Tử Mẫu Song Sát - Chương 1: Chiếc Giày Dưới Gối

Chuyến xe khách cuối cùng thả tôi xuống đầu cầu đá trấn Thanh Khê khi trời vừa sẩm tối. Mưa phùn Giang Nam rây từng hạt mỏng dính vào mặt, mang theo mùi…

Nội dung chương

Chuyến xe khách cuối cùng thả tôi xuống đầu cầu đá trấn Thanh Khê khi trời vừa sẩm tối. Mưa phùn Giang Nam rây từng hạt mỏng dính vào mặt, mang theo mùi tanh của bùn đáy kênh và rêu bám quanh chân tường gạch xám. Tôi kéo chiếc vali qua từng phiến đá xanh trơn trượt, tiếng bánh xe lạch cạch vang lên trơ trọi giữa hai dãy nhà cổ đóng kín cửa. Cả dãy phố không một bóng người, trên mỗi khung cửa chỉ treo một dải vải trắng dài bằng ngón tay, rủ thẳng trong gió ẩm.

Mẹ tôi mất sớm, tôi rời trấn lên thành phố học rồi ở lại làm việc bốn năm nay. Lần gần nhất tôi bước qua cổng nhà họ Tạ là dịp tết năm ngoái, khi ấy Lâm Uyển Nghi vừa cấn thai tháng thứ hai. Chị dâu tôi đứng bên hiên, tay cầm bát chè hạt sen đưa cho tôi, nụ cười hãy còn đượm vẻ ngượng ngùng của dâu mới.

Điện thoại anh trai gọi đến đêm qua chỉ vỏn vẹn một câu cộc lốc:

Về ngay, Uyển Nghi sẩy chân xuống giếng sau nhà, mất rồi.

Tôi đẩy cánh cổng gỗ lim của sân trước. Bản lề han rỉ kêu lên một tiếng ken két khô khốc. Gian nhà chính sáng rực ánh nến vàng vọt, mùi nhang vòng quyện với mùi dầu sả nồng nặc át đi mùi ẩm mốc thường ngày. Giữa sảnh lớn, chiếc quan tài bằng gỗ bách màu nâu sẫm đặt ngay ngắn trên hai chiếc ghế dài, bốn góc chèn những bao trấu lớn để chống bập bênh.

Tạ Minh Thành ngồi thụp bên bậc cửa, hai đầu gối co lên sát ngực, chiếc áo tang xô trắng khoác hờ trên vai. Tàn thuốc lá rơi lả tả xuống nền gạch đỏ loang lổ vết nước.

Tôi bước lại gần, đặt ba lô xuống ghế trúc: - Anh Thành.

Anh tôi ngẩng đầu lên. Hai mắt anh đỏ ngầu, quầng thâm dưới mi mắt sưng múp, râu ria lởm chởm quanh cằm. Anh nhìn tôi chừng vài giây rồi gật đầu thật khẽ, giọng khàn đặc: - Về rồi à. Vào thắp cho chị dâu mày nén nhang. Người ta vớt lên từ trưa hôm qua, khâm liệm xong lúc chập tối.

Sao lại ngã xuống giếng?

Tôi nhìn thẳng vào mắt anh.

Giếng sau nhà xây bằng đá ong, thành giếng cao ngang hông, miệng giếng lúc nào cũng đậy tấm ván lớn. Chị Uyển Nghi mang thai tháng thứ chín, đi đứng cẩn thận như thế, làm sao trượt chân được?

Minh Thành siết chặt điếu thuốc trong kẽ tay, đầu lọc bẹp dúm. Anh quay mặt sang hướng bàn thờ, tránh ánh mắt tôi: - Đêm hôm trước trời mưa lớn, nó bảo thèm ăn sung muối, ra sau vườn hái. Trượt chân thì ngã, có ai muốn thế đâu. Mày đừng hỏi vặn vẹo nữa, lão thái gia ở nhà trong nghe thấy lại quở mắng.

Tôi không đáp lời anh. Tôi bước đến trước linh cữu, đón lấy ba nén nhang từ tay một người thợ tang đang ngồi chẻ lạt ở góc sân. Khói nhang xộc thẳng vào mũi, cay xè. Trên bức di ảnh đặt trước bát hương đồng, Lâm Uyển Nghi mặc áo cổ đứng màu xanh nhạt, khóe môi hơi mím lại, đôi mắt nhìn thẳng về phía trước. Người ta không dùng ảnh cưới, cũng không dùng ảnh chụp chung với Minh Thành, mà dùng một tấm ảnh thẻ chụp từ nhiều năm trước, viền ảnh đã ố vàng.

Quan tài bằng gỗ bách chưa đóng đinh nắp, chỉ đậy hờ một nửa phía dưới chân để người thân nhìn mặt lần cuối trước giờ nhập quan vào nửa đêm. Tôi vịn tay vào mép gỗ bách trơn nhẵn, nhìn vào bên trong.

Uyển Nghi nằm thẳng trên lớp vải lót màu vàng nghệ. Chị mặc bộ áo cưới bằng lụa đỏ thêu hoa mẫu đơn, trên mặt phủ một lớp phấn dặm rất dày nhưng vẫn không che hết được sắc da trắng bệch của người ngâm nước lâu. Bụng chị nhô cao tròn ủng dưới lớp lụa đỏ thêu kim tuyến, đồ sộ trên thân hình gầy guộc. Hai cánh tay chị đặt xuôi hai bên sườn, các ngón tay co quắp cứng đờ, móng tay tím đen ép chặt vào lòng bàn tay.

Tầm mắt tôi trượt dần xuống phía chân chị.

Dưới tà váy cưới đỏ rực, bàn chân trái của Uyển Nghi mang một chiếc giày thêu hoa sen đỏ mũi cong, đế khâu bằng vải nhiều lớp sạch sẽ. Bàn chân phải của chị lại để trần, năm ngón chân trắng bợt xòe ra, dính vài vệt bùn xám đã khô cong ở kẽ móng. Quấn quanh cổ chân phải là một sợi chỉ đỏ bện ba tao.

Chiếc giày cưới bên phải hoàn toàn biến mất.

Tôi quay đầu lại, nhìn Minh Thành: - Giày của chị ấy đâu một chiếc rồi? Sao người chết lại đi chân trần một bên thế này?

Minh Thành chưa kịp mở miệng thì từ gian nhà ngang, một bóng người thấp bé chống gậy bước ra. Bà Mận, người chuyên lo việc ma chay khâm liệm của họ Tạ, lê đôi chân vòng kiềng từng bước chậm chạp trên nền gạch. Bà ngoài bảy mươi tuổi, lưng còng gập xuống, tóc búi bọc trong chiếc khăn đen nhánh. Trên cổ tay bà đeo chuỗi hạt dâu tằm va vào nhau lách cách.

Bà Mận dừng lại cạnh tôi, ngước đôi mắt đục ngầu lên nhìn: - Đừng có vạch vòi. Lúc vớt nó dưới giếng lên, chiếc giày bên phải đã tuột mất dưới đáy bùn rồi. Giếng cổ đá ong sâu ba trượng, toàn bùn lầy với rễ cây ăn luồn qua vách đá, thợ lặn mò suốt hai canh giờ không thấy tăm hơi. Giờ lành đã điểm, phải liệm để kịp giờ nhập quan, không thể để thi thể chờ lâu được.

Người chết đi xuống suối vàng mà thiếu một chiếc giày, phong tục trấn mình xưa nay kiêng kỵ việc đó.

Tôi nói, giọng ghìm thấp.

Bà là người hiểu lệ làng nhất, sao lại để chị ấy đi thiếu thốn như vậy?

Bà Mận nheo mắt, khóe môi mỏng dính giật giật tạo thành những nếp nhăn sâu hoắm: - Chết đuối mang thai chín tháng, mất hai mạng người một lúc, đó là phạm vào điều dữ. Phần còn lại trong bụng chưa kịp nhìn mặt trời. Lệ làng vẫn dạy, đứa trẻ chưa đặt tên khi mất phải đặt một chiếc giày theo mẹ, một chân để trần cho bùn đất giữ bụi đường; còn lý do vì sao, bà cũng chỉ nghe các cụ truyền lại. cho bùn đất giữ lại bớt oán than. Cô là phận con gái đi xa về, biết chuyện cúng bái gì mà chất vấn?

Bà Mận đưa tay kéo tấm vải liệm phủ kín hai bàn chân của Uyển Nghi, rồi quay sang nhìn Minh Thành: - Đi lấy thêm dầu hỏa rót vào đèn tứ góc. Đêm nay là đêm đầu tiên, tuyệt đối không được để tắt lửa. Đèn tắt, mẹ con nó lạc đường thì cả cái nhà này gánh đủ.

Minh Thành lầm lũi đứng dậy, cầm can dầu bằng nhựa màu xanh đi ra phía chái bếp. Dáng đi của anh cứng ngắc, hai bả vai so lại gượng gạo.

Tôi đứng bên quan tài, nhìn quanh một lượt. Nhà họ Tạ là ngôi nhà ba gian hai chái xây từ thời mạt Thanh, rui mè chạm trổ hoa văn dơi ngậm đồng tiền đã đen sì vì khói bếp. Phía sau bức bình phong ngăn sảnh chính với hậu đường, một bóng người cao lớn ngồi bất động trên chiếc ghế bành bọc da sờn. Đó là Tạ lão thái gia. Ông tôi năm nay tám mươi sáu tuổi, ngồi im như một pho tượng đá trong bóng tối nhờ nhờ, hai bàn tay gầy guộc chống lên đầu cây gậy gỗ mun, mắt nhìn đăm đăm ra sân trước nhưng không hề nói một lời nào với đứa cháu gái vừa trở về.

Không khí ngột ngạt bao trùm cả căn nhà. Tiếng gió rít qua khe cửa sổ gỗ nghe như tiếng rên rỉ nghẹn ứ.

Khoảng mười một giờ đêm, thợ tang chuẩn bị nghi thức khép tạm nắp quan để làm lễ tịch điện. Họ bảo người trong họ không cùng mệnh tuổi phải lánh mặt sang dãy phòng phụ. Căn phòng cũ của tôi nằm ở góc tây bắc của khuôn viên, cửa sổ mở thẳng ra mảnh vườn sau, nơi có cái giếng cổ bằng đá ong đã được đậy kín bằng những thanh gỗ ván lớn.

Tôi bước vào phòng, bật ngọn đèn dây tóc ba mươi oát treo giữa trần. Ánh sáng vàng đục rọi xuống chiếc giường gỗ gõ, mặt dát giường phủ một lớp chiếu cói cũ đã lên nước nâu bóng. Không khí trong phòng ẩm thấp, bốc mùi vôi ướt và mùi lá long não.

Tôi mở vali, lấy bộ quần áo cotton dài tay ra thay. Cái chết của Uyển Nghi có quá nhiều điểm bất thường. Chị là người nhút nhát, sợ bóng tối, buổi tối đến việc ra sân lấy thau quần áo cũng phải bật sáng đèn ngoài hiên. Không có lý do gì chị lại mò ra tận giếng sau giữa đêm mưa gió chỉ để hái sung.

Tôi kéo chiếc ghế gỗ ngồi xuống cạnh bàn học cũ, mở điện thoại kiểm tra tin nhắn. Ở vùng trũng ven kênh này sóng điện thoại rất chập chờn, cột sóng chỉ hiện lên một vạch yếu ớt. Tôi nhớ lại những vết bầm tím trên cánh tay Uyển Nghi và mớ bùn dính chặt ở kẽ móng chân trần của chị. Bùn đáy giếng cổ họ Tạ vốn là bùn mịn màu đen sẫm, nhưng vệt bùn bám trên chân Uyển Nghi lại có sắc xám trắng pha lẫn cặn vôi.

Mười hai giờ đêm, tiếng gõ mõ ngoài sảnh chính bắt đầu vang lên đều đặn. Từng tiếng "cốc, cốc, cốc" gõ vào đêm vắng, xen lẫn tiếng rì rầm của bài kinh siêu độ kéo dài lê thê.

Tôi tắt đèn trần, chỉ để lại chiếc đèn bàn nhỏ đầu giường rồi ngả lưng xuống chiếu cói. Cơn mệt mỏi sau một ngày ngồi xe khiến tôi thiếp đi rất nhanh.

Trong cơn mê man, tôi nghe thấy tiếng nước chảy róc rách sát đầu giường. Âm thanh như có người đang kéo một chiếc gầu múc nước bằng tôn rỉ sét từ dưới sâu lên, tiếng xích sắt ma sát vào miệng giếng đá "kèn kẹt, kèn kẹt". Tiếp đó là tiếng bước chân ướt sũng giẫm trên nền đất ẩm, một bước nặng, một bước nhẹ khập khiễng, tiến dần từ phía sau vườn về hướng cửa sổ phòng tôi.

Tiếng bước chân dừng lại ngay bên ngoài vách gỗ.

Tôi bừng tỉnh, mở trừng mắt nhìn trần nhà. Tim đập dồn dập từng hồi. Căn phòng hoàn toàn im ắng, chỉ có tiếng mưa phùn rơi lộp độp trên mái ngói và tiếng tụng kinh ngoài sảnh đã ngưng từ lúc nào. Đồng hồ trên bàn chỉ một giờ bốn mươi phút sáng.

Cổ tôi cứng đờ, gáy đau nhức vì chiếc gối dồn quá cao. Tôi đưa tay vòng qua sau đầu định chỉnh lại chiếc gối gấm ruột bông gạo cho phẳng phiu.

Bàn tay tôi chạm phải một vật cứng cộm nằm ngay dưới đáy gối, sát mặt chiếu cói.

Bề mặt vật đó thô ráp, mép viền uốn cong gồ ghề. Cảm giác lành lạnh và ẩm ướt truyền thẳng qua đầu ngón tay tôi.

Tôi bật dậy, vươn tay bật công tắc đèn bàn. Ánh sáng vàng vọt bừng lên, soi rõ mặt chiếc chiếu cói sẫm màu.

Tôi dùng hai tay nhấc chiếc gối gấm màu xanh lục lên.

Nằm ngay ngắn giữa chỗ tôi vừa gối đầu là một chiếc giày thêu hoa sen màu đỏ rực. Mũi giày uốn cong hình đầu thuyền hướng thẳng về phía vách tường sau vườn, đế giày làm bằng nhiều lớp vải nén chặt. Đó là chiếc giày dành cho bàn chân phải.

Chiếc giày ướt sũng, nước rỉ ra làm ố một mảng lớn trên mặt chiếu cói. Lớp lụa đỏ thêu hoa sen bám đầy bùn đất đen sẫm và rêu xanh nhầy nhụa. Mùi bùn thối bốc lên xộc thẳng vào mũi, mùi bùn tích tụ lâu năm dưới đáy giếng sâu không thấy ánh mặt trời.

Tôi lùi người ra sát mép giường.

Đây chính là chiếc giày cưới bị thiếu của Lâm Uyển Nghi.

Minh Thành và Bà Mận nói chiếc giày này đã chìm dưới ba trượng bùn sâu không thể vớt lên được. Vậy tại sao nó lại nằm ở đây, ngay dưới chiếc gối tôi vừa nằm suốt gần hai tiếng đồng hồ? Ai đã mang nó vào phòng tôi khi cửa phòng đã cài then gỗ bên trong?

Tôi nhìn chằm chằm vào then cài cửa sổ và chốt cửa chính. Cả hai chốt sắt đều đóng chặt, vôi vữa quanh khung cửa không hề có vết cạy phá.

Tôi nuốt khan, với tay lấy chiếc kẹp giấy bằng sắt trên bàn học, cẩn thận chọc vào mũi chiếc giày đỏ rồi lật nghiêng nó sang một bên.

Từ trong lòng chiếc giày thêu đỏ ướt sũng, một mảng bùn đen nhão chảy tràn ra mặt chiếu. Lẫn trong đống bùn đất tanh nồng ấy là một mảnh vật thể nhỏ xíu, màu hồng nhạt, dài chưa bằng nửa đốt ngón tay út.

Tôi cúi sát xuống nhìn.

Đó là một mảnh móng nhỏ, mép móng cắt nham nhở, dính liền với một mẩu da mỏng màu tím tái. Quấn chặt quanh gốc mảnh móng ấy là một sợi chỉ đỏ bện ba tao, nút thắt được thắt theo hình hoa mai ba cánh, kiểu thắt nút phong ấn trừ tà chỉ người trong họ Tạ mới biết làm.

Chưa thể xác định mảnh móng này thuộc về ai hay có từ bao giờ, nhưng việc nó nằm lẫn trong bùn giếng cùng sợi chỉ đỏ của họ Tạ là điều không thể giải thích bằng lẽ thường.

Bên ngoài cửa sổ bỗng vang lên một tiếng cào nhẹ vào vách ván ép.

"Xoẹt... xoẹt..."

Âm thanh đứt quãng, chậm chạp, như móng tay của một người đang cố bấu vào thành gỗ trơn trượt để gượng đứng dậy.

Tôi đứng bật dậy, lùi sát lưng vào góc tường cạnh bàn học, mắt nhìn trừng trừng vào khe hở dưới chân cánh cửa sổ. Bóng tối bên ngoài ken đặc, chỉ thấy bóng những cành sung già đu đưa in hằn lên lớp giấy dán kính mờ.

Tiếng cào vách kéo dài chừng mười giây rồi tắt hẳn. Thay vào đó là tiếng nước nhỏ giọt đều đặn: "Tách... tách... tách..."

Mỗi giọt nước rơi xuống như gõ thẳng vào màng nhĩ giữa đêm thanh vắng.

Tôi đứng chôn chân tại chỗ mất vài phút. Khi không gian hoàn toàn im ắng trở lại, tôi bước nhanh tới bàn học.

Tôi cầm lấy chiếc điện thoại, mở khóa màn hình. Mức pin còn tám mươi phần trăm. Tôi bấm vào ứng dụng ghi âm, nhấn nút tròn màu đỏ để bắt đầu thu âm. Tôi gạt thanh điều khiển sang chế độ ghi âm nền, tắt âm thanh thông báo và đặt độ nhạy của micrô ở mức cao nhất.

Tôi lấy một chiếc khăn mùi xoa trong túi xách, bọc chiếc giày thêu đỏ cùng mảnh móng dính sợi chỉ đỏ lại, nhét sâu vào ngăn dưới cùng của chiếc ba lô có khóa kéo. Tôi lau sạch vết bùn trên chiếu cói bằng giấy báo cũ rồi vo tròn vứt vào sọt rác.

Tôi nhét chiếc điện thoại đang ghi âm vào túi áo khoác ngực, kéo khóa lửng để đầu thu âm hướng ra ngoài.

Cái chết của Uyển Nghi không phải một tai nạn trượt chân đơn thuần. Gia tộc này, từ Minh Thành, Bà Mận cho đến Tạ lão thái gia ngồi sau bức bình phong, tất cả bọn họ đều đang giấu kín một sự việc phía sau miệng giếng đá cổ kia.

Tôi mở then cài cửa chính, bước từng bước ra hành lang tối om dẫn về phía gian nhà chính. Tiếng tụng kinh lại bắt đầu râm ran vọng lại từ sảnh tang, nhưng lần này lẫn trong tiếng mõ gõ lộc cộc là một tiếng khóc ngằn ngặt, âm thanh nghẹn ứ như phát ra từ một nơi sâu hoắm, ngập đầy bùn nước.

Chương khác

Xem thêm