Trấn Yểm Long Mạch - Chương 5: Kẻ canh phả chết đứng

Ổ khóa đồng đúc hình đầu lân vốn chỉ được mở vào ngày chạp tổ họ Nguyễn nay lại nằm chỏng chơ dưới bậu cửa đá xanh. Chốt khóa bị giật đứt lìa, để lại…

Nội dung chương

Ổ khóa đồng đúc hình đầu lân vốn chỉ được mở vào ngày chạp tổ họ Nguyễn nay lại nằm chỏng chơ dưới bậu cửa đá xanh. Chốt khóa bị giật đứt lìa, để lại những vệt đồng rỉ vụn vương vãi trên nền đất ẩm.

Cánh cửa gỗ lim dày hai tấc của buồng phả hé mở một khe hẹp, đủ để mùi dầu hỏa trộn lẫn với mùi giấy bản ẩm mốc xộc thẳng ra ngoài hiên. Dưới cơn mưa phùn dai dẳng của vùng trung du, hơi ẩm từ sông Bạch Huyệt bốc lên, bao phủ lấy những bức tường gạch vồ trát vôi tôi trộn mật mía của nhà thờ họ Nguyễn bằng một lớp màng nước bóng nhẫy.

Khiêm dừng bước trước thềm đá. Anh đưa tay chạm vào vết gãy trên ổ khóa đồng. Vết kim loại bị xé rách còn sắc cạnh, không có dấu hiệu của cưa hay giũa. Lực giật xé đôi khoen đồng này phải tương đương với sức kéo của một con trâu mộng, hoặc một lực cơ học cực lớn tác động đột ngột từ phía trong ra.

- Khóa này do chính tay cha anh đặt rèn ở làng đúc đồng ngoài phủ hai mươi năm trước. - Khiêm nói, giọng anh trầm xuống, hòa vào tiếng mưa rơi trên mái ngói mũi hài. - Ông cụ từng bảo, khóa này chỉ có hai chìa. Một chìa ông giữ, một chìa nằm trong túi áo cụ Uẩn.

Huyền Anh đứng bên cạnh, hai tay ôm chặt chiếc tráp gỗ đựng tài liệu Hán Nôm trước ngực. Gương mặt cô vẫn chưa lấy lại được chút sắc hồng sau những gì nhìn thấy trên tấm bia đá bị đục ở đình Vạn Mạch. Cô nhìn chằm chằm vào vệt nước màu đỏ gạch đang rỉ ra từ khe cửa buồng phả, chảy dài xuống bậc thềm đá rồi hòa vào dòng nước mưa xám xịt.

- Cụ Uẩn không bao giờ rời buồng phả vào giờ này. - Huyền Anh thì thầm, giọng cô run lên. - Cụ giữ phả cho họ Nguyễn đã ba mươi năm. Người trong làng vẫn bảo cụ sống như một cái bóng bên cạnh những chiếc hòm gỗ lim. Cụ không thể tự tay bẻ khóa của tổ tiên.

Khiêm không trả lời. Anh dùng mũi giày gạt nhẹ chiếc ổ khóa hỏng sang một bên, rồi đặt tay lên cánh cửa gỗ lim nặng nề. Lực đẩy của anh khiến cánh cửa phát ra một tiếng "két" khô khốc, dội lại từ những bức tường gạch vách đất xung quanh.

Bên trong buồng phả tối om. Ngọn đèn dầu đặt trên chiếc bàn thờ lập lờ góc phòng chỉ còn lại một đốm lửa xanh lét, nhỏ bằng hạt đỗ, đang lụi dần trong lớp dầu cặn đen ngòm. Ánh sáng yếu ớt ấy không đủ để soi rõ những góc tối của căn phòng, nhưng lại làm nổi bật lên một bóng người đứng sừng sững ngay giữa hai dãy tủ gỗ lim chứa tráp phả.

Cụ Nguyễn Trọng Uẩn đứng đó.

Thân hình gầy gò của cụ dựng thẳng đứng, hai chân khép chặt, gót chân hơi kiễng lên khỏi nền gạch Bát Tràng ẩm ướt như thể đang cố rướn người lên để với lấy một vật lạ trên xà nhà. Nhưng trên đầu cụ không có dây thừng, cũng không có xà ngang nào hạ thấp. Cụ đứng tự do, lưng tựa hờ vào mép chiếc tủ gỗ lim chứa phả hệ chi bảy.

Đôi mắt cụ Uẩn mở trừng trừng, lòng đen co nhỏ lại thành hai chấm đen kịt dán chặt vào khoảng không trước mặt. Khóe miệng cụ hơi trễ xuống, để lộ ra một dòng nước bọt lẫn cát sông Bạch Huyệt màu xám đen đã khô lại thành vệt dài xuống tận cổ áo cánh nâu.

Khiêm bước nhanh tới, nhưng bước chân của anh đột ngột khựng lại khi ngửi thấy mùi bùn sông nồng nặc phát ra từ thi thể. Anh đưa hai ngón tay lên dò mạch cổ của cụ Uẩn. Da thịt cụ lạnh toát, cứng đờ như một khúc gỗ ngâm nước lâu ngày.

- Cứng khớp hoàn toàn rồi. - Khiêm lẩm bẩm, mắt anh quét nhanh từ đầu đến chân thi thể. - Thời gian tử vong ít nhất đã từ đêm qua, cùng thời điểm với lúc bác cả Tuyên gặp nạn ngoài bến sông. Nhưng tại sao lại đứng được thế này?

Huyền Anh bước vào sau, cô che miệng để ngăn một tiếng nấc nghẹn. Dưới ánh sáng từ chiếc đèn pin kỹ thuật mà Khiêm vừa bật lên, hai người nhìn thấy rõ hai bàn tay của cụ Uẩn co quắp lại trước ngực. Mười ngón tay gầy guộc, móng tay bám đầy bùn đất đỏ gạch, đang kẹp chặt lấy một trang giấy bản lớn.

Trang giấy bản ấy bị giật mạnh từ một cuốn sổ phả cổ nằm trên bàn. Vết rách loang lổ, xơ xác. Điều đáng sợ là trang giấy đã bị một đường dao sắc bén cắt đứt mất một góc lớn, để lại một khoảng trống hình tam giác ngay giữa phần ghi chép danh tính các thành viên trong họ.

Khiêm ghé sát đèn pin vào bàn tay cụ Uẩn. Anh cố gắng gỡ trang giấy ra nhưng các ngón tay của người chết đã khóa chặt lại như những gọng kìm bằng sắt rỉ. Khi anh tác động lực, khớp xương ngón tay cụ Uẩn phát ra những tiếng "rắc" giòn giã dưới lớp da khô héo.

- Đừng gỡ mạnh, Khiêm. - Huyền Anh ngăn lại. - Khớp xương đã bị mạch khí khóa rồi. Nhìn kỹ vệt nước dưới chân cụ đi.

Khiêm rọi đèn pin xuống nền nhà. Dưới hai bàn chân kiễng lên của cụ Uẩn, bốn viên gạch Bát Tràng đã bị nứt đôi theo một đường thẳng tắp. Từ những khe nứt ấy, nước sông Bạch Huyệt màu đỏ gạch đang sủi bọt tăm lên, mang theo những hạt cát mịn và mùi tanh nồng của bùn đất sâu dưới lòng đất.

Đường nứt này chạy thẳng từ chân tủ gỗ lim, xuyên qua vị trí cụ Uẩn đứng, rồi hướng thẳng về phía bức tường phía sau, nơi giáp ranh với gò Răng Rồng ngoài cánh đồng.

- Mạch phản đã đi qua đây. - Khiêm nói, giọng anh lạnh tanh. Anh đứng thẳng dậy, nhìn chiếc tủ gỗ lim bảy ngăn phía sau lưng cụ Uẩn.

Chiếc tủ này là nơi lưu giữ toàn bộ gia phả, sắc phong và văn tự cổ của bảy chi họ Nguyễn từ thời lập làng Vạn Mạch. Mỗi ngăn tủ đều được chạm khắc hình một đầu rồng ngậm ngọc, tương ứng với một chi. Ngăn thứ bảy, nằm ở góc dưới cùng bên phải, vốn là nơi đặt tráp phả của chi họ Nguyễn Trọng Hoán - chi họ của cha con Khiêm.

Lúc này, cánh cửa ngăn thứ bảy đã bị giật tung. Chiếc tráp gỗ sơn son thếp vàng đựng phả chính của chi bảy đã biến mất. Chỉ còn lại một vài mảnh vụn của vải lụa đỏ bọc phả nằm vương vãi trên lớp bụi gỗ mục.

Có tiếng bước chân dồn dập ngoài sân. Ông Cần, thủ từ đình Vạn Mạch, cùng ba người đàn ông lớn tuổi trong họ Nguyễn hớt hải chạy vào. Khi nhìn thấy cảnh tượng cụ Uẩn đứng chết đứng giữa buồng phả, ông Cần loạng choạng lùi lại, suýt ngã nhào ra thềm cửa.

- Trời đất ơi... cụ Uẩn! - Một người họ hàng lớn tuổi kêu lên, tay run rẩy chỉ vào xác chết. - Sao cụ lại chết đứng thế này? Điềm gở rồi! Mạch đất nhà họ Nguyễn động thật rồi!

Khiêm quay lại, đối mặt với những người mới đến. Ánh mắt anh sắc lạnh khiến những lời bàn tán xôn xao của người làng đột ngột xẹp xuống.

- Bác Cần. - Khiêm gọi thẳng tên ông thủ từ. - Đêm qua ai là người cầm chìa khóa buồng phả ngoài cụ Uẩn?

Ông Cần mặt cắt không còn giọt máu, hai tay chắp trước ngực vái lia lịa về phía bàn thờ tổ rồi mới dám trả lời Khiêm:

- Anh Khiêm ơi, buồng phả này từ xưa đến nay chỉ có cụ Uẩn giữ chìa. Đến cả tôi là thủ từ đình Vạn, mỗi lần muốn vào xin sắc phong cũng phải có cụ đi cùng. Đêm qua mưa gió bão bùng thế kia, ai mà vào đây được?

- Vậy tại sao ổ khóa đồng bị giật đứt? - Khiêm chỉ tay ra phía cửa. - Và tại sao tráp phả chi bảy lại biến mất?

Những người đàn ông họ Nguyễn nhìn nhau, không ai dám trả lời câu hỏi của Khiêm. Họ nhìn thi thể cụ Uẩn đứng sừng sững kia với vẻ sợ hãi hơn là thương tiếc. Một người trong số họ, ông trưởng tộc chi ba, khẽ bước lên một bước, giọng run run:

- Anh Khiêm, việc này... có lẽ liên quan đến chuyện ngoài gò Răng Rồng chiều qua. Chiếc cọc đồng bị xoay, mạch đất bị động. Cụ Uẩn là kẻ canh phả, mạng cụ gắn liền với phần mộ và văn tự của tổ tông. Mạch phản đã đòi mạng cụ rồi.

- Mạch phản đòi mạng bằng cách bẻ khóa và lấy trộm tráp phả sao? - Khiêm vặn hỏi, giọng anh đầy vẻ mỉa mai. - Các bác tin vào phong thủy đến mức không nhìn thấy có người đã đột nhập vào đây sao?

- Anh không hiểu đâu! - Ông Cần đột ngột lớn tiếng, gương mặt ông hiện lên vẻ khắc khổ xen lẫn kinh hoàng. - Họ Nguyễn chúng ta giữ cọc đồng ở gò Răng Rồng đã hơn hai trăm năm. Lời thề của tổ tiên đã định: phả còn thì người còn, phả mất thì người mất. Cụ Uẩn chết đứng thế này là để giữ lấy trang phả cuối cùng đấy! Anh nhìn tay cụ xem, cụ đang giữ cái gì?

Huyền Anh bước lên, cô chỉ vào trang giấy bản bị kẹp chặt trong tay cụ Uẩn:

- Bác Cần, cháu vừa nhìn thấy vệt cắt trên trang phả này. Nó bị cắt bằng dao. Hơn nữa, trên tấm bia đá ở đình Vạn Mạch bị đục đêm qua, cháu tìm thấy chữ "Hiến". Đó là tên của một người họ Lê bên nhà cháu. Tại sao tên người họ Lê lại xuất hiện trên bia đá của làng Vạn Mạch, và tại sao trang phả họ Nguyễn lại bị cắt đúng lúc này?

Ông Cần nghe đến chữ "Hiến" thì giật nảy mình. Ông nhìn Huyền Anh với ánh mắt đầy cảnh giác, rồi nhìn sang Khiêm:

- Cô Huyền Anh, cô là người họ Lê, vốn không nên bước chân vào buồng phả họ Nguyễn này. Chuyện bia đá đình Vạn là chuyện của làng, còn phả hệ họ Nguyễn là chuyện riêng của tộc chúng tôi. Cô đừng có hỏi sâu vào những chuyện không phải của nhà mình.

- Bác Cần! - Khiêm gằn giọng, bước lên che trước mặt Huyền Anh. - Cha cháu đã chết dưới sông Bạch Huyệt. Bác cả Tuyên vừa mới mất sáng nay cũng vì vũng nước đỏ dưới nền nhà tổ. Bây giờ đến lượt cụ Uẩn. Bác định dùng cái gọi là "kiêng kỵ dòng họ" để che giấu điều gì nữa?

Không gian buồng phả rơi vào một sự im lặng căng thẳng. Chỉ còn nghe thấy tiếng nước mưa nhỏ giọt từ mái ngói xuống thềm đá ngoài hiên: "tóc... tóc... tóc...". Tiếng chuông đình Vạn Mạch từ xa vọng lại, từng tiếng một, trầm đục và nặng nề, báo hiệu làng sắp có đám tang lớn.

Ông Cần thở dài, bờ vai ông chùng xuống. Ông nhìn thi thể cụ Uẩn đứng đó, rồi nhìn vệt nước đỏ gạch vẫn đang sủi bọt dưới nền nhà:

- Anh Khiêm, không phải tôi muốn giấu anh. Nhưng có những chuyện, nếu nói ra thì cả họ Nguyễn này sẽ không còn đất dung thân ở vùng Long Tàng này nữa. Cha anh năm xưa chết vì cố tìm cách sửa lại gia phả chi bảy, cố đưa những cái tên không nên có vào lại trong phả. Ông ấy đã phạm vào lời thề giữ cọc.

- Lời thề gì? - Khiêm hỏi dồn.

- "Nhà Nguyễn giữ cọc, mạng thế mạng". - Ông Cần thì thầm, giọng ông nhỏ đến mức chỉ đủ cho Khiêm và Huyền Anh nghe thấy. - Bảy chi họ Nguyễn tương ứng với bảy cọc trấn dưới núi Long Tàng. Mỗi khi có một chiếc cọc bị động, sẽ có một kẻ canh cọc phải nằm xuống để bù đắp sinh khí cho mạch đất. Cha anh là người thứ nhất, bác cả Tuyên là người thứ hai, và cụ Uẩn... cụ Uẩn là kẻ canh phả, cụ phải dùng mạng mình để khóa lại trang phả cuối cùng trước khi kẻ khác cướp mất.

Khiêm nhìn chằm chằm vào ông Cần. Lý trí của một kỹ sư khảo sát địa chất bảo anh rằng đây chỉ là những lời giải thích hoang đường nhằm hợp thức hóa những cái chết bất thường do khí độc hoặc sự tranh chấp nội bộ gia tộc. Nhưng những vệt nước đỏ gạch sủi bọt dưới chân cụ Uẩn và vệt bầm tím kỳ lạ trên cổ ông cả Tuyên lại là những bằng chứng vật lý không thể chối cãi.

- Ai là kẻ muốn cướp tráp phả? - Khiêm hỏi, giọng anh dịu lại nhưng lạnh hơn.

Ông Cần lắc đầu, ông không dám nhìn thẳng vào mắt Khiêm:

- Tôi không biết. Nhưng kẻ đó biết rất rõ cấu trúc của buồng phả này. Hắn không lấy phả của các chi khác, chỉ lấy đi tráp phả chi bảy. Chi bảy của các anh... chính là chi nắm giữ bí mật về chiếc cọc thứ bảy dưới chân núi Long Tàng.

Huyền Anh khẽ giật gấu áo Khiêm. Cô chỉ tay vào bức tường phía sau tủ gỗ lim. Dưới ánh sáng đèn pin, trên bức tường vôi tôi ẩm ướt, có những vệt bùn đất hình bàn tay người kéo dài từ trên trần nhà xuống tận nền gạch. Những vệt bàn tay này rất nhỏ, giống như tay của một đứa trẻ, nhưng các ngón tay lại dài một cách dị thường.

Khiêm tiến lại gần bức tường. Anh đưa tay sờ vào vệt bùn. Bùn vẫn còn ướt, mang theo những hạt cát mịn màu xám đen của sông Bạch Huyệt. Đây không phải là bùn đất bình thường của vùng trung du, mà là loại bùn trầm tích chỉ có ở những khúc sông sâu, nơi nước xoáy mạnh và không có ánh sáng mặt trời chiếu tới.

- Có người đã đi từ phía sau này vào. - Khiêm nhận định. - Bức tường này giáp với lối dẫn ra gò Răng Rồng. Có một đường hầm hoặc một khoảng trống địa chất nằm ngay dưới nền nhà thờ họ.

Anh quay lại phía thi thể cụ Uẩn. Anh biết mình không thể để trang phả bị kẹp trong tay cụ biến mất hoặc bị hủy hoại. Đó là manh mối duy nhất còn sót lại sau khi tráp phả chi bảy bị lấy trộm.

- Bác Cần, cháu phải lấy trang phả này ra. - Khiêm nói.

- Không được! - Ông Cần hoảng hốt kêu lên. - Tay cụ Uẩn đã khóa rồi. Nếu anh cố tình bẻ gãy tay cụ, mạch phản sẽ lập tức ăn vào người anh đấy! Người chết đứng là để giữ vật, nếu cướp vật của người chết đứng, anh sẽ phải thế mạng vào chỗ của cụ!

Những người đàn ông họ Nguyễn cũng nhao nhao ngăn cản:

- Anh Khiêm, đừng làm càn! Chuyện này để chúng tôi làm lễ phát tẩm rồi mới dám xin cụ buông tay. Bây giờ động vào là phạm thượng đấy!

Khiêm không nghe. Anh bước tới trước thi thể cụ Uẩn. Anh nhìn thẳng vào đôi mắt mở trừng trừng của kẻ canh phả quá cố. Trong đầu anh vang lên tiếng thở trầm đục dưới nền đất đêm qua, tiếng thở rít qua khe gạch thứ bảy như tiếng một người đang cố ngoi lên từ vũng bùn sâu.

Anh đưa hai tay lên, giữ chặt lấy cổ tay lạnh ngắt của cụ Uẩn.

Ngay khi chạm vào da thịt cụ, Khiêm cảm thấy một luồng khí lạnh buốt như băng giá từ cổ tay người chết truyền thẳng vào lòng bàn tay anh. Luồng khí lạnh ấy chạy dọc theo cánh tay, khiến các cơ bắp của anh đột ngột co rút lại, đau nhức nhối. Dưới chân anh, viên gạch Bát Tràng thứ bảy lại phát ra một tiếng "két" chói tai, giống như tiếng xích sắt rỉ sét bị kéo căng dưới lòng đất.

Huyền Anh đứng bên cạnh nhìn thấy những đường gân máu trên cánh tay Khiêm đột ngột nổi lên, chuyển sang màu đỏ sẫm như những đường vân gỗ trên bàn thờ cụ tổ đêm qua.

- Khiêm! Buông ra đi! - Cô hét lên, định lao vào can ngăn.

Nhưng Khiêm không buông. Anh nghiến răng, dồn toàn bộ sức lực của một người từng lăn lộn trên các công trường địa chất thực địa, bẻ ngược hai ngón tay cái của cụ Uẩn ra.

Một tiếng "khục" khô khốc vang lên. Khớp xương ngón tay cụ Uẩn bị bẻ gãy hoàn toàn. Trang giấy bản ẩm ướt tuột ra khỏi những ngón tay co quắp.

Ngay giây phút trang giấy rời khỏi tay cụ Uẩn, thân hình cứng đờ của kẻ canh phả đột ngột mất đi điểm tựa. Cụ đổ ập về phía trước, hướng thẳng vào người Khiêm.

Khiêm nhanh tay đỡ lấy thi thể cụ Uẩn, đặt cụ nằm xuống nền gạch ẩm ướt. Đôi mắt mở trừng trừng của cụ Uẩn lúc này từ từ khép lại, khóe miệng không còn rỉ ra nước bọt lẫn cát nữa, nhưng gương mặt cụ đã chuyển sang màu xám ngoét của đất sét nung hỏng.

Ông Cần và những người làng đứng chết trân tại chỗ. Họ nhìn Khiêm với ánh mắt đầy sợ hãi, như thể họ vừa nhìn thấy một kẻ điên rồ dám thách thức cả thần linh đất Long Tàng.

Khiêm không quan tâm đến ánh mắt của họ. Anh đứng dậy, tay cầm chặt trang giấy bản vừa lấy được. Trang giấy ẩm ướt, lạnh ngắt, và có mùi tanh của bùn sông.

Anh trải trang giấy lên mặt chiếc bàn thờ gỗ lim đã bám đầy bụi. Huyền Anh vội vàng chiếu đèn pin vào.

Trang giấy bản này là phần ghi chép về chi họ Nguyễn Trọng Hoán vào cuối thế kỷ thứ mười tám. Phần lớn các dòng chữ ghi tên tuổi, ngày sinh, ngày mất của các cụ tổ đều đã bị đường dao cắt đứt, chỉ còn lại những nét chữ dang dở.

Nhưng ở góc dưới cùng của trang giấy, nơi vết cắt hình tam giác kết thúc, có một dòng chữ viết bằng mực tàu đỏ đã bị nhòe đi vì nước sông. Nét chữ viết rất vội vã, chồng chéo lên nhau, giống như được viết trong một trạng thái hoảng loạn tột độ trước khi chết.

Huyền Anh ghé sát mắt vào, cô cố gắng nhận diện từng nét chữ Hán cổ bị nhòe:

- Đây... đây không phải là chữ của cụ Uẩn. Nét chữ này rất cổ, giống với nét chữ trên sắc phong thời Tây Sơn mà tôi từng nghiên cứu.

- Chữ đó viết gì? - Khiêm hỏi, ngón tay anh miết nhẹ lên vệt mực đỏ đã khô.

Huyền Anh đọc nhỏ, giọng cô run rẩy giữa không gian u tối của buồng phả:

- "Nhà Nguyễn giữ cọc, không giữ sạch tay".

Chương khác

Xem thêm