Trấn Yểm Long Mạch - Chương 7: Ông Ba Khánh mù một mắt
Con đường đất chạy dọc theo bãi bồi sông Bạch Huyệt nhão ra dưới cơn mưa phùn cuối xuân. Đất trung du vùng Hoàng Châu vốn nhiều cát pha sét, khi gặp nước…
Nội dung chương
Con đường đất chạy dọc theo bãi bồi sông Bạch Huyệt nhão ra dưới cơn mưa phùn cuối xuân. Đất trung du vùng Hoàng Châu vốn nhiều cát pha sét, khi gặp nước mưa lâu ngày liền hóa thành một thứ bùn quánh đỏ, bám chặt lấy đế giày bảo hộ của Nguyễn Trọng Khiêm mỗi khi anh nhấc chân lên. Mùi phù sa nồng nặc bốc lên từ dòng sông đang cuộn đỏ phía bên trái, lẫn trong gió lạnh thổi buốt từ dãy núi Long Tàng.
Huyền Anh đi sát phía sau Khiêm, hai tay co ro trong túi áo khoác gió dính bết nước mưa. Mái tóc ngắn của cô bết lại hai bên má, đôi mắt mệt mỏi cố nhìn qua làn sương mù đang dâng lên từ mặt nước sông.
Ngôi nhà tranh của ông Ba Khánh nằm trơ trọi nơi doi đất nhọn nhô ra lòng sông Bạch Huyệt. Theo nguyên tắc phong thủy thông thường của vùng Bắc Bộ, nhà cửa phải chọn nơi tụ khí, lưng tựa gò cao, mặt hướng dòng nước chảy êm để đón sinh khí. Nhưng ngôi nhà này lại nằm ngay góc chết của khúc sông lở, nơi dòng nước xoáy đập thẳng vào vách đất dựng đứng. Cổng nhà làm bằng hai cọc tre đực khẳng khiu, trên đầu cọc buộc một dải vải tang trắng đã cũ nát. Dải vải không bay theo gió mà bết chặt vào thân tre bởi một lớp bùn sông đen kịt, trông giống như một dấu hiệu cảnh báo người sống không được bước qua hơn là một nghi thức tang ma thông thường.
Khiêm dừng lại trước cổng tre, ánh mắt anh dừng lại ở dải vải tang bôi bùn.
- Chú Bình nói ông Ba Khánh đã sống ở đây hơn ba mươi năm. - Khiêm nói, giọng anh trầm xuống giữa tiếng sóng vỗ vào bờ đất lở. - Một thầy địa lý giỏi không bao giờ dựng nhà ở thế đất Độc Âm Sát này. Đây là nơi dòng chảy đứt gãy, khí dữ từ lòng sông xộc thẳng vào nhà.
Huyền Anh bước lên bên cạnh anh, cô nhìn dải vải tang rồi khẽ rùng mình:
- Trong sách cổ họ Lê có chép về tục yểm tang bằng bùn sông. Người ta dùng bùn ở những khúc sông có người chết đuối để bôi lên vải tang, mục đích là để che mắt những vong hồn đi tuần trên sông, không cho họ nhìn thấy người sống trong nhà. Ông Ba Khánh đang trốn tránh một chuyện khuất tất dưới lòng sông này.
Khiêm không đáp. Anh đưa tay đẩy nhẹ cánh cổng tre. Tiếng dây mây buộc cọc tre cọ sát vào nhau phát ra những âm thanh cót két khô khốc. Anh bước qua ranh giới cọc tre, chân dẫm lên lớp lá tre rụng đầy trên lối đi ẩm ướt, hướng thẳng về phía cửa ngôi nhà tranh vách đất.
Ngôi nhà thấp lè tè, mái rạ đã mục đen vì nước mưa nhiều năm. Khi Khiêm đẩy cánh cửa liếp bằng tre mộc mạc, một mùi thuốc nam xông lên nồng nặc lập tức bao vây lấy hai người. Đó là mùi của củ gấu nướng cháy, mùi ngải cứu khô để lâu ngày bị ẩm mốc, và một mùi tanh nhẹ giống như nước giếng cổ Bạch Huyệt mà họ vừa chạm trán lúc chiều.
Bên trong nhà tối om. Ánh sáng yếu ớt từ cửa chỉ đủ làm hiện rõ những hạt bụi lơ lửng trong không khí ẩm ướt.
Khiêm đưa tay bật chiếc đèn pin chuyên dụng. Luồng ánh sáng vàng nhạt quét qua gian nhà ngoài. Trên xà nhà làm bằng thân tre đực mục ruỗng, một chiếc la bàn bằng đồng đường kính khoảng hai mươi centimet được treo bằng sợi dây thừng xơ xác. Chiếc la bàn này có vỏ ngoài chạm khắc bát quái rất tinh xảo, nhưng mặt kính bảo vệ đã vỡ nát từ lâu. Kim la bàn bằng sắt rỉ sét bị gãy làm đôi ngay vị trí trục trung tâm, hai nửa kim lệch hẳn sang một bên, không hề chỉ vào các cung chữ Hán khắc xung quanh.
Dưới đất, những niêu thuốc đất nung xếp thành hàng dọc theo chân tường. Nhiều chiếc đã nứt nẻ, nước thuốc màu nâu sẫm chảy ra ngoài, thấm vào nền đất nện tạo thành những vệt loang lổ như những vết chàm trên da người chết.
- Ai cho các người mang ánh sáng sắt thép vào đây? Tắt đi.
Một giọng nói khàn đặc, mang theo tiếng thở khò khè từ góc tối nhất của ngôi nhà vang lên.
Khiêm nhanh chóng hạ thấp ánh đèn pin, hướng luồng sáng xuống nền đất nện để tránh rọi thẳng vào người đối diện.
Trong góc nhà, trên một chiếc chõng tre cũ kỹ, một bóng người đang ngồi xếp bằng. Ông Ba Khánh mặc chiếc áo cánh nâu bạc màu, một bên mắt trái được che kín bởi một miếng gạc vải xám đã chuyển sang màu cháo lòng. Con mắt phải còn lại của ông đục ngầu, lòng đen thu nhỏ lại chỉ bằng hạt đỗ, nhìn chăm chăm vào khoảng không trước mặt chứ không hướng về phía hai người mới vào.
- Cháu chào cụ. - Huyền Anh bước lên một bước, giọng cô lễ phép nhưng vẫn lộ vẻ lo lắng. - Cháu là Huyền Anh, hậu duệ nhà họ Lê. Còn đây là anh Khiêm, con trai cả của ông Tuyên họ Nguyễn Trọng. Chúng cháu tìm đến đây để xin cụ chỉ dẫn về việc xảy ra ở làng Vạn Mạch.
Ông Ba Khánh không cử động. Con mắt phải đục ngầu của ông khẽ giật nhẹ khi nghe đến cái tên Nguyễn Trọng.
- Họ Nguyễn Trọng. - Ông Ba Khánh lặp lại bằng giọng run rẩy như tiếng lá khô cọ vào nhau. - Thằng Tuyên chết rồi. Nó chết ở gò mộ tổ, đúng không?
Khiêm im lặng một lát rồi gật đầu:
- Ba cháu mất ba ngày trước. Cụ Uẩn giữ phả cũng vừa nằm xuống chiều nay trong nhà thờ họ.
Ông Ba Khánh cười khành khạch trong cổ họng. Tiếng cười của ông nghe như tiếng nước sủi bọt dưới đáy giếng cổ. Ông ta dịch chuyển thân hình gầy guộc trên chiếc chõng tre, tiếng tre nứa cọ vào nhau vang lên khô khốc giữa gian nhà vắng.
- Chết là phải. Thằng Tuyên cố chấp, nó cứ nghĩ dùng cái máy đo địa chất của nó là nhìn thấy được long mạch. Nó muốn nhổ cọc để cứu họ Nguyễn, nhưng nó có biết cái cọc đó cắm sâu vào đâu không? Nó cắm vào thịt, vào xương của những người nằm dưới kia. Nó nhổ cọc tức là muốn đánh thức những cái xác không đầu dậy đòi nợ.
Khiêm bước tới gần chiếc chõng tre hơn. Anh lấy từ trong túi áo ra trang giấy bản bị rách góc mà anh đã lấy từ bàn tay co quắp của cụ Uẩn trước khi cụ ngã xuống.
- Ba cháu để lại lời dặn trước khi mất: "Đừng nhổ chiếc cọc thứ bảy". Cháu cũng vừa thấy một chiếc cọc đồng tương tự dưới giếng cổ Bạch Huyệt. Ông Khánh, ông là người canh điểm trấn thứ ba. Ông biết chiếc cọc thứ bảy nằm ở đâu, đúng không?
Khi Khiêm vừa dứt câu hỏi, gió từ sông Bạch Huyệt đột ngột thổi mạnh qua các khe vách tre, làm chiếc la bàn gãy treo trên xà nhà va vào thân tre côm cốp.
Ông Ba Khánh đứng phắt dậy. Thân hình ông ta cao gầy, lưng gù rạp về phía trước như một cây tre bị bão quật.
Từ dưới miếng vải gạc xám che con mắt trái của ông, một dòng nước màu đen sẫm bắt đầu rỉ ra. Nó không phải là máu đỏ, cũng không phải là nước mắt thông thường. Thứ chất lỏng đó đen kịt, đặc quánh như bùn trầm tích dưới đáy sông Bạch Huyệt, chảy dọc theo gò má nhăn nheo của ông ta, thấm qua râu cằm rồi nhỏ xuống nền đất nện.
Mỗi giọt nước đen rơi xuống đất tạo ra một tiếng "xèo" nhỏ, làm bốc lên một mùi hôi nồng nặc của bùn ao tù lâu ngày không thấy ánh mặt trời.
Huyền Anh lùi lại một bước, tay cô bám chặt lấy vai Khiêm.
Khiêm vẫn đứng yên, mắt anh nhìn chằm chằm vào dòng nước đen đang chảy ra từ hốc mắt của người thầy địa lý già. Anh cảm thấy một luồng khí lạnh từ nền đất nện chạy thẳng lên lòng bàn chân, làm các khớp ngón chân anh tê dại. Tiếng thở trầm đục mà anh từng nghe dưới nền nhà thờ họ đêm qua lại vang lên, nhưng lần này nó xuất phát từ ngay dưới chân chiếc chõng tre của ông Ba Khánh.
- Cọc thứ bảy. - Ông Ba Khánh rít qua kẽ răng, hai bàn tay gầy guộc như cành củi khô bấu chặt lấy thành chõng tre đến mức các khớp xương kêu răng rắc. - Ai cho phép anh nhắc đến chiếc cọc đó? Anh muốn cả làng Vạn Mạch này chìm trong máu sông Bạch Huyệt sao?
- Cháu chỉ muốn biết sự thật. - Khiêm nói, giọng anh đanh lại. - Ba cháu đã chết, cụ Uẩn cũng chết. Nếu không tìm ra nguyên nhân, mạch phản này sẽ ăn hết những người còn lại của bảy dòng họ.
Ông Ba Khánh đưa bàn tay run rẩy lên quệt dòng nước đen trên má, nhưng thứ chất lỏng ấy vẫn tiếp tục rỉ ra không ngừng, làm ướt đẫm cả vạt áo nâu của ông. Ông ta nhìn Khiêm bằng con mắt độc nhất còn lại, ánh nhìn đầy vẻ căm giận lẫn sợ hãi:
- Sự thật? Sự thật là tổ tiên các người đã ký vào một bản khế ước bằng máu. Bảy dòng họ, bảy chiếc cọc đồng, khóa chặt con rồng đất Long Tàng để đổi lấy sự hưng thịnh cho phủ Hoàng Châu. Nhưng con rồng đó không nằm yên mãi mãi. Cứ mỗi trăm năm, nó lại cựa mình một lần. Mỗi lần nó cựa mình, nó lại đòi máu của những người canh giữ.
Huyền Anh run giọng hỏi:
- Vậy còn họ Lê của cháu? Tại sao họ Lê lại bị xóa tên khỏi phả chính? Dòng họ cháu có liên quan gì đến trận trấn yểm này?
Ông Ba Khánh quay sang phía Huyền Anh. Con mắt độc nhất của ông ta nheo lại, nhìn chằm chằm vào cô gái trẻ:
- Họ Lê các người là những người thông minh nhất, nhưng cũng là những kẻ hèn nhát nhất. Khi nhận ra mạch phản bắt đầu ăn vào người sống, tổ tiên cô đã tìm cách rút lui, xóa tên mình khỏi phả hệ để trốn tránh trách nhiệm. Nhưng lưới trời lồng lộng, long mạch đã khóa bằng máu thì làm sao trốn được? Cô nhìn cánh tay mình đi.
Huyền Anh giật mình, cô vội vàng kéo tay áo khoác lên. Trên làn da trắng của cô, những đường gân máu màu xanh xám bắt đầu nổi rõ, chạy dọc từ cổ tay lên đến khuỷu tay, tạo thành những hình thù kỳ dị giống như những nhánh rễ cây cắm sâu vào da thịt.
- Đây là cái gì? - Cô hốt hoảng hỏi, ngón tay run rẩy miết lên những đường gân nổi cộm.
- Đó là dấu vết của đất. - Ông Ba Khánh nói, giọng ông trầm xuống, đầy vẻ bi thương. - Đất đã nhận diện cô là người của dòng họ thứ tư. Cô có trốn đi đâu thì đất vẫn sẽ tìm ra cô. Khi mạch phản đã chạy đến cổ tay, nghĩa là thời hạn của cô sắp hết rồi.
Khiêm bước lên chắn giữa Huyền Anh và ông Ba Khánh. Anh không tin vào những lời giải thích mang tính thần bí này. Là một kỹ sư địa chất, anh cố tìm một cách giải thích khoa học hơn:
- Ông Khánh, những đường gân máu này là do phản ứng của cơ thể với các kim loại nặng hoặc khí độc tích tụ dưới lòng đất vùng này. Nguồn nước ở giếng cổ và sông Bạch Huyệt có nồng độ thạch tín và đồng rất cao. Việc ba cháu và cụ Uẩn chết có thể là do họ đã tiếp xúc với các cọc đồng bị oxy hóa lâu năm dưới lòng đất sâu, tạo ra các chất độc hóa học.
Ông Ba Khánh cười lạnh, tiếng cười cắt ngang lời giải thích của Khiêm:
- Chất độc? Vậy anh giải thích thế nào về việc cụ Uẩn chết đứng mà tay vẫn khóa chặt trang phả? Anh giải thích thế nào về việc con mắt trái của tôi chảy ra bùn sông mỗi khi có người chạm vào cọc đồng ở giếng cổ? Địa chất của các anh chỉ nhìn thấy đá và đất, nhưng các anh không nhìn thấy cái linh hồn của đất bị giam cầm dưới những chiếc cọc đồng đó.
Ông Ba Khánh bước xuống khỏi chõng tre. Bước chân của ông ta khập khiễng, một bên chân trái có vẻ như đã bị teo cơ, kéo lê trên nền đất nện. Ông ta đi đến góc nhà, nơi đặt một chiếc hòm gỗ nhỏ bám đầy bụi bặm.
Khiêm nhìn theo từng chuyển động của ông Ba Khánh. Trong đầu anh, những mảnh ghép về cái chết của ba bắt đầu hiện lên rõ ràng hơn. Ông Tuyên trước khi chết đã dành cả tháng trời để nghiên cứu bản đồ địa chất vùng núi Long Tàng, liên tục lẩm bẩm về việc "dòng chảy ngầm đang đảo hướng".
- Ông Khánh, nếu chiếc cọc đồng thứ hai ở giếng cổ đã bị lay động, thì điểm trấn thứ ba của ông cũng không còn an toàn nữa. - Khiêm nói, mắt anh quan sát chiếc hòm gỗ cổ.
Ông Ba Khánh dừng tay trên nắp hòm gỗ. Ông ta không mở hòm ngay mà quay đầu lại nhìn Khiêm:
- Điểm trấn thứ ba nằm ngay dưới chân chúng ta, dưới lòng sông Bạch Huyệt này. Khi tôi còn trẻ, tôi đã dùng cả con mắt trái này để đổi lấy việc giữ cho chiếc cọc thứ ba không bị dòng nước xoáy cuốn trôi. Nhưng giờ thì muộn rồi. Thằng Tuyên đã nhổ chiếc cọc ở mộ tổ, mạch khí đã thoát ra một phần. Nó đang tìm đường về với chiếc cọc thứ bảy.
- Chiếc cọc thứ bảy nằm ở đâu? - Khiêm gặng hỏi.
Ông Ba Khánh không trả lời câu hỏi của Khiêm. Ông ta dùng bàn tay khô gầy mở nắp chiếc hòm gỗ. Bên trong hòm không có vàng bạc hay sách cổ, chỉ có một chiếc hộp sắt rỉ sét và một vài mảnh gốm vỡ có khắc chữ Hán cổ.
Ông ta nhấc chiếc hộp sắt ra, đặt lên chiếc bàn gỗ nứt nẻ giữa nhà.
- Họ Lê các người năm xưa giữ chiếc la bàn này. - Ông Ba Khánh nói với Huyền Anh. - Đây là la bàn dùng để định vị bảy điểm trấn. Khi tổ tiên cô bỏ trốn, họ đã cố tình làm gãy kim la bàn để không ai có thể tìm ra vị trí của các cọc đồng nữa. Nhưng họ không biết rằng, kim la bàn tuy gãy nhưng phần linh khí của nó vẫn liên kết với các cọc đồng dưới đất.
Ông Ba Khánh mở nắp chiếc hộp sắt. Bên trong là một chiếc la bàn khác, nhỏ hơn chiếc treo trên xà nhà, nhưng cũng làm bằng đồng và mặt kính đã vỡ. Kim sắt của chiếc la bàn này cũng bị gãy làm đôi, hai nửa kim nằm im lìm trên mặt đĩa đồng rỉ sét.
Huyền Anh tiến lại gần, cô nhìn vào những chữ Hán khắc trên mặt la bàn:
- Đây là các chữ chỉ hướng theo bát quái, nhưng các cung chữ đã bị đục phá. Người ta đã dùng đục sắt để xóa đi các chữ chỉ hướng Càn, Khảm, Cấn, Chấn.
- Họ xóa đi để chưa ai trong làng nói rõ được đường đi của mạch khí. - Ông Ba Khánh giải thích, con mắt phải của ông ta chớp liên tục. - Nhưng khi mạch phản bắt đầu hoạt động, kim la bàn sẽ tự động tìm về nơi có sát khí mạnh nhất.
Ông Ba Khánh cầm chiếc la bàn gãy lên, đưa về phía Khiêm.
Khiêm chần chừ một lát rồi đón lấy nó. Chiếc la bàn lạnh ngắt, cái lạnh của kim loại ngâm dưới nước sâu lâu ngày truyền qua lòng bàn tay anh. Các cơ bắp ở cổ tay anh đột ngột co rút lại, giống hệt cảm giác khi anh chạm vào cổ tay cụ Uẩn ở nhà thờ họ.
Ngay khi Khiêm cầm chặt chiếc la bàn, hai nửa kim sắt rỉ sét vốn đang nằm im lìm bỗng nhiên giật mạnh. Chúng không quay vòng tròn như la bàn thông thường khi gặp từ trường của các thiết bị điện tử, mà giật từng nhịp, đều đặn và mạnh mẽ, trùng khớp với tiếng nước sông Bạch Huyệt đang vỗ vào bờ đất lở ngoài kia.
Hai nửa kim gãy từ từ xoay hướng, chỉ thẳng về phía dãy núi Long Tàng đang chìm trong sương mù phía sau ngôi nhà.
Khiêm nhíu mày, anh cố tình xoay người đi một góc chín mươi độ, nhưng hai nửa kim sắt vẫn giữ nguyên hướng chỉ về phía núi Long Tàng, không hề thay đổi.
- Có một nguồn từ trường cực mạnh ở hướng đó. - Khiêm cố gắng giải thích bằng chuyên môn của mình. - Dưới chân núi Long Tàng chắc chắn có một mỏ quặng sắt hoặc một cấu trúc địa chất chứa nhiều kim loại nặng.
Ông Ba Khánh bước lại gần Khiêm. Khoảng cách giữa hai người gần đến mức Khiêm có thể nhìn thấy rõ những sợi gân máu màu đen đang bò lan trên gò má của người thầy địa lý già, xuất phát từ dưới miếng gạc che con mắt trái. Mùi bùn sông và mùi xác chết từ hốc mắt mù của ông ta xộc thẳng vào mũi Khiêm.
- Kim la bàn này không chỉ hướng Bắc. - Ông Ba Khánh thì thầm, giọng ông ta trầm đục như tiếng đất lở dưới lòng sông. - Nó chỉ nơi có người bị chôn sống dưới chân núi Long Tàng để làm vật tế cho long mạch. Và chiếc cọc thứ bảy... chính là nơi người cuối cùng đang đợi anh đến thế mạng.