Trấn Yểm Long Mạch - Chương 4: Bia đá bị đục mất tên
Đình Vạn Mạch chìm trong lớp sương mù dày đặc dâng lên từ sông Bạch Huyệt vào lúc tảng sáng. Lớp hơi ẩm lạnh buốt bám vào những bức tường gạch thất cổ…
Nội dung chương
Đình Vạn Mạch chìm trong lớp sương mù dày đặc dâng lên từ sông Bạch Huyệt vào lúc tảng sáng. Lớp hơi ẩm lạnh buốt bám vào những bức tường gạch thất cổ kính đã ngả màu xám xịt, tạo thành những dòng nước nhỏ chảy ngoằn ngoèo xuống chân móng đá. Trên sân đình rộng lớn lát gạch Bát Tràng, rêu xanh mọc dày thành từng mảng trơn trượt, chỉ có một lối đi nhỏ ở giữa được quét dọn sạch sẽ.
Nguyễn Trọng Khiêm đứng dưới mái hiên tả vu, hai tay đút sâu vào túi áo khoác dã ngoại. Đêm qua anh gần như không ngủ. Tiếng thở trầm đục dưới nền nhà tổ và vết nứt dọc bài vị của cụ Nguyễn Trọng Hoán cứ lặp đi lặp lại trong đầu anh như một nhịp gõ đều đặn của máy đo địa chấn. Khiêm đưa mắt nhìn về phía hậu cung của ngôi đình. Cánh cửa gỗ lim dày cộp đóng chặt, được khóa bằng một thanh then sắt to bản hoen rỉ và xích sắt quấn nhiều vòng qua hai khoen đồng.
Bình thường, đình Vạn Mạch chỉ mở cửa đại bái vào ngày rằm và mồng một đầu tháng. Nhưng sáng nay, cánh cửa ngách bên hông tả vu lại mở hé một khoảng vừa đủ một người lách qua. Dưới bậc thềm đá xanh dẫn vào cửa ngách, một vệt bùn sông màu đỏ quạch vẫn còn chưa khô hẳn, kéo dài từ phía bờ sông Bạch Huyệt vào tận bên trong bóng tối của gian tiền đường.
Lê Huyền Anh bước đến bên cạnh Khiêm, trên tay ôm một chiếc tráp gỗ nhỏ đựng giấy bản và các dụng cụ dập bia chuyên dụng. Mái tóc cô bám đầy những hạt sương li ti, gương mặt hơi nhợt nhạt vì lạnh nhưng đôi mắt vẫn giữ được vẻ tỉnh táo của một người làm nghiên cứu tư liệu cổ. Cô nhìn vệt bùn trên thềm đá, rồi nhìn Khiêm:
- Vệt bùn này giống hệt loại bùn phù sa lẫn sắt ở gò Răng Rồng. Đêm qua có người từ sông đi thẳng vào đình.
Khiêm cúi xuống, dùng đầu ngón tay quệt một ít bùn khô trên mép đá, đưa lên mũi ngửi. Mùi tanh nồng của nước sông Bạch Huyệt lẫn với mùi mục nát của lá cây chôn sâu dưới lòng đất. Anh đứng thẳng dậy, phủi tay:
- Người trong làng không ai dám bén bảng đến đình vào giờ này, nhất là khi sương sông chưa tan. Chúng ta vào trong trước khi ông Từ thức dậy.
Hai người nhẹ nhàng lách qua khe cửa ngách. Không gian bên trong tiền đường tối om và lạnh lẽo hơn bên ngoài. Mùi nhang trầm cũ kỹ từ những mùa lễ hội trước quyện với mùi gỗ ẩm tạo nên một bầu không khí đặc quánh. Ánh sáng mờ nhạt của buổi sớm chỉ đủ làm lộ ra những hàng cột lim lớn bằng vòng tay người ôm, bóng loáng vết dầu bóng cũ.
Huyền Anh dẫn Khiêm đi về phía dãy bia đá dựng dọc theo tường tả vu. Có tất cả sáu tấm bia đá xanh được đặt trên lưng rùa đá, ghi chép về các đợt trùng tu đình và danh sách những người công đức từ thời Lê Trung Hưng đến thời Nguyễn. Tấm bia thứ ba từ ngoài vào là tấm bia lớn nhất, trán bia chạm hình lưỡng long chầu nguyệt tinh xảo.
- Đây là bia hưng công dựng đình năm Gia Long thứ hai. - Huyền Anh đặt tráp gỗ xuống bệ thờ phụ bên cạnh, bật chiếc đèn pin chuyên dụng có ánh sáng vàng ấm để tránh gây chú ý từ bên ngoài. - Trong các tài liệu Hán Nôm còn lưu giữ ở viện, tấm bia này ghi lại tên của bảy người đứng đầu bảy dòng họ lớn ở làng Vạn Mạch đã hiến đất và tiền của để dựng lại đình sau thời loạn.
Khiêm soi đèn vào mặt bia. Lớp chữ khắc trên đá xanh tuy đã bị bào mòn bởi thời gian nhưng vẫn còn khá rõ nét. Tuy nhiên, khi ánh đèn lướt đến dòng cuối cùng ở góc bên phải tấm bia, cả hai người đều dừng lại.
Một vệt đục phá nham nhở kéo dài khoảng hai mươi phân, xóa sạch hoàn toàn một dòng chữ Hán. Vết đục này có màu xám trắng của đá mới bị vỡ, hoàn toàn tương phản với màu xám đen phong hóa của bề mặt đá xung quanh. Những vết búa đục sắc cạnh, dứt khoát, chứng tỏ người làm việc này đã dùng đục thép loại tốt và có tay nghề rất vững.
Khiêm đưa tay sờ vào vết đục. Bề mặt đá vẫn còn thô ráp, những hạt bụi đá mịn vẫn còn bám trên ngón tay anh. Ngay khi đầu ngón tay chạm vào lòng vết đục, một cảm giác tê buốt chạy dọc theo cánh tay Khiêm, giống như luồng điện nhẹ phóng ra từ một thiết bị khảo sát địa vật lý bị rò điện. Anh giật mình rút tay lại.
- Vết đục này mới lắm. - Khiêm nói, giọng anh trầm xuống trong không gian vắng lặng của ngôi đình. - Chỉ trong vòng vài ngày gần đây. Có thể là ngay sau khi mộ cụ tổ họ Nguyễn ở gò Răng Rồng bị nứt.
Huyền Anh ghé sát mắt vào mặt bia, dùng một chiếc chổi lông nhỏ quét nhẹ lớp bụi đá còn sót lại trong các kẽ nứt:
- Người ta cố tình xóa tên của dòng họ thứ bảy. Trong bản dập cũ mà tôi tìm thấy ở thư viện gia đình từ thời thuộc Pháp, dòng này ghi rõ họ tên của người đại diện họ Lê. Nhưng tại sao họ lại phải đục đi vào lúc này?
- Có tiếng bước chân. - Khiêm đột ngột tắt đèn pin, kéo Huyền Anh lùi vào bóng tối phía sau một cây cột lim lớn.
Tiếng chổi tre quét lá sột soạt vang lên từ phía sân đình, mỗi lúc một gần cửa ngách. Tiếp đó là tiếng ho khan quen thuộc của ông Cần, người được dân làng giao việc trông nom, khói hương cho ngôi đình suốt hai mươi năm qua. Ông Cần bước qua ngưỡng cửa ngách, tay cầm một chiếc đèn bão dầu hỏa leo lét. Gương mặt ông chằng chịt những nếp nhăn, đôi mắt đục mờ nhìn dáo dác xung quanh gian tiền đường.
Khi nhìn thấy vệt bùn sông trên thềm đá, ông Cần dừng lại, thở dài một tiếng dài rồi lầm bầm khấn vái một chuyện khuất tất trong miệng. Ông không quét dọn vệt bùn mà lấy một chiếc giẻ rách, cúi xuống lau sạch nó một cách cẩn thận, như thể đang cố xóa đi một dấu vết phạm tội.
Khiêm bước ra khỏi bóng cột gỗ:
- Ông Cần.
Ông lão giật nảy mình, chiếc đèn bão trên tay suýt chút nữa rơi xuống đất. Khi nhận ra Khiêm và Huyền Anh, gương mặt ông biến sắc, những nếp nhăn giật giật liên hồi:
- Cậu... cậu Khiêm? Cô Huyền Anh? Sao hai người lại ở đây vào giờ này? Đình chưa mở cửa cơ mà.
Khiêm bước đến gần vệt bùn đang bị lau dở:
- Chúng cháu muốn xem mấy tấm bia cổ để phục vụ cho việc khảo sát di tích. Ông Cần, vệt bùn này từ sông dẫn thẳng vào đây. Đêm qua có ai vào đình đúng không?
Ông Cần vội vàng giấu chiếc giẻ lau ra sau lưng, giọng run rẩy:
- Làm gì có ai. Sương muối rơi xuống thềm đá rồi chảy thành vệt đấy thôi. Hai người đừng hỏi lôi thôi, thần linh trong đình linh thiêng lắm, quấy nhiễu vào giờ này là bị phạt đấy.
Huyền Anh bước lên, chỉ vào dòng chữ bị đục trên tấm bia đá xanh:
- Ông Cần, tấm bia này bị ai đục phá thế này? Đây là tài sản di tích của làng, phá hoại bia cổ là vi phạm pháp luật.
Nhìn thấy vết đục mới trên mặt bia, mắt ông Cần co rụt lại. Ông lùi lại một bước, hai tay chắp trước ngực hướng về phía hậu cung vái lấy vái để:
- Lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, lạy Đức Thánh hoàng bản cảnh. Con không biết gì cả, con chỉ là người quét dọn nước lã dầu đèn. Chuyện của các cụ ngày xưa, xin các ngài xá tội cho con.
Khiêm giữ vai ông lão, giọng anh lạnh nhưng dứt khoát:
- Ông Cần, bác cả Tuyên nhà cháu nói rằng bảy dòng họ ở Vạn Mạch có một lời thề chung để giữ long mạch núi Long Tàng. Cha cháu chết ngoài bờ sông Bạch Huyệt cũng vì đi tìm những điểm trấn yểm này. Bây giờ mộ cụ tổ nhà cháu bị nứt, bài vị bị vỡ, rồi bia đình lại bị đục tên họ Lê. Ông biết điều gì đúng không?
Ông Cần nhìn Khiêm, ánh mắt hiện lên vẻ sợ hãi tột cùng. Ông nhìn xuống bàn tay Khiêm đang giữ vai mình, rồi nhìn ra khoảng sân đình mù mịt sương ngoài kia:
- Cậu Khiêm ơi, tôi lạy cậu. Cậu học cao hiểu rộng ở trên tỉnh, cậu cứ về trên đó mà làm ăn. Đất Vạn Mạch này dữ lắm. Cái long mạch dưới núi Long Tàng kia không phải là thứ để người trần mắt thịt các cậu đùa giỡn đâu. Cha cậu ngày xưa cũng cậy mình có chữ nghĩa, đi ngược đi xuôi tìm cách mở cái khóa đồng dưới sông, cuối cùng thì sao? nước dữ đòi mạng đấy!
- nước dữ đòi mạng hay có người ra tay? - Khiêm hỏi vặn, mắt anh xoáy sâu vào ông lão coi đình.
Ông Cần lắc đầu quầy quậy, không nói thêm một lời nào. Ông lách qua người Khiêm, đi nhanh về phía gian buồng nhỏ bên hông đình, khóa chặt cửa lại từ bên trong. Tiếng chốt cửa gỗ kêu "cạch" một tiếng khô khốc, để lại hai người đứng giữa gian tiền đường lạnh lẽo.
Huyền Anh nhìn theo hướng ông Cần vừa đi, rồi quay lại nhìn tấm bia đá:
- Ông ấy biết rất rõ về dòng họ Lê của tôi. Khi tôi còn nhỏ, bà nội tôi thường kể rằng họ Lê vốn là một trong những họ lớn nhất làng. Nhưng sau một đêm mưa bão lớn cuối thời nhà Nguyễn, toàn bộ gia phả của họ Lê trong đình bị đốt sạch. Người trong họ phải phiêu bạt đi nơi khác, chỉ còn một nhánh nhỏ ở lại nhưng không được thừa nhận trong các kỳ tế lễ.
- Mọi chuyện đều đổ dồn về thời điểm dựng lại ngôi đình này. - Khiêm nhìn về phía hậu cung. - Cấu trúc địa chất của vùng này rất lạ. Đình Vạn Mạch được xây dựng ngay trên một dải đá mồ côi kéo dài từ chân núi Long Tàng ra sát bờ sông Bạch Huyệt. Đây là một đứt gãy địa chất tự nhiên. Nếu có người muốn trấn yểm dòng chảy của nước ngầm hay khí đất, thì ngôi đình này chính là cái khóa thứ hai sau gò Răng Rồng.
Anh bước về phía cửa hậu cung. Thanh then sắt khóa cửa rất lớn, được đúc bằng sắt đặc, xù xì những vết rỉ sét màu nâu đỏ. Khiêm đưa tay nắm lấy thanh sắt. Một cảm giác rung động nhẹ từ cánh cửa truyền qua lòng bàn tay anh. Đó không phải là rung động vật lý do gió thổi, mà là một nhịp đập đều đặn, rất khẽ, giống như nhịp tim của một sinh vật khổng lồ đang ngủ say dưới nền đất đá của ngôi đình.
Huyền Anh đi tới, cô lấy từ trong túi ra một chiếc gương nhỏ gắn trên một thanh kim loại dài có thể kéo rút, dụng cụ thường dùng để đọc các góc khuất của văn bia cổ. Cô luồn chiếc gương qua khe hở nhỏ giữa hai cánh cửa gỗ lim của hậu cung.
- Khiêm, soi đèn giúp tôi vào góc nghiêng của chiếc gương. - Cô thì thầm.
Khiêm bật đèn pin, điều chỉnh luồng sáng hẹp chiếu thẳng vào mặt gương phản chiếu. Qua góc nghiêng của chiếc gương, không gian bên trong hậu cung dần hiện ra. Khác với sự bề thế của gian tiền đường, hậu cung đình Vạn Mạch rất hẹp và sâu. Ở chính giữa là một bệ thờ bằng đá xanh nguyên khối, trên đặt một chiếc khám thờ bằng gỗ sơn son thếp vàng đã xỉn màu.
Nhưng điều kỳ lạ là chiếc khám thờ không chứa bài vị của thần linh theo nghi thức thông thường. Bên trong khám thờ trống rỗng. Phía sau khám thờ, sát bức tường đá của hậu cung, có một tấm bia đá nhỏ khác, chỉ cao khoảng hai gang tay, cắm thẳng xuống nền đất không qua bệ rùa.
- Đó không phải là cách đặt bia thờ thần. - Huyền Anh nói, tay cô hơi run làm chiếc gương dao động nhẹ. - Tấm bia đó giống như một chiếc cọc trấn giữ hơn là bia thờ. Nó được đóng trực tiếp vào mạch đất.
Khiêm nhìn kỹ hình ảnh phản chiếu trong gương. Trên mặt tấm bia đá nhỏ trong hậu cung có khắc những dòng chữ Hán rất nhỏ. Anh cố gắng nhận dạng các nét chữ qua lớp bụi mờ và ánh sáng phản chiếu yếu ớt:
- Em có đọc được chữ nào trên đó không?
Huyền Anh nheo mắt, điều chỉnh tiêu cự của chiếc gương nhỏ:
- Chữ khắc trên đó rất sâu, nhưng hình như cũng bị đục phá một phần. Ở dòng chính giữa, tôi thấy có chữ "Trấn"... và chữ "Vạn". Còn lại các chữ khác bị che khuất bởi một bức màn vải màu đỏ treo phía trên.
Khiêm quan sát phần nền đất xung quanh bệ đá xanh trong hậu cung. Nền đất ở đó không được lát gạch Bát Tràng như bên ngoài mà để đất trần. Một vệt nước màu đỏ gạch, giống hệt vệt nước trong nhà thờ họ Nguyễn đêm qua, đang rỉ ra từ chân tấm bia đá nhỏ, thấm đẫm khoảng đất xung quanh tạo thành một vùng bùn lầy lội.
Đúng lúc đó, tiếng chuông đình đột ngột vang lên.
Tiếng chuông đồng đục ngầu, nặng nề vang vọng trong sương sớm, làm rung động những lớp ngói mũi hài trên mái đình. Ông Cần đã ra tháp chuông phía sau để thỉnh chuông buổi sáng. Tiếng chuông như một hồi còi báo động, cắt đứt sự im lặng tịch mịch của ngôi đình.
Khiêm nghe thấy tiếng đất đá dưới chân mình chuyển động. Nhịp thở trầm đục dưới lòng đất mà anh nghe thấy đêm qua ở nhà tổ họ Nguyễn giờ đây lại xuất hiện ngay dưới nền hậu cung đình Vạn Mạch. Lần này, âm thanh ấy rõ ràng hơn, nghe như tiếng nước triều dâng cuồn cuộn trong những hang động ngầm dưới lòng đất.
- Chúng ta phải ra ngoài ngay. - Khiêm kéo tay Huyền Anh. - Ông Cần sắp quay lại đây.
Huyền Anh nhanh chóng thu hồi chiếc gương nhỏ vào tráp gỗ. Hai người lách qua cửa ngách, bước ra ngoài sân đình đúng lúc sương mù bắt đầu loãng dần dưới ánh mặt trời buổi sớm đang lên sau rặng tre bên bờ sông Bạch Huyệt.
Họ không đi ra bằng cổng chính mà đi theo con đường mòn men theo bờ sông để quay về phía làng. Dưới sông Bạch Huyệt, sương mù vẫn còn giăng kín mặt nước. Dòng sông chảy xiết, tạo thành những xoáy nước nhỏ màu nâu đỏ ở những khúc quanh.
Huyền Anh vừa đi vừa mở cuốn sổ tay ghi chép của mình, gương mặt cô đầy suy tư:
- Khiêm, anh có nhớ chữ "thất" khắc trên chiếc cọc đồng ở gò Răng Rồng không?
- Có. Chữ đó được khắc chìm dưới lớp rỉ đồng. - Khiêm trả lời, mắt anh vẫn quan sát dòng sông.
- Trong phong thủy trận đồ cổ, số bảy là số của sao Thất Xích, đại diện cho sự phá hủy và binh đao. Nhưng trong đại pháp trấn yểm long mạch mà tôi từng đọc trong một cuốn sách cổ ở thư viện gia đình, bảy chiếc cọc đồng đại diện cho bảy điểm khóa trên thân rồng. Gò Răng Rồng là điểm thứ bảy, cũng là điểm chót của trận đồ. Nếu gò Răng Rồng bị động, toàn bộ sáu điểm còn lại cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Khiêm dừng lại bên một gốc cây gạo cổ thụ bên bờ sông. Từ vị trí này, anh có thể nhìn thấy gò Răng Rồng nổi lên như một chiếc răng lớn cắm xuống dòng nước đục ngầu của sông Bạch Huyệt.
- Cha anh đã tìm ra điều này trước khi mất. - Huyền Anh tiếp tục, giọng cô nhỏ dần. - Trong những trang nhật ký khảo sát cuối cùng của ông mà tôi được đọc, ông có nhắc đến một cụm từ: "Thất tinh trận khóa long, vạn mạng lấp hố sâu". Tôi cứ nghĩ đó chỉ là một câu thơ cổ, nhưng nhìn tấm bia bị đục tên trong đình sáng nay, tôi nghi ngờ rằng...
Cô chưa kịp nói hết câu thì từ phía khúc quanh sông Bạch Huyệt vang lên tiếng kêu cứu thất thanh.
Tiếng kêu phát ra từ phía bến nước làng Vạn Mạch, nơi người dân thường ra giặt giũ và lấy nước vào buổi sáng. Khiêm và Huyền Anh lập tức chạy về phía đó.
Khi họ đến nơi, một nhóm người làng đã tụ tập đông đủ trên bờ cát. Dưới nước, hai người đàn ông trung niên đang cố gắng kéo một vật gì đó lên bờ. Đó là một chiếc thuyền nan nhỏ của dân chài lưới, nhưng chiếc thuyền đã bị lật úp, chỉ còn phần đáy nổi lên mặt nước.
Bên cạnh chiếc thuyền lật, một thi thể người đàn ông đang trôi dập dềnh trong đám lục bình. Khi thi thể được kéo lên bãi cát, người dân xung quanh đồng loạt lùi lại, vài người phụ nữ hét lên rồi quay mặt đi chỗ khác.
Đó là ông cả Tuyên.
Gương mặt ông cả Tuyên tím tái, mắt trợn trừng nhìn lên bầu trời xám xịt. Hai tay ông co quắp trước ngực, nắm chặt lấy một vật gì đó. Khi nhìn kỹ, Khiêm nhận ra thứ ông cả Tuyên đang giữ trong tay là một mảnh gỗ mục sơn son thếp vàng.
Đó là một nửa của bài vị cụ tổ Nguyễn Trọng Hoán bị vỡ đêm qua.
Khiêm bước tới, quỳ xuống bên cạnh thi thể của bác mình. Anh đưa tay vuốt mắt cho ông cả Tuyên nhưng đôi mắt ấy vẫn không thể nhắm lại được. Trên cổ ông cả có một vệt bầm tím hình vòng tròn, giống như vết siết của một sợi dây thừng lớn. Nhưng da thịt ở vùng đó lại bị bong tróc, để lộ ra những thớ thịt màu đỏ xám có lẫn những hạt cát mịn của sông Bạch Huyệt.
- Ông ấy bị đuối nước. - Một người đàn ông trong làng nói, giọng run rẩy. - Sáng sớm nay tôi ra sông quăng lưới thì thấy chiếc thuyền của ông ấy trôi tự do. Khi vớt lên thì đã thế này rồi. Lạ thật, ông cả Tuyên bơi lội giỏi nhất vùng này, sao lại chết đuối ở khúc sông nông thế này được?
Huyền Anh đứng phía sau Khiêm, mắt cô nhìn chằm chằm vào bàn tay co quắp của ông cả Tuyên. Cô chỉ vào mảnh bài vị gỗ mục:
- Khiêm, nhìn kìa.
Trên mảnh gỗ sơn son thếp vàng mà ông cả Tuyên nắm chặt, ngoài những nét chữ ghi tên cụ tổ Nguyễn Trọng Hoán, ở phần rìa bị gãy có dính một miếng giấy bản rất mỏng đã bị nước sông làm ướt sũng. Miếng giấy bản này được dán giấu bên trong phần lõi của bài vị gỗ, chỉ khi bài vị bị vỡ đôi mới lộ ra ngoài.
Khiêm nhẹ nhàng gỡ miếng giấy bản ra khỏi tay người chết. Miếng giấy đã mục nát, nhưng những nét mực nho viết trên đó vẫn còn đọc được. Đó là một sơ đồ vẽ tay nguệch ngoạc bằng mực đỏ, thể hiện trục nối giữa núi Long Tàng, đình Vạn Mạch và sông Bạch Huyệt.
Ở mỗi điểm nối, người vẽ đều đánh một dấu chéo màu đen. Có tất cả bảy dấu chéo. Dấu chéo thứ bảy đặt ngay tại gò Răng Rồng đã bị khoanh một vòng tròn lớn bằng mực đen đậm, kèm theo ba chữ Hán viết vội vã: "Khóa mệnh nhân".
- Khóa mệnh nhân... - Huyền Anh thì thầm bên tai Khiêm. - Kẻ canh cọc mạng.
Người dân xung quanh bắt đầu bàn tán xôn xao. Tiếng khóc của người nhà ông cả Tuyên từ phía đường làng vọng lại. Khiêm đứng dậy, cất miếng giấy bản vào túi áo khoác. Anh nhìn dòng sông Bạch Huyệt cuồn cuộn chảy. Cái chết của cha anh và của ông cả Tuyên chỉ như những quân cờ đầu tiên bị gạt đổ trong một ván cờ phong thủy đã được bày sẵn từ hai trăm năm trước.
- Chúng ta cần quay lại đình. - Khiêm nói với Huyền Anh, giọng anh lạnh lùng không cảm xúc. - Tấm bia đá bị đục tên kia còn một chi tiết mà chúng ta chưa nhìn kỹ.
- Chi tiết gì? - Huyền Anh hỏi.
- Vết đục trên bia đá tuy mới, nhưng người đục rõ ràng đã vội vã hoặc không muốn xóa sạch hoàn toàn. Ở phần chân của dòng chữ bị xóa, vẫn còn sót lại một phần của nét chữ cuối cùng. Anh muốn em nhìn lại nét chữ đó.
Hai người quay trở lại đình Vạn Mạch khi người dân trong làng đang đổ xô về phía bến sông để lo hậu sự cho ông cả Tuyên. Ngôi đình lúc này hoàn toàn vắng vẻ. Ông Cần vẫn khóa chặt cửa trong buồng không chịu ra ngoài.
Khiêm và Huyền Anh lách qua cửa ngách một lần nữa. Ánh sáng mặt trời lúc này đã chiếu qua các khe hở trên mái ngói, tạo thành những luồng sáng xiên chéo cắt qua không gian tối tăm của tiền đường.
Họ đứng trước tấm bia đá xanh thứ ba. Huyền Anh lấy chiếc kính lúp từ trong tráp gỗ, ghé sát vào phần cuối cùng của vệt đục phá. Cô dùng ngón tay miết nhẹ lên phần đá màu xám trắng mới bị vỡ.
Dưới ánh sáng mặt trời chiếu xiên, ở góc dưới cùng của vết đục, lộ ra nửa dưới của một chữ Hán cổ. Chữ này không nằm trong danh sách tên của bảy dòng họ lớn thường thấy trong các gia phả của làng.
Huyền Anh nhìn chăm chú vào nét chữ còn sót lại, gương mặt cô dần trở nên xám ngoét. Cô lùi lại một bước, cuốn sổ tay trên tay suýt rơi xuống nền gạch:
- Đây... đây không phải là tên thần.
- Đó là chữ gì? - Khiêm hỏi, mắt anh dán vào biểu cảm của cô.
Huyền Anh chỉ tay vào nét đá bị vỡ, giọng cô run rẩy không thành tiếng:
- Nửa chữ còn sót lại này... nó là phần dưới của chữ "Hiến". Đây là tên của một người từng bị xóa khỏi thờ tự, một người trong họ Lê của tôi đã bị đem ra làm vật tế sống để trấn giữ mạch đất này.