Trấn Yểm Tô Lịch - Chương 1: Đêm Mưa Phùn Ven Sông Tô Lịch

Mưa phùn tháng Chạp dầm dề phủ lên dải đất ven bờ sông Tô Lịch một lớp sương xám xịt, quánh đặc mùi lưu huỳnh và bùn hữu cơ thối rữa. Gió bấc rít qua…

Nội dung chương

Mưa phùn tháng Chạp dầm dề phủ lên dải đất ven bờ sông Tô Lịch một lớp sương xám xịt, quánh đặc mùi lưu huỳnh và bùn hữu cơ thối rữa.

Gió bấc rít qua từng khe giàn giáo của đại công trường tổ hợp văn phòng cao ốc. Từng đợt gió tạt hơi lạnh ngấm sâu qua lớp áo phản quang dày cộp, biến mặt đất xung quanh thành một bãi lầy nhão nhoét. Nguyễn Minh Tuấn đứng cạnh chân máy toàn đạc điện tử Leica, kéo cao cổ áo khoác, mắt nheo lại nhìn qua ống ngắm quang học. Lưới chỉ chữ thập màu đen căn chuẩn xác vào tim gương phản xạ do gã phụ tá cắm cách đó bốn mươi mét dưới lòng hố. Tiếng máy nổ của hệ thống bơm hút cát rì rầm chạy dọc thân kè bê tông, tạo nên một chuỗi âm thanh nặng nề, đều đặn ép thẳng vào màng nhĩ suốt mười tiếng ca đêm.

Tuấn bấm nút đo trên bàn phím máy Leica. Màn hình tinh thể lỏng màu xanh lục nhấp nháy vài giây, nhảy ra thông số cao độ: âm mười bốn mét tám mươi lăm.

Còn mười lăm phân nữa là chạm tới cao độ thiết kế của đáy đài móng cụm tháp chính. Ban chỉ huy công trường đã thúc ép tiến độ từng giờ nhằm đổ lớp bê tông lót trước khi cả công trường nghỉ Tết Nguyên Đán. Tiền thưởng tiến độ của tổ trắc địa phụ thuộc cả vào việc bàn giao mặt bằng đúng bốn giờ sáng nay.

"Hạ gầu xuống góc vách tường vây số bốn thêm một chút nữa đi bác Sáu!" Tuấn cầm bộ đàm gắn bên vai áo, nói to vào micro qua tiếng gió ù ù. "Bên đó còn dư một gờ đất sét cao hơn mốc chuẩn hai mươi phân. Dọn nốt chỗ đấy rồi cho máy bơm hút cạn bùn lỏng là bọn em đóng cọc định vị được rồi."

Ở phía đối diện lòng hố, chiếc máy xúc gầu nghịch Komatsu ba trăm mã lực màu vàng xỉn đang gầm gừ nhả khói đen lên nền trời đêm mù mịt. Bánh xích sắt cắm sâu nửa mét vào bùn non, nghiến ken két trên lớp đá dăm lót tạm. Bác Sáu, người đàn ông ngoài năm mươi tuổi có nước da nâu sạm vì dãi dầu nắng gió các công trình thủy lợi khắp miền Bắc, khẽ thò đầu ra ngoài cửa kính buồng lái. Bác nhổ toẹt bãi nước chè đặc xuống vũng nước đục ngầu dưới gầm xích, rồi cầm lấy bộ đàm nội bộ.

"Cậu Tuấn coi lại tim mốc đi," giọng bác Sáu khàn đặc, lẫn trong tiếng rít của van xả thủy lực. "Từ nãy đến giờ gầu của tôi cứ cào trúng mạch nước ngầm đùn từ dưới lên. Bùn ở góc đông bắc này tanh khác thường. Mùi tanh lợm giọng giống hệt máu tươi pha bùn thối, không giống đất sét sông thường đâu."

Tuấn nhếch mép cười, đưa tay quệt những giọt nước mưa đọng trên chóp mũi:

"Bác lại khéo tưởng tượng. Đoạn sông Tô Lịch này hứng nước thải sinh hoạt cả mấy chục năm nay, tầng trầm tích đáy sông nào chả tanh nồng nặc lưu huỳnh. Toàn khí H2S bốc lên từ rác hữu cơ phân hủy chứ lấy đâu ra máu. Bác xúc dứt khoát hộ em ba gầu nữa, xe ben đang chờ trên dốc kìa."

Bác Sáu không đáp lại ngay. Qua ánh đèn pha công suất một nghìn oát gắn trên đỉnh giàn giáo rọi thẳng xuống lòng hố, Tuấn nhìn thấy bóng người lái máy xúc già với tay lấy bao thuốc lá Thăng Long bao mềm, châm một que diêm. Ánh lửa đỏ le lói bùng lên trong buồng lái tối tăm, chiếu rõ gò má hóp và đôi mắt trũng sâu lo âu. Trước bảng điều khiển của chiếc xe đào đất bạc màu, bác Sáu luôn cắm một chân hương con bằng đồng hun, bên trên cài mấy nhánh chân hương đỏ quạch đã tàn lụi từ lúc nào. Người làm nghề đào đất lâu năm ở đất Hà Thành luôn có những kiêng dè riêng khi đụng chạm tới tầng đất sâu của những con sông cổ.

Tuấn thì khác. Tốt nghiệp khoa Trắc địa Đại học Mỏ Địa chất loại ưu, ba mươi hai tuổi, anh chỉ tin vào những tọa độ hiển thị rành mạch trên màn hình máy đo và các mặt cắt địa chất đã được khoan khảo sát đóng dấu đỏ kiểm định. Đối với anh, mọi chuyện kỳ bí đồn thổi về sông Tô Lịch - từ những câu chuyện trấn yểm ngàn năm trước cho đến lời đồn ma ám khi nạo vét lòng sông hồi đầu thập niên hai nghìn - đều là sản phẩm thêu dệt của những kẻ rảnh rỗi hoặc sự biện minh cho việc sạt trượt địa chất do tính toán sai hệ số an toàn cơ học đất.

Tiếng động cơ gầm lên xé rách không gian ẩm ướt. Cần cẩu thủy lực vươn dài, chiếc gầu thép với năm móng vuốt nhọn hoắt hạ sâu xuống lớp bùn đen quánh dưới chân vách tường vây. Đất sét dẻo đặc quánh phát ra tiếng "nhóp nhép" nhớp nhúa khi răng cào cắm ngập vào lòng đất.

Chiếc gầu kéo ngược lên. Khối bùn đen nặng cả tấn bị bốc bổng khỏi mặt đất, để lộ ra một hốc trũng sâu ngập nước nhờn nhợt. Nước ngầm lập tức từ thành hố phun ra xối xả, mang theo từng mảng bọt xám ngoét nổi bập bềnh.

Tuấn nhìn đồng hồ đeo tay: ba giờ kém hai mươi phút sáng.

"Được một gầu rồi. Làm nốt hai gầu nữa rồi cho máy xúc lui về bãi nghỉ, bác Sáu!" Tuấn gọi qua bộ đàm.

Chiếc cần thép lại vung ra. Lần này, bác Sáu xoay cabin, chỉnh góc gầu cắm sâu hơn vào vị trí mép vách tiếp giáp với tim hố móng. Năm chiếc răng thép xới sâu vào lòng tầng đất sét cứng nằm dưới lớp bùn lỏng mười lăm mét.

Bỗng nhiên, một tiếng va chạm đanh gọn vang lên:

"KENG!"

Âm thanh kim loại chạm nhau sắc lẹm xé toang tiếng gầm rú của máy xúc. Tiếng kêu ấy vang vọng giữa bốn bức tường vây bê tông cốt thép, chói buốt đến mức Tuấn bất giác rụt cổ lại, màng nhĩ đau nhói.

Toàn bộ thân xe xúc nặng ba mươi tấn nảy giật cục trên lớp bùn lầy. Cần cẩu thủy lực cong vút lên một biên độ đáng sợ, các ống dẫn dầu áp lực cao dưới thân cần giật bắn, phát ra tiếng rít xì xì chói tai của van an toàn tự động đóng ngắt. Động cơ diesel khựng lại trong tích tắc, nhả ra một luồng khói đen đặc kịt bao trùm lấy nóc cabin.

Bác Sáu vội vã đạp bàn đạp ngắt côn, tay kéo phanh hãm thủy lực về vị trí chết. Động cơ xe lịm dần rồi tắt phụt, trả lại cho đáy hố móng một không gian im lìm đáng sợ.

Chỉ còn tiếng gió bấc rít từng hồi qua giàn giáo và tiếng nước ngầm rỉ ra từ kẽ đất.

"Chết máy rồi!" Giọng bác Sáu phát ra từ buồng lái run lẩy bẩy, không qua bộ đàm mà gào thẳng vào màn mưa phùn. "Gặp phải cái gì cứng lắm! Không nhấc gầu lên được!"

Tuấn nhíu mày, tắt máy toàn đạc rồi khóa chốt chân ba càng. Anh với lấy chiếc đèn pin cứu hộ siêu sáng treo ở thắt lưng, bước từng bước thận trọng trên những tấm ván gỗ ghép tạm phủ đầy bùn trơn trượt để đi xuống đáy hố. Mỗi bước chân của Tuấn dẫm xuống lớp đất bùn đều phát ra những âm thanh nhớp nháp. Không khí ở đáy hố móng ở độ sâu mười lăm mét lạnh ngắt, đặc quánh hơi ẩm bốc lên từ lòng đất nghìn năm chưa từng thấy ánh mặt trời.

Mùi tanh nồng lập tức xộc thẳng vào cánh mũi anh. Mùi tanh này nồng hơn hẳn mùi bùn rác công nghiệp thông thường, mang theo vị rỉ sét kim loại nồng nặc và cảm giác ngai ngái làm cổ họng ngứa rát.

"Chắc chạm phải cọc cừ thép larsen cũ của công trình bên cạnh bỏ sót lại rồi," Tuấn vừa bước đến gần máy xúc vừa nói lớn để trấn an người thợ già. "Khu này ngày xưa nhiều xưởng cơ khí ven sông đóng cọc gia cố kè, chuyện sót cọc sắt dưới lòng đất sâu mười mấy mét xảy ra suốt. Bác đừng cuống."

Bác Sáu đã trèo ra khỏi cabin, hai tay bám chặt vào lan can sắt bước xuống bậc thang xe xích. Đôi ủng cao su của bác lún sâu vào lớp bùn ngập tới bắp chân. Khuôn mặt bác tái mét dưới ánh đèn pha vàng vọt, ngón tay run rẩy chỉ thẳng vào chiếc gầu thép đang ghim chặt dưới hố nước đen ngòm:

"Không có cọc cừ nào ở cái độ sâu này cả, cậu Tuấn! Tôi lái máy xúc hơn ba mươi năm, từ thời nạo vét sông Hồng đến khi làm đê sông Đáy. Chạm phải đá tảng, gầu trượt đi. Chạm phải cọc cừ hay dầm thép, cần thủy lực sẽ nảy ngược và có độ lún đàn hồi của kim loại. Nhưng cái này... cái này nó đứng im như thể cắm chặt vào xương sống của lòng đất. Lúc răng gầu chạm vào nó, cả cabin xe tôi rung lên bần bật, tay lái tê dại như vừa chạm vào điện cao thế!"

Tuấn soi đèn pin công suất lớn xuống điểm tiếp xúc giữa răng gầu máy xúc và đáy bùn.

Mặt nước hố đào đang sủi bọt ùng ục từng đám lớn. Lớp bọt khí không tan biến ngay mà kết dính thành từng mảng váng màu nâu đỏ lấp lánh như dầu máy loang lổ. Một chiếc răng thép ngoài cùng bên phải của gầu máy xúc đã bị mẻ một miếng to bằng bàn tay, vết nứt trên thép tôi cao tần lộ ra sáng loáng, cong vênh hẳn sang một bên.

Thép tôi chuyên dùng cho răng máy xúc đào đá mà bị bẻ cong bởi một vật thể vùi sâu dưới bùn lỏng.

Tuấn cảm thấy một sự tò mò trỗi dậy mãnh liệt. Tính hiếu kỳ của người làm kỹ thuật thôi thúc anh bước tới sát mép hố sụt. Anh ngồi thụp xuống một thanh dầm chữ I bằng sắt đặt ngang làm lối đi tạm, rọi luồng sáng hội tụ của đèn pin xuyên qua làn nước đục ngầu.

Dưới lớp nước bùn đen đang cuộn xoáy, một góc của vật thể kim loại dần lộ diện.

Đó không phải là một cây cọc cừ thép hình chữ U hay dầm thép hình chữ I công nghiệp. Phần kim loại nhô lên khỏi tầng sét có hình thoi bốn cạnh sắc gọn, kích thước to chừng bắp tay người lớn, bề mặt phủ một lớp rỉ sét màu đen nhánh kỳ lạ thay vì màu nâu đỏ của sắt oxy hóa thông thường. Lớp rỉ sét ấy đen tuyền, bóng loáng, nhẵn thín dưới ánh đèn pin cực mạnh rọi rọi thẳng vào.

Kỳ lạ hơn cả, ngay tại điểm va chạm nảy lửa khiến răng thép gầu xúc mẻ toác, bề mặt của khối kim loại hình thoi kia không hề xuất hiện lấy một vết xước. Nó vẫn sừng sững ghim thẳng đứng vào tâm đất, cắm vuông góc với mặt phẳng nằm ngang, bất động tuyệt đối giữa những dòng bùn non đang không ngừng xói lở xung quanh.

"Cái gì thế này..." Tuấn lẩm bẩm, hơi thở phả ra thành từng làn khói mỏng trong đêm đông lạnh buốt.

Bác Sáu đứng lùi lại phía sau ba bước, hai bàn tay chắp chặt trước ngực, mắt nhìn trừng trừng vào vật thể đen nhánh nhô lên từ đáy bùn. Môi người thợ già mấp máy liên tục những câu cầu khẩn không rõ tiếng, cả người run lên bần bật theo từng cơn gió luồn qua đáy hố.

"Kéo gầu lên đi cậu Tuấn," giọng bác Sáu thì thào, lạc hẳn đi so với vẻ cứng cỏi thường ngày. "Đừng động vào nó nữa. Lạy trời lạy đất, chúng ta đào trúng long mạch rồi... hoặc là đụng phải đồ yểm của người xưa rồi. Đất ven dòng sông này, đoạn uốn khúc quanh co này ngày xưa là nơi tướng giặc trấn yểm đuôi rồng. Tôi đã bảo với chỉ huy từ lúc khảo sát rồi mà không ai chịu nghe!"

"Lại chuyện ma quỷ trấn yểm," Tuấn nhíu mày, bực bội cắt ngang lời bác Sáu. Anh rút chiếc thước dây kim loại bọc nhựa từ thắt lưng ra, gạt nhẹ lớp bùn non bám quanh mép kim loại nhô lên. "Đã là thế kỷ hai mốt rồi, bác đừng hở ra một tí là long mạch với trấn yểm. Đây rõ ràng là một kết cấu kim loại đúc cổ. Có thể là mũi neo của tàu thuyền thời phong kiến, hoặc cọc móng của một phế tích bến sông cổ bị vùi lấp qua ngàn năm phù sa bồi đắp."

"Cậu có thấy cái mũi neo nào cắm thẳng đứng từ dưới đáy đất cắm lên không?" Bác Sáu trợn tròn mắt, giọng run rẩy đầy hoảng loạn. "Cậu nhìn xem! Nước xung quanh nó đang đổi màu kia kìa!"

Tuấn im bặt. Lời bác Sáu vừa dứt, luồng sáng đèn pin của anh cũng vừa vặn bắt trúng một hiện tượng kỳ quặc đang diễn ra dưới chân mình.

Mạch nước ngầm rỉ ra từ kẽ đất xung quanh khối kim loại hình thoi không còn mang màu vàng đục của đất phù sa nữa. Nước bắt đầu sẫm lại, đen đặc quánh như mực Tàu, bốc lên một làn khói lạnh mỏng tang lượn lờ trên mặt nước sát đáy hố. Và ngay trên bề mặt đen kịt của khối kim loại nhô lên khỏi mặt bùn, có những đường chỉ màu đỏ tươi như máu quấn chặt lấy thân cọc, ẩn hiện lấp lánh dưới làn nước đen ngòm.

Chiếc đồng hồ điện tử gắn trên cổ tay Tuấn bỗng phát ra tiếng "tít tít" dồn dập.

Các con số hiển thị giờ giấc trên màn hình số nhảy loạn xạ. Con số 02:45 đột nhiên biến mất, nhường chỗ cho những vạch ngang nhấp nháy điên cuồng, rồi dừng sững lại ở một con số cố định duy nhất: 03:00.

Ngay bên cạnh, chiếc máy toàn đạc Leica đặt trên mấu đất cứng bỗng nhiên phát ra tiếng còi báo lỗi cảm biến nghiêng. Con lắc điện tử bên trong thân máy xoay tròn, không thể tìm thấy phương thẳng đứng của trọng trường Trái Đất.

Một tiếng rền trầm đục vang lên từ sâu thẳm dưới lòng đất mười lăm mét, rung chuyển lớp bùn non dưới chân hai người.

Tuấn đứng chết trân bên bờ mép hố, bàn tay cầm đèn pin bỗng chốc cứng đờ. Trong sự tĩnh lặng rợn người của đêm mưa phùn ven sông Tô Lịch, từ bên dưới đáy hố bùn sâu thẳm, âm thanh ù ù phát ra từ khối kim loại đen nhánh kia truyền thẳng qua lớp ủng cao su, dội ngược vào xương tủy anh một cảm giác lạnh buốt đến tận tim gan.

Chương khác

Xem thêm