Trấn Yểm Long Mạch - Chương 3: Tiếng rồng thở dưới nền nhà

Cây nhang vòng đại bản treo trên xà nhà thờ họ Nguyễn đột ngột rụng tàn, rơi thẳng xuống chiếc mâm bồng bằng đồng thau tạo ra âm thanh khô khốc. Cơn mưa…

Nội dung chương

Cây nhang vòng đại bản treo trên xà nhà thờ họ Nguyễn đột ngột rụng tàn, rơi thẳng xuống chiếc mâm bồng bằng đồng thau tạo ra âm thanh khô khốc. Cơn mưa phùn dai dẳng ngoài sân bỗng ngưng bặt. Bầu không khí trong gian thờ chính đặc quánh lại, mang theo cái hanh hao lạnh lẽo của đất trung du sau những ngày ẩm ướt.

Nguyễn Trọng Khiêm ngồi bên chiếc án thư gỗ gụ kê ở gian phụ. Trên mặt bàn, tấm bản đồ địa chất vùng gò Răng Rồng vẽ bằng bút chì kỹ thuật nằm đè lên những trang gia phả cũ. Ánh sáng từ chiếc đèn bão dầu hỏa đặt bên cạnh chốc chốc lại lay động, hắt những cái bóng dài ngoằn ngoèo lên bức vách gỗ mít đã ngả màu nâu sẫm. Mùi gỗ ngọc am từ chiếc quan tài cụ tổ vừa được cải táng tạm ngoài sân vẫn vương vất trong không gian, quyện với mùi nhang trầm ẩm mốc tạo thành một thứ hương vị ngột ngạt.

Khiêm đặt chiếc bút chì xuống. Anh đưa tay lên day nhẹ hai bên thái dương. Thiết bị đo áp suất khí quyển cầm tay đặt cạnh bản đồ liên tục nhấp nháy, các con số hiển thị trên màn hình sụt giảm với tốc độ bất thường. Đối với một kỹ sư địa chất, sự sụt giảm áp suất đột ngột trong không gian kín thế này chỉ có thể do hai nguyên nhân. Một là cơn bão lớn sắp đổ bộ. Hai là có một khoảng rỗng rất lớn vừa thay đổi thể tích ngay dưới nền đất. Nhưng đài khí tượng thủy văn không hề dự báo bão, và nền đất dưới nhà thờ họ Nguyễn vốn là đá tảng vững chắc.

Một âm thanh trầm đục phát ra từ sâu bên dưới nền gạch Bát Tràng.

Âm thanh đó không giống tiếng chuột bò trong hốc tường, cũng không phải tiếng nước ngầm chảy qua các khe đá vôi sau mưa. Nó có nhịp điệu rõ rệt. Hít vào nặng nề, dừng lại một nhịp, rồi thở ra kéo dài. Mỗi nhịp thở ấy đi kèm một độ rung rất nhẹ, tần số thấp đến mức mắt thường không thể nhìn thấy, nhưng lòng bàn tay Khiêm đặt trên mặt bàn gỗ cảm nhận được những đợt sóng rung động truyền qua chân bàn.

Khiêm đứng dậy, bước đến giữa gian thờ chính. Anh quỳ một gối xuống nền gạch Bát Tràng màu đỏ sẫm như da trâu. Những viên gạch ở đây đã có tuổi đời hơn trăm năm, rìa gạch đóng một lớp rêu đen khô khốc. Khiêm áp lòng bàn tay, rồi đến tai mình xuống mặt gạch lạnh ngắt.

Mặt đất đang thở.

Nhịp thở đều đặn, chậm rãi nhưng chứa đựng một sức nén khổng lồ. Cứ mỗi lần âm thanh ấy vang lên, những hạt bụi bám trong các kẽ gạch lại bị hất nhẹ lên rồi rơi xuống. Khiêm cảm thấy lồng ngực mình cũng tự động co thắt theo nhịp điệu của lòng đất. Đó là một cảm giác bức bối, ngột ngạt như có ai đó đang đè nặng lên cơ hoành.

- Anh Khiêm, anh cũng nghe thấy đúng không?

Giọng nói của ông cả Tuyên vang lên từ phía ngưỡng cửa. Ông bước vào, tay bưng một đĩa trầu cau đặt lên bàn thờ phụ. Gương mặt ông xám ngoét dưới ánh đèn dầu, đôi mắt trũng sâu hằn rõ những tia máu đỏ. Bộ quần áo đại thụ màu đen rộng thùng thình trên thân hình gầy gò của ông càng làm tăng thêm vẻ khắc khổ.

Khiêm đứng thẳng dậy, phủi bụi bám trên đầu gối:

- Nền nhà thờ có khoang rỗng. Cháu cần dùng máy quét địa vật lý để kiểm tra cấu trúc móng. Tiếng động này có thể do sụt lún hoặc túi khí tích tụ dưới lòng đất sau khi gò Răng Rồng bị đào xới.

Ông cả Tuyên lắc đầu, tiếng thở dài của ông hòa vào tiếng gió ngoài hiên:

- Máy móc của anh không đo được lòng đất làng Vạn Mạch đâu. Cha anh ngày trước cũng mang đủ thứ sắt thép về đây đo đạc, cuối cùng chính ông ấy lại bảo tôi rằng đất này có xương có thịt. Anh nhổ chiếc cọc đồng ở gò Răng Rồng, tức là anh đã chọc vào sống lưng của con rồng dưới núi Long Tàng rồi.

- Cháu chưa nhổ chiếc cọc. - Khiêm lạnh lùng ngắt lời. - Chiếc cọc đó bám sâu vào đá tảng, lực phản chấn tự thân của nó quá lớn. Cháu chỉ mới làm bong lớp rỉ đồng bên ngoài.

- Thế thì nó mới cựa mình. - Ông cả Tuyên bước đến bên ban thờ, nhìn chằm chằm vào bức y môn thêu chữ "Nguyễn Tộc Đường". - Từ chiều đến giờ, trong họ đã có ba đứa trẻ lên cơn sốt. Con nhà chú ba Lâm ở xóm Đông, con nhà cô tư Huệ dưới bến sông. Chúng nó đều nói sảng một câu giống hệt nhau.

Khiêm nheo mắt:

- Chúng nói gì?

- Chúng nó mơ thấy một con vật dài như khúc cây bạch đàn, vảy xám xịt như bùn sông Bạch Huyệt, bị người ta dùng bảy chiếc đinh đồng lớn đóng chặt từ đầu đến đuôi xuống dưới nền đất nhà thờ họ ta. Mỗi lần con vật đó thở, những chiếc đinh lại cắm sâu thêm một phân, máu chảy ra đen ngòm cả giếng làng.

Tiếng bước chân vội vã ngoài sân cắt ngang lời ông cả. Lê Huyền Anh bước vào qua lối cửa ngách. Cô ôm một tập tài liệu Hán Nôm được bọc kỹ trong tấm vải chàm vẫn còn ẩm nước mưa. Mái tóc cô bết lại hai bên thái dương, gương mặt thanh tú lộ rõ vẻ mệt mỏi nhưng đôi mắt lại sáng lên một cách kỳ lạ.

- Cháu chào bác cả. - Huyền Anh gật đầu chào ông Tuyên rồi quay sang Khiêm, đặt tập tài liệu lên án thư. - Tôi vừa dịch xong phần phụ lục của cuốn phả hệ chi họ Lê. Dòng họ tôi bị xóa tên khỏi phả hệ chung của bảy nhà không vì phạm tội với triều đình, mà vì tổ tiên tôi đã ghi lại vị trí của các điểm trấn yểm. Trong đó có đoạn chép về nền nhà thờ họ Nguyễn.

Khiêm bước lại gần, nhìn vào những dòng chữ Nôm được Huyền Anh dịch nghĩa bằng bút mực xanh bên cạnh:

- Đoạn đó viết thế nào?

Huyền Anh lật nhanh đến trang giấy có vẽ một sơ đồ đơn giản bằng mực tàu đã phai màu. Sơ đồ vẽ hình một con rồng uốn lượn dọc theo sông Bạch Huyệt, phần đầu rồng nằm đúng vị trí núi Long Tàng, còn phần đuôi quất về phía gò Răng Rồng. Ngay tại vị trí nhà thờ họ Nguyễn hiện tại, người xưa vẽ một vòng tròn đỏ lớn với dòng chú thích chữ Hán nhỏ xíu bên cạnh.

- "Thất huyệt trấn long, kỳ trung đệ thất huyệt tại Nguyễn tộc từ đường, dĩ đồng đinh khóa kỳ khí." - Huyền Anh đọc nhỏ, giọng cô run nhẹ. - Nghĩa là: Bảy huyệt trấn giữ rồng, trong đó huyệt thứ bảy nằm ở nhà thờ họ Nguyễn, dùng đinh đồng khóa khí của nó. Bản thảo này được viết vào năm Gia Long thứ hai, tức là ngay sau khi vị quốc sư kia triệu tập bảy thầy địa lý.

Khiêm nhìn sơ đồ, ngón tay anh gõ nhẹ lên mặt bàn theo nhịp điệu của tiếng thở dưới nền đất:

- Nếu đây là điểm trấn thứ bảy, tại sao lại dùng từ "khóa khí"? Trong phong thủy, trấn yểm thường là để giữ mạch hoặc phát tán khí tốt cho dòng họ. Việc khóa khí lại sẽ khiến dòng họ đó lụi bại. Tổ tiên họ Nguyễn không thể ngu ngốc đến mức để người ta đóng đinh đồng ngay dưới nền nhà thờ tổ của mình.

Ông cả Tuyên ngồi xuống chiếc ghế trường kỷ, tay run run châm lửa vào chiếc điếu bát. Tiếng nước điếu kêu sòng sọc phá tan sự im lặng của gian thờ. Ông thở ra một ngụm khói xám đục, mắt nhìn đăm đăm vào khoảng không trước mặt:

- Các cụ không ngu ngốc. Nhưng đó là cái giá phải trả. Năm xưa, khi lập làng Vạn Mạch, nếu không đồng ý để quốc sư đặt điểm trấn thứ bảy ở đây, cả dòng họ Nguyễn đã bị tru di vì tội chứa chấp tàn quân của triều đại trước. Lời thề giữ mạch thực chất là một bản án chung thân dành cho bảy dòng họ. Chúng ta được sống trên đất này, nhưng đổi lại, mỗi đời phải có người chết trẻ để nuôi cái mạch khí đó.

- Cháu không tin vào những lời thề vô căn cứ đó. - Khiêm nói, giọng anh đanh lại. - Cha cháu đã dành nửa đời người để nghiên cứu cấu trúc địa chất vùng này. Ông ấy chết ở bờ sông Bạch Huyệt không phải vì mạch phản, mà vì ông ấy đã phát hiện ra một vật lạ dưới lòng đất và bị người ta hãm hại. Chiếc cọc đồng ở gò Răng Rồng là vật chứng duy nhất còn sót lại.

Huyền Anh nhìn Khiêm, ánh mắt cô đầy lo ngại:

- Anh Khiêm, khoa học của anh có thể giải thích được tại sao tất cả những người chạm vào chiếc cọc đồng đó đều gặp tai ương không? Cha anh trước khi mất đã viết trong sổ tay địa chất của ông ấy một dòng chữ: "Mạch đã chuyển, cọc thứ bảy không được động vào". Tại sao ông ấy lại dặn như thế nếu đó chỉ là một thanh đồng bình thường?

Khiêm không trả lời. Anh mở ba lô, lấy ra chiếc búa địa chất chuyên dụng và một ống nghe y tế cải tiến thường dùng để dò âm thanh trong lòng đá. Anh đeo ống nghe vào tai, đặt đầu dò xuống viên gạch Bát Tràng nằm ngay dưới chân bục thờ cụ tổ Nguyễn Trọng Hoán.

Âm thanh truyền qua ống nghe rõ ràng và sắc nét hơn nhiều.

Đó không chỉ là tiếng thở. Lẫn trong tiếng hít thở trầm đục ấy là tiếng xào xạc của đất cát bị dịch chuyển, giống như có một vật thể khổng lồ đang trườn đi trườn lại trong một không gian hẹp. Cứ mỗi lần vật thể đó chuyển động, tiếng kim loại rít lên ken két lại vang lên. Đó là tiếng cọ xát của đồng và đá.

Từ phía ngoài xa, tiếng chuông đình Vạn Mạch bắt đầu vang lên báo hiệu canh ba.

Tiếng chuông đi qua màn sương mù dày đặc của sông Bạch Huyệt, nghe đục ngầu và nặng nề, không hề có độ vang thanh thoát của đồng đen. Tiếng chuông vừa dứt, nhịp thở dưới nền nhà thờ họ Nguyễn đột ngột tăng nhanh.

Độ rung dưới chân Khiêm mạnh lên trông thấy. Chiếc đèn bão đặt trên án thư bắt đầu dịch chuyển dần về phía mép bàn. Nước trong chiếc bát điếu của ông cả Tuyên sóng sánh, bắn cả ra ngoài.

- Nó đang lên! - Ông cả Tuyên hốt hoảng đứng bật dậy, chiếc điếu bát suýt nữa rơi khỏi tay ông. - Anh Khiêm, tránh ra khỏi chỗ đó ngay!

Khiêm vẫn ngồi im. Anh dùng búa địa chất gõ mạnh vào viên gạch Bát Tràng thứ bảy tính từ mép bục thờ.

"Cộc. Cộc. Bộp."

Âm thanh phát ra ở viên gạch thứ bảy vang hơn, chứng tỏ khoảng rỗng bên dưới rất gần mặt đất, chỉ cách lớp gạch chưa đầy mười phân. Khiêm dùng mũi nhọn của búa lách vào kẽ gạch, dùng lực bẩy mạnh. Lớp vôi vữa cổ xưa đã mục nát dễ dàng bị phá vỡ. Viên gạch Bát Tràng bị lật lên, để lộ ra một lớp bùn đất màu xám đen bên dưới.

Một mùi tanh nồng của bùn sông Bạch Huyệt xộc thẳng vào mũi ba người. Mùi tanh ấy đậm đặc đến mức Huyền Anh phải lấy vạt áo che mũi, lùi lại vài bước.

Dưới lớp bùn xám đen vừa lộ ra, có một vệt nước màu đỏ gạch, đặc quánh như máu loãng, từ từ rỉ lên qua kẽ nứt của các viên gạch xung quanh. Vệt nước không chảy tràn ra mà tụ lại thành một vũng nhỏ, sủi bọt khí tăm tắp.

Khiêm đưa ngón tay chạm vào vệt nước màu đỏ. Nó lạnh ngắt, lạnh hơn cả nước đá, và có độ nhớt kỳ lạ. Khi anh rút tay lại, vệt nước bám chặt vào da thịt, lau thế nào cũng không sạch hết lớp màng màu đỏ xám.

- Đây là bùn đáy sông. - Khiêm quan sát kỹ vệt nước trên ngón tay. - Nhà thờ họ Nguyễn nằm trên đồi cao, cách sông Bạch Huyệt hơn hai cây số về phía thượng lưu. Tại sao bùn đáy sông lại có thể rỉ lên từ nền nhà thờ này? Có một đường ống hoặc một vết nứt địa chất thông thẳng từ lòng sông vào đây.

Huyền Anh bước lại gần, chỉ vào vũng nước đỏ đang sủi bọt:

- Không phải đường ống thông thường đâu. Anh nhìn kỹ đi, bọt khí sủi lên theo nhịp thở mà chúng ta vừa nghe thấy. Cứ một lần đất rung là bọt khí lại nổi lên. Có một lực lạ đang đẩy nước từ dưới sông lên tận đây qua hệ thống mạch ngầm.

Ông cả Tuyên lúc này đã quỳ sụp xuống trước bàn thờ, hai tay chắp lại trước ngực, miệng lẩm nhẩm những lời khấn vái cổ xưa mà Khiêm không hiểu được. Gương mặt ông đầy vẻ thành kính lẫn sợ hãi tột cùng. Ông liên tục dập đầu xuống nền gạch, trán đập vào đá tạo ra những tiếng "cộp cộp" khô khốc.

- Cụ tổ ơi, con cháu vô tri, động chạm đến long mạch. Xin cụ xá tội cho dòng họ Nguyễn. Xin cụ giữ lấy cái cọc đồng, đừng để nó tuột ra...

Khiêm nhìn ông cả Tuyên, lông mày nhíu chặt:

- Bác cả, bác biết rõ chiếc cọc đồng đó khóa thứ gì dưới gò Răng Rồng đúng không? Cha cháu trước khi chết đã nói chuyện với bác. Ông ấy đã tìm thấy gì dưới đó?

Ông cả Tuyên dừng khấn, nhưng vẫn không ngẩng đầu lên, giọng ông nghẹn ngào trong khói hương:

- Cha anh tìm thấy xương. Rất nhiều xương người dưới chân cọc đồng. Ông ấy muốn đưa những bộ xương đó lên, muốn trả lại tên cho họ để giải nghiệp cho dòng họ Nguyễn. Nhưng ông ấy không biết rằng, những bộ xương đó chính là thứ giữ cho chiếc cọc đồng không bị mạch phản nuốt chửng. Ông ấy vừa chạm vào xương, mạch đất liền chuyển, nước sông Bạch Huyệt dâng lên ngập cả hố quật. Cha anh chết đuối ngay trên cạn, phổi chứa đầy bùn sông dù ông ấy ngã trên bờ cỏ.

Lời kể của ông cả Tuyên làm gian thờ lặng phắc. Chỉ còn tiếng nhang cháy lép bép trên bát hương.

Khiêm nhìn xuống vũng nước đỏ dưới chân mình. Lời giải thích của ông cả Tuyên nghe có vẻ hoang đường, nhưng dưới góc độ địa chất, việc một túi khí ngầm bị vỡ có thể tạo ra áp lực cực lớn đẩy bùn lỏng và nước ngầm phun ngược lên bề mặt. Cha anh có thể đã vô tình chọc thủng một túi khí như thế khi tiến hành khai quật gò Răng Rồng.

Nhưng còn tiếng thở này?

Nó vẫn tiếp tục vang lên, đều đặn và nặng nề hơn.

Khiêm đứng dậy, đi về phía chiếc án thư để lấy chiếc kìm kẹp kỹ thuật và thiết bị đo tần số rung động. Anh cần phải xác định chính xác biên độ và hướng truyền của đợt sóng địa chấn này.

Vừa đi được hai bước, chiếc áp kế kỹ thuật số đặt trên bàn bỗng nhiên phát ra một tiếng "tạch" giòn giã. Màn hình tinh thể lỏng của thiết bị nứt đôi, một dòng chất lỏng màu đen chảy ra, xóa sạch các con số đo đạc. Cùng lúc đó, ngọn lửa trong chiếc đèn bão dầu hỏa đột ngột phụt tắt, chỉ còn lại ánh sáng leo lét từ ba cây nhang vòng trên ban thờ họ.

Bóng tối ập xuống gian thờ.

Trong bóng tối nhập nhẹm, tiếng thở dưới nền đất bỗng nhiên biến đổi. Nó không còn là tiếng trầm đục vô hồn của đất đá nữa. Âm thanh ấy rít lên qua khe gạch thứ bảy, nghe như tiếng một người đang cố gắng hít thở trong khi cổ họng bị chặn lại bởi nước và bùn.

Huyền Anh khẽ kêu lên một tiếng, cô lùi lại phía sau Khiêm, tay bám chặt vào vai áo anh. Bàn tay cô lạnh ngắt, run rẩy.

- Có người... có người đang gọi dưới đó. - Huyền Anh thì thầm, giọng cô lạc đi.

Khiêm đứng im tại chỗ. Mọi giác quan của anh căng lên. Anh nghe thấy một giọng nói khàn đặc, lẫn trong tiếng gió rít qua khe cửa và tiếng bùn sủi bọt dưới nền nhà. Giọng nói ấy phát ra từ ngay phía sau bức y môn thờ cụ tổ Nguyễn Trọng Hoán, nơi đặt bài vị bằng gỗ sơn son thếp vàng.

Đó là một giọng nói quen thuộc. Giọng nói mà Khiêm đã không được nghe suốt ba năm qua, kể từ ngày cha anh được tìm thấy nằm chết bên bờ sông Bạch Huyệt.

Giọng nói khàn khàn, đứt quãng, nhưng gọi rất rõ ràng tên húy của cụ tổ họ Nguyễn:

- Hoán... Nguyễn Trọng Hoán... đừng nhổ... chiếc cọc...

Khiêm bước lên một bước, định lao về phía ban thờ thì ông cả Tuyên đột ngột ôm chặt lấy chân anh. Sức lực của một ông già gầy yếu lúc này mạnh đến mức kinh người, khiến Khiêm không thể nhấc chân lên nổi.

- Anh Khiêm! Không được qua đó! - Ông cả Tuyên hét lên, giọng ông đầy vẻ kinh hoàng. - Đó không phải là cha anh đâu! Mạch phản đang gọi hồn người chết để lừa anh nhổ cọc đấy!

Tiếng gọi từ phía sau ban thờ vẫn tiếp tục vang lên, mỗi lúc một lớn hơn, át cả tiếng gió ngoài hiên. Giọng nói ấy không chỉ gọi tên cụ tổ, mà bắt đầu chuyển sang gọi tên Khiêm:

- Khiêm... cứu cha... dưới sông lạnh lắm... cọc đồng... nhổ nó ra...

Khiêm cảm thấy da đầu mình tê dại. Lý trí của một kỹ sư thực địa bảo anh rằng đây chỉ là hiện tượng cộng âm của gió qua các khe hở của kiến trúc cổ, kết hợp với trạng thái ảo giác do hít phải khí độc từ lòng đất sủi lên. Nhưng nhịp điệu của giọng nói, cách nhấn nhá và cả tông giọng khàn đặc vì khói thuốc lào của cha anh thì không thể nhầm lẫn được.

Anh cúi xuống, gỡ mạnh tay ông cả Tuyên ra khỏi chân mình:

- Bác cả, buông cháu ra. Cháu phải xem phía sau ban thờ có cái gì.

- Không có gì cả! - Huyền Anh đột ngột hét lên từ phía sau. Cô đang cầm chiếc đèn pin kỹ thuật chiếu thẳng vào bức y môn thờ.

Dưới ánh sáng của đèn pin, bức y môn thêu bằng chỉ vàng lay động nhẹ. Nhưng thứ làm cả ba người đứng hình là vệt nước màu đỏ gạch dưới nền nhà. Vũng nước đỏ không còn sủi bọt nữa. Nó đang từ từ bò ngược lên theo bốn chiếc chân của bàn thờ cụ tổ.

Nước bùn đỏ quạch, mang theo mùi tanh tưởi của sông Bạch Huyệt, thấm qua lớp gỗ gụ, tạo thành những đường vân màu đỏ sẫm như những mạch máu đang đập phập phồng trên thân gỗ.

Tiếng thở dưới lòng đất đột ngột ngưng bặt.

Không gian nhà thờ họ Nguyễn rơi vào một sự im lặng tuyệt đối, chỉ còn nghe thấy tiếng tim đập thình thịch trong lồng ngực của ba người.

Rồi, từ sâu bên dưới viên gạch thứ bảy bị lật lên, vang lên một tiếng "két" chói tai.

Đó là tiếng kim loại rỉ sét tự xoay dưới áp lực lớn. Âm thanh giống hệt như tiếng chiếc cọc đồng ở gò Răng Rồng tự xoay một khấc chiều nay.

Cùng lúc đó, bài vị của cụ tổ Nguyễn Trọng Hoán trên ban thờ đột ngột đổ sập xuống mặt bàn, vỡ làm đôi.

Chương khác

Xem thêm