Trấn Yểm Long Mạch - Chương 6: Giếng Bạch Huyệt

Giếng đá cổ nằm ở rìa làng Vạn Mạch, nơi những thửa ruộng trũng ngập trong thứ nước xám xịt của mùa ải ải. Dù trời đã đứng bóng, một dải sương mù dày đặc…

Nội dung chương

Giếng đá cổ nằm ở rìa làng Vạn Mạch, nơi những thửa ruộng trũng ngập trong thứ nước xám xịt của mùa ải ải. Dù trời đã đứng bóng, một dải sương mù dày đặc vẫn đùn lên từ lòng giếng, bò lan trên mặt cỏ gấu rồi tan dần vào khoảng không lạnh lẽo của vùng trung du.

Khiêm đứng trên bờ gạch vỡ, đôi ủng da ngập sâu trong bùn nhão. Anh cầm chiếc máy đo điện trở đất cầm tay, hướng đầu dò về phía thành giếng ghép bằng những khối đá xanh lục bảo. Màn hình tinh thể lỏng của máy nhấp nháy liên tục, các con số nhảy múa vô định từ vài chục đến hàng ngàn ohm trước khi chuyển sang một đường thẳng tắp báo lỗi hệ thống.

- Thiết bị từ trường cũng bị nhiễu. - Huyền Anh nói, giọng cô khản đi vì gió lạnh từ sông thổi vào. Cô vuốt lại mái tóc bị sương bám thành những hạt nước nhỏ li ti. - Từ lúc bước qua ranh giới gò Răng Rồng, kim la bàn của em không chịu đứng yên. Nó cứ xoay tròn như bị một lực hút từ dưới lòng đất kéo đi.

Khiêm không đáp. Anh cúi người, nhặt một viên sỏi ném xuống giếng. Không có tiếng "tõm" thanh thoát của nước sâu. Âm thanh vọng lại là một tiếng "bục" đục ngầu, nặng nề, giống như viên sỏi vừa rơi vào một bể bùn đặc quánh.

Miệng giếng đá cổ này có từ thời Lê Trung hưng, vốn là nguồn nước ngọt duy nhất của ba xóm cuối làng. Nhưng sáng nay, khi người dân ra gánh nước tưới rau, họ phát hiện nước giếng dâng cao sát mép đá, mang theo một mùi tanh nồng của bùn trầm tích sông Bạch Huyệt. Điều đáng ngại là nước không chảy tràn ra ngoài mà cuộn xoáy ngược chiều kim đồng hồ ngay trong lòng giếng chật hẹp.

- Mạch nước ngầm ở đây đã bị thông với đáy sông. - Khiêm lẩm bẩm, ngón tay anh miết nhẹ lên lớp rêu phong bám trên thành giếng. - Về mặt địa chất, khoảng cách từ đây ra sông Bạch Huyệt gần một cây số, lại bị ngăn cách bởi dải đồi Long Tàng. Nước sông không thể tự nhiên tràn vào đây trừ khi có một vết nứt gãy địa tầng cực lớn vừa xuất hiện đêm qua.

- Hoặc có ai đó đã mở cửa huyệt. - Huyền Anh hạ thấp giọng, mắt cô nhìn quanh những bụi dứa dại mọc um tùm quanh giếng. - Anh còn nhớ trang phả bị cắt góc chứ? "Nhà Nguyễn giữ cọc, không giữ sạch tay". Cụ Uẩn chết đứng trong buồng phả, tay giữ chặt trang giấy đó. Giếng này chính là điểm trấn thứ hai trên sơ đồ vẽ tay của cụ tổ Nguyễn Trọng Hoán.

Khiêm im lặng nhìn xuống lòng giếng. Dưới làn sương mù mỏng, mặt nước giếng có một màu đỏ sẫm như nước trầu không. Một lớp váng dầu màu đỏ gạch nổi lên, kết thành những vòng xoáy đồng tâm. Khi ánh sáng mặt trời yếu ớt của buổi trưa chiếu thẳng xuống lòng giếng, lớp váng đỏ ấy đột ngột giãn ra, lộ ra một khoảng nước trong suốt đến kỳ lạ.

Trong khoảng nước ấy, Khiêm nhìn thấy ảnh phản chiếu của chính mình. Nhưng bên cạnh bóng anh, sâu dưới lòng nước lạnh, có những bóng đen khác đang di chuyển. Đó là những hình người mặc giáp binh bằng da hổ, đầu đội mũ chỏm nhọn, tay cầm giáo dài. Họ đứng san sát nhau dưới đáy giếng, mặt ngửa lên nhìn thẳng vào Khiêm.

Tất cả những gương mặt ấy đều trống rỗng. Họ không có mắt, không có mũi, không có miệng, chỉ là một mảng da thịt xám ngoét phẳng lì dưới làn nước đỏ.

Một luồng hơi lạnh buốt từ lòng giếng đột ngột thốc thẳng lên mặt Khiêm. Luồng khí lạnh mang theo mùi rỉ sét của sắt thép lâu năm và mùi da thịt thối rữa dưới bùn sâu. Khiêm giật mình lùi lại một bước, chiếc máy đo điện trở trên tay anh phát ra tiếng kêu rè rè chói tai rồi tắt ngấm. Màn hình máy tối đen, vỏ nhựa bỗng chốc lạnh ngắt như vừa được vớt lên từ hầm đá.

- Khiêm! Anh sao thế? - Huyền Anh vội vàng nắm lấy vai anh.

Khiêm lắc đầu, anh đưa tay lên dụi mắt. Dưới lòng giếng, lớp váng đỏ đã khép lại, che khuất những bóng người không mặt dưới đáy nước. Chỉ còn tiếng nước cuộn xoáy đập vào thành giếng đá nghe như tiếng thở dài của một người bị đè dưới vật nặng.

- Có một vật lạ dưới đáy giếng. - Khiêm nói, giọng anh lạnh đi. - Không phải là bùn cát thông thường. Nó có cấu trúc cơ học.

- Kìa, các cháu không được đứng gần đấy! - Một giọng nói già nua, run rẩy vang lên từ phía bờ ruộng.

Ông Lê Văn Kỳ, trưởng họ Lê của làng Vạn Mạch, đang lật đật đi tới. Ông cụ đã ngoài bảy mươi, mình mặc chiếc áo bông cũ kỹ màu đen, tay cầm một chiếc gậy tre. Gương mặt ông đầy những nếp nhăn sâu hoắm, đôi mắt đục mờ lộ rõ vẻ kinh hoàng khi nhìn thấy Khiêm và Huyền Anh đứng bên miệng giếng.

- Bác Kỳ. - Huyền Anh bước tới chào. - Bác ra đây từ sớm thế này sao?

Ông Kỳ không trả lời cô ngay. Ông nhìn chằm chằm vào miệng giếng đang bốc sương, rồi nhìn sang chiếc máy đo trên tay Khiêm. Ông cụ chắp hai tay sau lưng, giọng nói đầy vẻ kiêng kỵ:

- Các cháu là người thành phố học cao hiểu rộng, nhưng đất này có những luật lệ riêng. Cái giếng này từ xưa đến nay là giếng thiêng của họ Lê chúng tôi. Đêm qua, khi cụ Uẩn họ Nguyễn nhà cháu nằm xuống, giếng này bỗng dưng đổi màu. Đây là điềm báo mạch đất đã động rồi.

Khiêm bước lại gần ông Kỳ. Anh lấy từ trong túi áo khoác ra mảnh giấy bản ẩm ướt thu được từ tay cụ Uẩn. Khiêm hé mở một góc cho ông cụ thấy:

- Bác Kỳ, cháu biết họ Lê của bác cũng nằm trong số bảy dòng họ lập lời thề trấn mạch năm xưa. Cụ tổ nhà cháu vẽ sơ đồ này, điểm thứ hai chính là cái giếng đá này. Chữ "Hiến" bị đục trên bia đá ở đình Vạn Mạch có phải là cụ Lê Văn Hiến của họ Lê không?

Nghe đến cái tên "Lê Văn Hiến", người ông Kỳ run lên bần bật. Chiếc gậy tre trong tay ông gõ cành cạch xuống nền đất ẩm. Ông nhìn quanh như sợ có ai đó đang rình rập trong những bụi dứa dại, rồi ghé sát vào Khiêm, giọng nói chỉ còn là tiếng thì thầm rách nát:

- Cháu đừng nhắc cái tên đó ở đây. Người họ Lê chúng tôi đã xóa tên cụ ấy khỏi gia phả từ hai trăm năm trước rồi. Cụ ấy không có mộ, không có bài vị thờ tự trong nhà thờ tổ.

- Tại sao? - Huyền Anh hỏi, mắt cô lộ rõ vẻ xót xa. - Cụ ấy là người của dòng họ Lê, tại sao lại bị đối xử như một kẻ tội đồ?

- Vì cụ ấy đã tự nguyện hiến mạng để làm cọc trấn cho cái giếng này. - Ông Kỳ nói, hai mắt ông đỏ hoe. - Thời ấy loạn lạc, giặc giã liên miên, long mạch núi Long Tàng bị động khiến cả vùng Hoàng Châu này mất mùa, dịch bệnh chết phân nửa số dân. Vị quốc sư triều trước nói phải dùng bảy mạng người thuộc bảy dòng họ lớn nhất vùng để khóa mạch khí lại. Nhà họ Lê chúng tôi bốc thăm trúng cụ Hiến. Cụ ấy bị thả xuống cái giếng này khi vẫn còn sống, trên người quấn xích sắt gắn cọc đồng để giữ chặt huyệt mắt rồng.

Khiêm cảm thấy lồng ngực mình thắt lại. Một kỹ sư địa chất như anh luôn tin vào những quy luật tự nhiên, vào sự dịch chuyển của các tầng đất đá và áp suất nước ngầm. Nhưng câu chuyện của ông Kỳ đang mở ra một sự thật khác, một sự thật được xây dựng bằng xương máu và những lời nguyền gia tộc.

- Nếu cụ Hiến đã nằm dưới đó để trấn giữ, tại sao nước giếng lại đổi màu? - Khiêm hỏi, mắt anh dán vào mặt nước đỏ ngầu.

- Vì cọc đồng đã rỉ, hoặc có kẻ đã động vào cọc trấn ở gò Răng Rồng. - Ông Kỳ chỉ ngón tay run rẩy về phía ngọn núi Long Tàng mờ ảo trong sương. - Bảy điểm trấn yểm liên hoàn với nhau như một sợi xích. Một mắt xích bị lỏng thì những mắt xích khác cũng sẽ bung ra. Nhà họ Nguyễn các cháu giữ chiếc cọc thứ bảy ở gò Răng Rồng, đó là cọc chốt. Cha cháu mất, rồi đến ông cả Tuyên chết đuối trên sông, cụ Uẩn chết đứng trong buồng phả. Đó là mạch phản đang đòi nợ đấy!

Tiếng chuông đình Vạn Mạch từ xa vọng lại, âm thanh trầm đục trôi qua mặt ruộng ải, nghe như tiếng gõ vào một chiếc khánh đồng nứt. Mùi đất ướt cát mịn từ sông Bạch Huyệt theo gió đưa vào càng lúc càng nồng.

Huyền Anh mở cuốn sổ tay, cô chỉ vào dòng chữ "Nhà Nguyễn giữ cọc, không giữ sạch tay" đã được chụp lại bằng điện thoại:

- Bác Kỳ, câu này có nghĩa là gì? Tại sao lại nói nhà Nguyễn không giữ sạch tay?

Ông Kỳ nhìn dòng chữ, gương mặt ông biến dạng vì sợ hãi. Ông lùi lại hai bước, lắc đầu quầy quậy:

- Tôi không biết! Tôi chỉ là người thuộc chuyện cũ của họ Lê, những việc sâu xa hơn chỉ có người nhà họ Nguyễn các cháu mới rõ. Nhưng tôi cảnh báo các cháu, đừng cố tìm hiểu sâu thêm nữa. Mạch phản đã lan ra khỏi nhà họ Nguyễn rồi. Sáng nay, ba người thanh niên họ Lê ra giếng này gánh nước đều đã bị ngã gãy chân, người thì mê sảng nói toàn tiếng binh lính đánh trận. Cái giếng này không còn là nguồn nước lành nữa, nó đã thành giếng máu rồi!

Nói xong, ông cụ quay lưng, chống gậy đi vội vã về phía làng, mặc cho Huyền Anh gọi giật phía sau. Bóng dáng gầy gò của ông cụ nhanh chóng chìm vào làn sương mù đang dâng cao từ phía ruộng trũng.

Khiêm nhìn theo bóng ông Kỳ, rồi quay lại nhìn chiếc giếng đá. Anh biết mình không thể dừng lại. Cái chết của cha anh và những hiện tượng kỳ lạ xảy ra liên tiếp trong những ngày qua không cho phép anh lùi bước.

- Huyền Anh, giúp anh giữ đầu dây này. - Khiêm nói, anh lấy từ trong balo ra một cuộn dây dọi bằng thép không gỉ, đầu dây có gắn một quả dọi bằng đồng đặc nặng nửa ký.

- Anh định đo độ sâu của giếng sao? - Huyền Anh hỏi, cô đón lấy cuộn dây từ tay anh nhưng vẻ mặt không giấu nổi sự lo lắng. - Ông cụ vừa nói dưới đó có...

- Anh cần số liệu thực tế. - Khiêm ngắt lời cô. - Dù là phong thủy hay địa chất, mọi tác động lên lòng đất đều phải để lại dấu vết vật lý. Nếu có cọc đồng hay xích sắt dưới đó, quả dọi này sẽ phát hiện ra.

Khiêm thả quả dọi đồng xuống lòng giếng. Sợi dây thép mảnh tuột dần qua kẽ tay anh. Mười mét... mười lăm mét... hai mươi mét. Độ sâu này vượt quá xa so với độ sâu trung bình của các giếng nước vùng trung du, vốn chỉ khoảng bảy đến mười mét là chạm tới tầng đá mẹ.

Sợi dây vẫn tiếp tục tuột xuống. Khiêm cảm nhận được độ rung của sợi dây qua lòng bàn tay. Quả dọi đồng đang đi qua một môi trường nước rất đặc, lực cản lớn hơn bình thường.

Đột ngột, sợi dây thép căng mạnh. Một lực kéo cực lớn từ dưới đáy giếng giật phắt sợi dây đi, suýt nữa kéo tuột cả cuộn dây khỏi tay Huyền Anh.

- Khiêm! Có một vật lạ đang kéo dây! - Huyền Anh kêu lên, cô phải dùng cả hai tay để giữ chặt cuộn rulo gỗ.

Khiêm lập tức nắm lấy sợi dây thép, anh ghì chặt người ra phía sau, dùng trọng lượng cơ thể để đối kháng với lực kéo từ dưới giếng. Sợi dây thép mảnh căng ra như dây đàn, phát ra những tiếng "tưng tưng" ghê rợn. Dưới lòng giếng, tiếng nước cuộn xoáy bỗng chốc gầm rú dữ dội hơn, bọt khí sủi lên sùng sục như nước sôi.

Lực kéo dưới đáy giếng không phải là một lực hút liên tục của dòng nước xoáy. Nó giật từng nhịp, đều đặn và mạnh mẽ, giống như có một bàn tay khổng lồ đang cầm đầu dây bên kia và cố kéo hai người xuống lòng giếng sâu.

- Giữ chặt! - Khiêm hét lên. Anh quấn sợi dây thép một vòng quanh cổ tay mình, bỏ qua cảm giác đau đớn khi sợi kim loại cứa sâu vào da thịt.

Anh dồn sức kéo ngược trở lại. Từng centimet dây thép được thu về. Khi quả dọi đồng gần lên đến mặt nước, Khiêm cảm thấy sức nặng tăng lên gấp bội, như thể quả dọi đã móc vào một vật gì đó rất nặng dưới đáy giếng.

Mặt nước giếng bỗng chao đảo dữ dội. Lớp váng đỏ dạt sang hai bên thành đá.

Dưới ánh sáng rọi thẳng từ đỉnh đầu, Khiêm nhìn thấy quả dọi đồng đang móc vào một vật thể hình trụ dài, màu đen xám, cắm thẳng đứng giữa lòng giếng. Vật thể đó có đường kính khoảng mười centimet, bề mặt bám đầy những con hàu sông đã chết và những sợi xích sắt rỉ sét quấn quanh như những con rắn đen.

Đó là một chiếc cọc đồng.

Chiếc cọc đồng này có kích thước và hình dáng giống hệt chiếc cọc mà Khiêm đã tìm thấy trong quan tài của cụ tổ Nguyễn Trọng Hoán ở mộ tổ họ Nguyễn đêm trước. Nhưng chiếc cọc này lớn hơn, và trên phần đầu cọc lộ ra trên mặt nước, có khắc những đường rãnh sâu chạy dọc thân cọc để dẫn máu.

Ngay sát bên chiếc cọc đồng, dưới làn nước đỏ ngầu, một vật thể khác từ từ nổi lên.

Đó là một lá cờ lệnh bằng vải lụa cổ, dù đã ngâm dưới nước hàng trăm năm nhưng không hề bị mục nát. Lá cờ có màu vàng úa của đất sét nung, viền cờ được thêu những đường chỉ màu đỏ sẫm đã chuyển sang màu đen của máu khô. Ở giữa lá cờ, một chữ Hán lớn được thêu nổi bằng chỉ vàng kim, nét chữ sắc sảo và uy nghiêm.

Huyền Anh ghé sát mắt nhìn, cô cố đọc chữ trên lá cờ giữa làn nước dao động:

- Chữ... chữ "Trấn"! Đó là cờ lệnh của Quốc sư!

Ngay khi Huyền Anh vừa dứt lời, từ phía sau những bụi dứa dại sát bờ ruộng, có tiếng bước chân dồn dập chạy tới trên nền đất bùn nhão. Tiếng thở dốc của một người đàn ông vang lên, cắt đứt không gian u tịch của khu giếng cổ.

- Khiêm! Huyền Anh! Hai đứa làm cái gì ở đấy thế? - Tiếng của chú ruột Khiêm, ông Nguyễn Trọng Bình, gọi giật giọng từ phía bãi bồi.

Khiêm giật mình quay đầu lại. Chỉ trong một chốc lát mất tập trung, lực kéo từ dưới giếng đột ngột biến mất. Sợi dây thép chùng xuống. Quả dọi đồng cùng chiếc cọc đồng và lá cờ lệnh màu vàng úa dưới đáy giếng lập tức chìm nghỉm vào bóng tối sâu thẳm của lòng nước đỏ ngầu, không để lại một dấu vết nào ngoài những vòng sóng tròn lan tỏa.

Ông Bình chạy đến bên miệng giếng, mặt mũi nhễ nhại mồ hôi, hơi thở đứt quãng. Ông nhìn chiếc dây dọi trong tay Khiêm và vết máu rỉ ra từ cổ tay anh bị dây thép cứa phải, gương mặt ông hiện rõ vẻ giận dữ lẫn sợ hãi:

- Hai đứa điên rồi sao? Không lo việc tang cho ông cả Tuyên và cụ Uẩn ở trong làng, lại ra cái giếng chết người này làm gì? Có biết cả làng đang nháo nhào lên đi tìm hai đứa không?

Khiêm bình tĩnh thu lại sợi dây dọi thép, anh lấy khăn tay lau vết máu trên cổ tay rồi nhìn chú mình:

- Chú Bình, giếng này là điểm trấn thứ hai. Cháu vừa nhìn thấy cọc đồng và cờ lệnh của Quốc sư dưới đáy giếng. Mạch đất ở đây đã bị thông với sông Bạch Huyệt.

Ông Bình nghe vậy, mặt biến sắc. Ông nhìn quanh bờ ruộng vắng vẻ, rồi nắm lấy cánh tay Khiêm kéo đi:

- Về ngay! Chuyện này không phải việc của các cháu. Người họ Lê đang kéo ra đình Vạn Mạch đòi bắt vạ họ Nguyễn nhà ta vì làm động long mạch kia kìa. Nếu các cháu còn lảng vảng ở đây, người ta sẽ đổ hết tội lên đầu hai đứa đấy!

Huyền Anh nhìn lại giếng đá cổ một lần nữa. Làn sương mù từ lòng giếng lúc này đã dâng cao quá đầu người, che khuất hoàn toàn miệng giếng đá xanh. Tiếng nước xoáy dưới đáy giếng vẫn âm ỉ vang lên, như một lời nhắc nhở về một món nợ máu từ hai trăm năm trước vẫn chưa được thanh toán xong.

Chương khác

Xem thêm