lạnh của đêm sương trung du:
- Thằng Tuyên nó đã đi quá xa rồi. Nó muốn phá vỡ trận đồ của quốc sư để cứu dòng họ, nhưng nó không biết rằng bảy chiếc cọc đồng này đã liên kết với nhau bằng một lời thề máu. Một chiếc cọc bị nhổ, sáu chiếc còn lại sẽ đòi mạng người của sáu nhà để bù đắp vào phần khí bị thoát ra. Chú Bình của anh... giờ này chắc đã nằm dưới chân gò mộ tổ rồi.
Đất dưới nền nhà kho bỗng nhiên rung nhẹ một nhịp. Đó không phải là một chấn động mạnh mẽ, mà là một sự chuyển dịch âm thầm, chậm rãi của các tầng địa chất phía dưới. Tiếng rít ghê rợn phát ra từ các kẽ gạch sân nhà kho, giống như tiếng không khí bị nén chặt dưới áp suất lớn đang cố thoát ra ngoài.
Chiếc cọc đồng đặt trên bàn dịch chuyển vài centimet, phát ra tiếng va chạm khô khốc với mặt bàn gỗ trắc. Cùng lúc đó, tiếng chuông đình Vạn Mạch lại vang lên từ phía bờ sông, âm thanh trầm và dài, kéo theo tiếng gió rít qua các khe đá của núi Long Tàng.
Khiêm nhìn mảnh bản đồ cháy sém trên tay, rồi nhìn sang đốt xương cổ của cụ tổ với vết triện sâu hoắm. Anh biết mình không thể lùi lại được nữa. Cái chết của cha anh, sự biến mất của chú Bình và những bí ẩn của dòng họ Nguyễn Trọng đều đang dẫn anh về phía đình Vạn Mạch, nơi mạch phản đang cuộn chảy dưới lòng đất.