Trấn Yểm Long Mạch - Chương 8: Lễ gọi mạch lúc canh ba
Sương muối phủ một lớp mỏng như bột đá trên những đầu đao cong vút của nhà thờ họ Nguyễn Trọng. Gió từ sông Bạch Huyệt thổi thốc qua những kẽ lá cây đại…
Nội dung chương
Sương muối phủ một lớp mỏng như bột đá trên những đầu đao cong vút của nhà thờ họ Nguyễn Trọng. Gió từ sông Bạch Huyệt thổi thốc qua những kẽ lá cây đại cổ thụ bên hông nnước dữi đường, mang theo cái lạnh buốt của nước nguồn pha lẫn mùi bùn non ngai ngái. Đồng hồ trên tay Nguyễn Trọng Khiêm chỉ đúng hai giờ bốn mươi lăm phút sáng. Canh ba sắp đến.
Giữa sân gạch Bát Tràng đã lên rêu xám, bảy chiếc chén đất nung thô mộc được xếp thành hình chòm sao Bắc Đấu. Mỗi chiếc chén chứa đầy nước giếng đá cổ, thứ nước mà Khiêm và Lê Huyền Anh phải tự tay múc từ ba nguồn nước khác nhau trong làng từ lúc nửa đêm. Sợi chỉ đỏ mảnh nối từ vành chiếc chén này sang vành chiếc chén khác, quấn ba vòng quanh một chiếc cọc tre cắm sâu xuống khe gạch ở tâm sân. Trên mỗi chiếc chén, một lá bùa đất vẽ bằng chu sa đỏ sẫm đặt nằm ngang, mép giấy bản hơi cong lên vì hơi ẩm của sương đêm.
Ông Nguyễn Trọng Bình quỳ sụp dưới thềm đá, hai tay run rẩy châm ba cây nến sáp ong vàng đục. Lửa nến lập lòe trước gió, hắt ánh sáng vàng vọt lên gương mặt hốc hác, xám ngoét của người đàn ông ngoài năm mươi tuổi. Ông Bình liên tục lẩm nhẩm những câu khấn vái tổ tiên bằng giọng khản đặc, thỉnh thoảng lại ho khan vài tiếng khô khốc.
Khiêm đứng tựa lưng vào cột hiên bằng gỗ lim, hai tay đút sâu vào túi áo khoác dã ngoại. Cổ tay phải của anh vẫn còn đau nhức, vết lằn đỏ do sợi dây thép ở giếng Bạch Huyệt cứa vào ban chiều đã được băng bó sơ sài bằng một miếng gạc trắng. Anh nhìn những giọt sương đọng trên mép lá bùa đất, giọng lạnh lùng:
- Chú Bình, việc này không có trong bất kỳ tài liệu địa chất hay khảo sát khảo cổ nào cháu từng đọc. Việc dùng máu người sống để thử mạch đất chỉ làm tăng nguy cơ nhiễm trùng và gây hoang mang cho người trong họ mà thôi.
Ông Bình không quay đầu lại, tay ông vẫn giữ chặt đế nến sáp ong để ngăn nó bị gió thổi tắt:
- Cháu học ở thành phố, cháu tin vào máy móc của cháu. Nhưng cha cháu, ông cả Tuyên, trước khi chết cũng từng quỳ ở đúng chỗ này để làm lễ gọi mạch. Ông ấy đã nhìn thấy thứ dưới đất. Nếu chúng ta không kiểm tra xem chiếc cọc thứ hai ở giếng cổ bị động thế nào, cả họ Nguyễn này sẽ chết đứng giống như cụ Uẩn ở nhà thờ tổ.
Huyền Anh đứng bên cạnh Khiêm, cô đang lật giở những trang chép tay từ cuốn gia phả cũ của dòng họ Lê. Ánh đèn pin từ điện thoại của cô rọi lên những dòng chữ Hán nguệch ngoạc. Cô ngước mắt nhìn bảy chén nước giếng trên sân, khẽ nói:
- Trong sách cổ của nhà tôi có chép về "Thất Tinh Trấn Mạch Trận". Bảy chén nước này đại diện cho bảy huyệt nhãn của vùng trung du Long Tàng. Nước giếng đá cổ vốn là mạch nước sâu nhất, nhạy cảm nhất với sự thay đổi của địa tầng. Nếu mạch đất bị động, nước trong chén sẽ tự sinh biến đổi mà không cần tác động từ bên ngoài.
Khiêm bước xuống sân gạch, gót giày da của anh nện lên nền đất ẩm phát ra những tiếng kêu trầm đục. Anh cúi người quan sát chén nước thứ tư, chiếc chén nằm ở vị trí trung tâm, đại diện cho thiên cơ huyệt. Nước trong chén phẳng lặng như gương, phản chiếu bầu trời đêm đen đặc không một ngôi sao.
- Chú Bình, đến giờ rồi. - Khiêm nói, giọng anh không có chút dao động.
Ông Bình nín lại rồi nói, ông đứng dậy, bước đến bên chiếc chén trung tâm. Ông rút từ trong túi áo ra một chiếc kim châm cứu bằng bạc dài khoảng ba thốn. Ánh lửa nến quét qua mũi kim nhọn hoắt. Ông Bình không ngần ngại đâm mạnh vào đầu ngón tay trỏ của mình. Một giọt máu đỏ tươi lập tức trào ra, đọng lại thành hạt tròn trên đầu ngón tay ông.
Ông Bình đưa ngón tay lên trên mặt chén nước thứ tư, khẽ nhắm mắt lại rồi lẩm nhẩm:
- Tổ tiên chứng giám, con cháu họ Nguyễn Trọng xin dâng máu đầu tay để gọi mạch đất Long Tàng. Mạch yên thì máu tan, mạch động thì máu tụ. Xin tổ tiên chỉ đường dẫn lối.
Giọt máu từ đầu ngón tay ông Bình rơi xuống, tạo ra một tiếng "tách" rất khẽ giữa không gian tĩnh mịch của đêm tối.
Khiêm chăm chú nhìn vào lòng chén. Theo lý thuyết vật lý về sự khuếch tán chất lỏng, giọt máu khi rơi vào nước sẽ nhanh chóng hòa tan, tạo thành những sợi màu đỏ nhạt lan rộng rồi biến mất. Nhưng hiện tượng xảy ra trước mắt anh lại nằm ngoài mọi quy luật tự nhiên đó.
Giọt máu vừa chạm vào mặt nước giếng đá liền đông cứng lại thành một hạt tròn màu đỏ sẫm, giống như một viên hồng ngọc nhỏ. Nó không hề tan ra, mà từ từ chìm xuống đáy chén đất nung. Khi chạm vào đáy chén, hạt máu bỗng chốc biến đổi hình dạng, nó dẹt ra rồi bám chặt lấy lòng gốm thô, tạo thành một hình thù kỳ dị giống như một chữ Hán bị viết lỗi nét.
Cùng lúc đó, sáu chén nước còn lại trên sân gạch bắt đầu phát ra những tiếng động lạ.
Những bong bóng khí nhỏ li ti sủi lên từ đáy các chén đất nung, mỗi lúc một dày đặc. Chúng nổi lên mặt nước rồi vỡ ra, tạo thành những tiếng lép bép liên tục như tiếng nước sôi. Lớp váng mỏng màu đỏ gạch trên mặt nước giếng, thứ váng mà Khiêm nghi ngờ là oxit sắt từ các mỏ quặng ngầm, bắt đầu tự động xoáy tròn. Chúng xoay theo chiều ngược kim đồng hồ, tạo thành những vòng xoáy đồng tâm thu nhỏ dần về phía đáy chén.
- Mạch đất không yên. - Huyền Anh thốt lên, cô lùi lại một bước, tay nắm chặt cuốn sổ da. - Nước giếng chùa và giếng đình đều là nước tĩnh, nhưng bây giờ chúng đang sôi lên. Trận trấn yểm dưới lòng đất đang bị kích động dữ dội.
Khiêm không trả lời. Anh thò tay vào túi áo khoác, lấy ra chiếc la bàn gãy mà ông Ba Khánh đã đưa cho anh ở ngôi nhà ven sông Bạch Huyệt. Chiếc la bàn bằng đồng rỉ sét nằm gọn trong lòng bàn tay anh, lạnh ngắt như một cục đá buốt.
Ngay khi Khiêm bước đến gần chiếc cọc tre ở tâm sân, hai nửa kim sắt gãy nằm trên mặt đĩa đồng bỗng nhiên giật mạnh. Chúng không nằm yên nữa mà dựng ngược lên một góc ba mươi độ, đầu kim nhọn chỉ thẳng xuống nền gạch dưới chân Khiêm.
Một cảm giác buốt lạnh đột ngột truyền từ lòng bàn tay Khiêm chạy dọc theo cánh tay lên đến bả vai. Các cơ bắp ở cổ tay anh co rút lại, vết thương do dây thép cứa vào ban chiều bắt đầu rỉ máu qua lớp gạc trắng. Cơn đau nhói lên khiến Khiêm phải nghiến chặt răng để không phát ra tiếng rên.
Hai nửa kim sắt gãy bắt đầu dao động. Chúng xoay chuyển theo một nhịp điệu đều đặn: ba nhịp nhanh, một nhịp chậm. Nhịp điệu này trùng khớp hoàn toàn với tiếng thở trầm đục, đứt quãng mà Khiêm vẫn thường nghe thấy dưới nền nhà tổ từ khi còn là một đứa trẻ. Đó không phải là tiếng gió rít qua khe cửa, cũng chẳng giống tiếng chuột chạy trong hang đất. Đó là nhịp đập của một vật lạ khổng lồ, đang bị giam giữ sâu dưới lớp địa tầng của núi Long Tàng.
- Nhìn kìa! - Huyền Anh chỉ tay vào chiếc la bàn trong tay Khiêm.
Những nét chữ Hán chỉ hướng Càn, Khảm, Cấn, Chấn vốn đã bị đục phá bằng đục sắt từ hàng trăm năm trước, nay bỗng nhiên hiện rõ lên dưới ánh sáng của điện thoại. Những vết đục rỉ sét màu nâu đỏ rõ ràng đang đùn lên những hạt bụi kim loại nhỏ. Hai nửa kim gãy liên tục gõ vào mặt đĩa đồng, tạo ra những tiếng "tạch, tạch, tạch" khô khốc.
Khiêm cố gắng giữ vững cổ tay đang run lên vì lạnh:
- Có một nguồn từ trường cực mạnh đang di chuyển dưới lòng đất. Nó không cố định ở một điểm. Nó đang chạy dọc theo đường nối giữa giếng cổ và gò mộ tổ họ Nguyễn. Chú Bình, chú có nghe thấy gì không?
Ông Bình vẫn đang quỳ bên chén nước trung tâm, gương mặt ông lúc này đã cắt không còn giọt máu. Ông nhìn chằm chằm vào hạt máu đông dưới đáy chén, hai tai ông động đậy liên tục như đang cố gắng thu nhận một tần số âm thanh nào đó mà người thường không nghe thấy.
- Tiếng nước... - Ông Bình thì thầm, giọng ông run rẩy. - Tiếng nước sông Bạch Huyệt đang chảy dưới chân chúng ta. Không, đó không phải nước sông. Đó là tiếng xích sắt. Tiếng xích sắt kéo lê trên đá hộc.
Khiêm bước lại gần chú mình, anh đặt tay lên vai ông Bình:
- Chú Bình, tỉnh lại đi. Dưới đất chỉ có các tầng đá vôi và mạch nước ngầm. Tiếng động chú nghe thấy là do cấu trúc rỗng của các hang động karst dưới chân núi Long Tàng khi nước sông dâng cao tạo ra áp suất không khí mà thôi. Chú đừng tự huyễn hoặc mình.
Ông Bình đột ngột gạt tay Khiêm ra. Ông đứng phắt dậy, đôi mắt trợn trừng nhìn về phía bóng tối bao trùm gò mộ tổ nằm ở rìa làng, cách nhà thờ họ khoảng hai trăm mét.
- Cháu thì biết cái gì? - Ông Bình hét lên, giọng ông lạc đi vì sợ hãi lẫn giận dữ. - Cha cháu chết vì cố tình nhổ cọc đồng ở mộ tổ để giải thoát cho cái mạch này. Ông ấy nghĩ ông ấy làm đúng. Nhưng ông ấy đã hại chết cụ Uẩn, và giờ đến lượt chúng ta. Lời thề của bảy dòng họ không thể bị phá vỡ. Mỗi khi một chiếc cọc bị lay động, đất sẽ đòi một mạng người để bù đắp vào khoảng trống của khí mạch.
Huyền Anh tiến lại gần ông Bình, cô cố gắng giữ giọng bình tĩnh:
- Chú Bình, cháu đã đọc gia phả họ Lê. Dòng họ của cháu từng giữ chiếc la bàn này, và tổ tiên cháu đã bỏ trốn vì họ nhận ra sự tàn khốc của trận trấn yểm. Tại sao họ Nguyễn các chú vẫn tiếp tục giữ bí mật này? Chiếc cọc thứ bảy thực chất là cái gì? Tại sao trên bia đá cổ ở miếu quốc sư lại bị đục mất tên của dòng họ thứ bảy?
Ông Bình nhìn Huyền Anh, nụ cười trên gương mặt ông méo mó, đầy vẻ cay đắng:
- Họ Lê các người khôn ngoan nên đã chạy trốn từ hai trăm năm trước. Các người mang theo bí mật về cách khóa mạch rồi để lại hậu quả cho sáu dòng họ còn lại gánh chịu. Họ Nguyễn nhà ta là người đề xuất... không, họ Nguyễn nhà ta là người phải đứng ra chịu trách nhiệm canh giữ điểm trấn đầu tiên. Chiếc cọc thứ bảy không phải để khóa rồng. Nó khóa...
Ông Bình chưa kịp nói hết câu thì một tiếng chuông đình Vạn Mạch đột ngột vang lên từ phía bờ sông.
"Boong... Boong... Boong..."
Ba tiếng chuông trầm, nặng nề xé toạc không gian u tịch của canh ba. Tiếng chuông lan qua lớp sương mù dày đặc, va đập vào các vách đá của núi Long Tàng rồi dội ngược lại nhà thờ họ, tạo thành những âm thanh ong ong nhức óc.
Ngay khi tiếng chuông thứ ba dứt hẳn, bảy chén nước giếng trên sân gạch đồng loạt bắn tung tóe. Nước trong chén phun cao lên khoảng ba mươi centimet như những vòi rồng nhỏ rồi đổ ập xuống nền gạch, dập tắt hoàn toàn ba cây nến sáp ong của ông Bình.
Sân nhà thờ họ chìm vào bóng tối dày đặc. Chỉ còn ánh sáng yếu ớt từ màn hình điện thoại của Huyền Anh hắt ra, soi rõ những vệt nước loang lổ trên nền gạch Bát Tràng. Những sợi chỉ đỏ nối giữa các chén nước đã bị đứt lìa, nằm rũ rượi như những con giun đất chết sau cơn mưa.
Khiêm cúi xuống nhìn chiếc la bàn trên tay. Hai nửa kim sắt gãy đã ngừng dao động. Chúng nằm im lìm, nhưng cả hai nửa kim đều đã chuyển sang màu đen xỉn của sắt bị nung trong lửa, và mặt kính vỡ của la bàn lúc này đã phủ một lớp sương mờ màu đỏ như máu.
- Trận gọi mạch thất bại rồi. - Huyền Anh nói, giọng cô run lên vì lạnh. - Mạch khí không chấp nhận máu của chú Bình. Nó đang đòi hỏi một thứ khác lớn hơn.
Khiêm không nói gì, anh dùng ngón tay lau lớp sương đỏ trên mặt kính la bàn. Dưới lớp sương đó, anh nhìn thấy một vết nứt mới chạy dọc theo thân đĩa đồng, chia chiếc la bàn làm hai nửa hoàn toàn đối xứng.
Đất dưới chân họ bỗng nhiên rung nhẹ. Đó không phải là một trận động đất mạnh mẽ, mà là một sự chuyển dịch âm thầm, chậm rãi của các tầng địa chất phía dưới. Tiếng rít ghê rợn phát ra từ các kẽ gạch sân nhà thờ họ, giống như tiếng không khí bị nén chặt dưới áp suất lớn đang cố thoát ra ngoài.
Ông Bình đứng chết lặng giữa sân gạch ướt sũng. Hai tai ông hướng về phía gò mộ tổ, đôi mắt ông không còn tiêu cự, rõ ràng ông đang nhìn xuyên qua bóng tối để thấy một vật lạ đang vẫy gọi mình.
- Chú Bình? - Khiêm bước lại gần, lay mạnh vai chú mình.
Ông Bình không phản ứng. Ông lẩm nhẩm bằng một giọng điệu đều đều, vô hồn, như đang lặp lại lời của một người khác:
- Bình... Nguyễn Trọng Bình... Đến giờ rồi... Mạch đất cần người lấp hố...
- Chú nói cái gì thế? Ai gọi chú? - Khiêm gặng hỏi, anh cố gắng kéo chú mình về phía hiên nhà thờ họ.
Nhưng ông Bình bỗng nhiên có một sức mạnh đáng kinh ngạc. Ông gạt tay Khiêm ra một cách dễ dàng, khiến Khiêm loạng choạng suýt ngã xuống nền gạch trơn trượt.
Ông Bình không nhìn Khiêm, cũng không nhìn Huyền Anh. Ông bước đi những bước dài, vững chãi và vô thức về phía cổng ngách của nhà thờ họ, hướng thẳng ra con đường mòn dẫn đến gò mộ tổ họ Nguyễn trong đêm tối mù sương.
- Chú Bình! Quay lại ngay! - Khiêm hét lên, anh định chạy đuổi theo nhưng Huyền Anh đã giữ chặt lấy tay anh.
- Khiêm, nhìn dưới chân chú ấy kìa! - Huyền Anh kêu lên, giọng cô lộ rõ vẻ kinh hoàng.
Dưới ánh sáng đèn pin điện thoại, Khiêm nhìn thấy mỗi bước chân của ông Bình đi qua đều để lại một dấu chân sũng nước màu đỏ sẫm trên nền đất cát của con đường mòn. Nước đỏ rỉ ra từ chính lòng bàn chân của ông, thấm qua lớp đế giày vải mỏng, tạo thành những vệt dài như thể ông đang kéo lê một xác chết chảy máu đi sau mình.
Tiếng chuông đình Vạn Mạch lại vang lên một lần nữa, lần này âm thanh của nó méo mó và dồn dập hơn, như một lời cảnh báo về một biến cố kinh hoàng sắp sửa ập xuống dòng họ Nguyễn Trọng.