Tử Mẫu Song Sát - Chương 2: Quan Tài Không Khép Nắp
Đèn lồng trắng treo dọc theo mái hiên nhỏ từng giọt nước mưa xuống nền gạch xanh. Gió từ nhánh kênh đào sau nhà thổi xộc vào sảnh tang, mang theo mùi bùn…
Nội dung chương
Đèn lồng trắng treo dọc theo mái hiên nhỏ từng giọt nước mưa xuống nền gạch xanh. Gió từ nhánh kênh đào sau nhà thổi xộc vào sảnh tang, mang theo mùi bùn nồng và hơi ẩm từ rêu giếng. Mùi nhang muỗi hòa lẫn với mùi trầm rẻ tiền tỏa ra đặc quánh, xộc thẳng vào cuống họng.
Tôi đứng tựa lưng vào mép cột cái, hai tay đút trong túi áo khoác. Chiếc điện thoại trong túi ngực vẫn đang chạy ứng dụng ghi âm, mặt kính áp vào lớp vải tỏa ra một mảng ấm nhỏ.
Giữa sảnh, cỗ quan tài bằng gỗ bách sơn then đỏ sẫm đặt trên đôi ghế dài bằng gỗ lim. Bốn góc kê bốn chậu sành chứa than củi đã tàn tro. Bức trướng tang thêu hoa sen trắng rủ xuống che khuất một phần bàn linh sàng, nơi đặt một bài vị riêng bằng gỗ thị chưa khắc tên húy.
Hai người thợ làm tang đứng nép bên góc tường. Thợ Triệu lớn tuổi, trán hằn sâu nếp nhăn của nghề đóng quan tài nhiều năm ở bến Thanh Khê. Người phụ việc trẻ tuổi hơn đang ôm hộp đinh thép dài bảy tấc, mặt không còn giọt máu.
"Cạch."
Một tiếng bật sắc nhọn vang lên từ góc trái nắp quan tài.
Đầu đinh sắt cắm sâu vào thớ gỗ bách đột nhiên nảy ngược lên, trồi ra ngoài một khoảng bằng đốt ngón tay. Lớp vôi trắng trát quanh mép ván nứt toác, rụng từng mảng nhỏ xuống mặt chiếu trải dưới sàn.
Thợ Triệu run tay, chiếc búa gỗ cầm ở tay phải tuột khỏi lòng bàn tay rơi trúng mu bàn chân, nhưng ông ta không cúi xuống nhặt.
Cây đinh thứ ba rồi.
Thợ Triệu nói giọng khàn đặc, mắt dán chặt vào khe hở giữa thân và nắp quan tài:
Từ lúc nửa đêm đến giờ, hễ đóng hết một vòng ba cây tử đinh là góc bên trái lại bật lên. Tôi làm nghề đóng nắp suốt bao năm ở bến sông này, chưa từng thấy loại đinh bảy tấc nào bị đẩy ngược ra như thế.
Tạ Minh Thành ngồi trên chiếc ghế mây cạnh bàn thờ, đầu quấn dải khăn tang trắng. Quầng thâm dưới mi mắt anh ta sưng mọng, tròng mắt đỏ ngầu những tia máu. Nghe thợ Triệu nói, anh ta bật dậy nhanh đến mức chiếc ghế mây đổ nghiêng về phía sau, đập vào chân bàn thờ phát ra tiếng động nặng nề.
Đóng lại!
Minh Thành gắt, giọng gãy gọn nhưng khóe miệng giật liên hồi:
Chú Triệu, chú lấy đinh mười tấc đóng thẳng xuống cho tôi. Gỗ bách ngâm nước chuyển từ bến sông về còn ẩm, gặp gió đêm co rút thớ gỗ nên trượt chân đinh. Có việc đơn giản thế mà các người cũng đứng chôn chân ra đấy à?
Thợ Triệu lắc đầu, lùi lại một bước, hai tay chắp trước bụng:
Cậu Thành, gỗ co thì đinh bị kẹp chặt thêm chứ không bao giờ trồi ngược lên. Đinh đóng xuống nghe tiếng chắc nịch, nhưng chạm đáy là bị đẩy thẳng ra ngoài. Vừa rồi lúc tôi kê đục, nắp hòm rung lên ba nhịp. Đây không phải chuyện bình thường của thớ gỗ.
Tôi bảo gỗ co ngót là gỗ co ngót!
Minh Thành giật lấy chiếc búa sắt trong hộp đồ nghề của người thợ trẻ, sải bước tới cạnh quan tài. Anh ta nhặt cây đinh dưới đất lên, đặt thẳng vào miệng lỗ cũ rồi vung búa đập cật lực.
Tiếng búa sắt nện vào đinh vang chát chúa khắp gian nhà rường. Từng nhát búa giáng xuống kèm theo tiếng thở dồn của Minh Thành. Thân đinh lún dần vào mặt gỗ bách, lớp sơn then nứt vỡ từng mảng.
Tôi quan sát từng chuyển động của anh trai.
Minh Thành vung búa rất mạnh, nhưng ánh mắt tuyệt đối không nhìn vào khe nắp hòm. Anh ta ngoảnh mặt sang hướng bức bình phong, trán rịn mồ hôi dù gió đêm thổi qua khe cửa rất buốt. Khi đầu đinh vừa ngập bằng mặt gỗ, anh ta vừa định buông tay lùi lại thì một tiếng rắc khô khốc vang lên.
Cây đinh sắt bảy tấc uốn cong như móc câu, bật văng ra khỏi lỗ mộng, bay sượt qua má Minh Thành rồi rơi xuống đống tro tàn trong chậu than.
Một luồng khí lạnh phả ra từ khe hở, nồng nặc mùi bùn ngấu dưới đáy giếng cổ và mùi nước ngâm lâu ngày. Nắp quan tài kênh lên gần ba đốt ngón tay, để lộ khoảng tối bên trong.
Minh Thành lảo đảo lùi lại, lưng đập mạnh vào mép bàn nến. Bát hương chính giữa chao đảo, tàn nhang rụng đầy mặt gỗ mun.
Mở nắp ra kiểm tra đi.
Tôi lên tiếng, bước lại gần linh cữu.
Minh Thành trừng mắt nhìn tôi, lồng ngực phập phồng:
Em nói bậy gì đó? Người đã khâm liệm xong xuôi, giờ Thìn sáng mai phải đưa ra bãi tha ma đầu cồn. Ai cho phép tùy tiện mở nắp quan tài?
Đinh đóng không giữ được nắp, anh định cứ thế khiêng cái hòm mở miệng này đi à?
Tôi nhìn thẳng vào mắt anh ta:
Hay là bên trong có dấu vết anh sợ người khác nhìn thấy?
Tạ Dư An!
Minh Thành quát lớn, bàn tay cầm búa siết chặt đến trắng bệch các khớp ngón. Nhưng khi thấy tôi nhìn xuống vạt áo tang còn vương vết bùn khô của anh ta, Minh Thành lập tức dời mắt đi chỗ khác.
Thợ Triệu đứng bên cạnh khẽ tằng hắng:
Cậu Thành, cô An nói có lý. Nắp quan tài bật ra ba lần là điều cấm kỵ, phải soi đèn kiểm tra xem bên trong có vướng mắc gì không. Nếu cứ cố ép đinh xuống, ngày mai đưa tang qua cầu gãy đòn khiêng thì không ai gánh nổi.
Người thợ phụ nhặt hai thanh đòn gỗ dưới đất lên. Dưới sự thúc ép của thợ Triệu và tôi, Minh Thành đành nghiến răng gật đầu.
Đẩy sang bên phải một gang tay thôi.
Minh Thành ra lệnh, giọng khàn đặc:
Nhìn xong phải đậy lại ngay.
Hai người thợ tang bước tới hai đầu quan tài, tỳ hai thanh đòn gỗ vào gờ nắp rồi dùng sức đẩy. Tiếng gỗ nghiến ken két vang lên giữa đêm vắng. Nắp gỗ bách nặng nề trượt sang một bên, để lộ nửa thân trên của người nằm bên trong.
Tôi bước lên một bước, cúi đầu nhìn xuống.
Lâm Uyển Nghi nằm giữa lớp vải lót đỏ thêu chữ thọ. Khuôn mặt chị phù nề do ngâm nước, phấn tang trôi từng mảng để lộ làn da bợt bạt và những vết thâm dọc xương quai hàm. Bộ áo cưới đỏ trên người chị sũng bùn, nước rỉ ra từ các nếp gấp tà áo, thấm loang tấm nệm lót.
Bụng của Uyển Nghi căng tròn, nhô cao vượt khỏi thành quan tài, lớp lụa đỏ bị kéo căng sát từng đường chỉ. Đứa trẻ chín tháng tuổi vẫn nằm nguyên trong bụng mẹ.
Chân trái của chị mang chiếc giày cưới thêu hoa sen đỏ, còn chân phải để trần, năm ngón chân trắng bệch quặp chặt vào lớp vải lót.
Hai cánh tay của Uyển Nghi không còn đặt ngay ngắn trước bụng như lúc khâm liệm.
Tay trái buông thõng sát thành gỗ. Bàn tay phải giơ ngược lên trên, các đầu ngón tay dập nát, móng tay gãy vụn lộ phần thịt đỏ bám đầy dăm gỗ.
Tôi nhìn lên mặt trong của tấm nắp quan tài vừa bị đẩy lệch.
Trên mặt gỗ bách phủ sơn then, năm vệt cào sâu hoắm kéo dài từ mép trái sang mép phải. Thớ gỗ bị cào toác thành sợi, rỉ ra những giọt nhựa cây sẫm màu hòa lẫn với bùn ướt và những mẩu da rách.
Những sợi dăm gỗ nhỏ còn cắm sâu vào lớp máu khô đen dính trên đầu ngón tay của Uyển Nghi.
Chị ấy đã cào vào mặt trong nắp ván sau khi quan tài được đóng đinh.
Thợ Triệu nhìn thấy cảnh đó liền thối lui mấy bước, hai đầu gối va vào nhau lập cập. Người thợ phụ buông rơi thanh đòn gỗ, miệng lẩm bẩm không ra tiếng.
Chuyện này là thế nào?
Tôi quay sang nhìn Minh Thành:
Lúc vớt chị dâu lên từ đáy giếng đá ong, ai đã kiểm tra hơi thở? Ai ký giấy xác nhận chị ấy chết đuối?
Minh Thành lùi sát góc bàn thờ, môi run bần bật:
Tắt thở rồi. Lúc đưa từ dưới giếng sâu ba trượng lên, người lạnh ngắt, không còn mạch. Bác sĩ Trình Cửu An ở trạm xá trấn đến khám nghiệm, chính tay ông ấy ký giấy chứng tử!
Vậy những vết cào này từ đâu ra?
Tôi chỉ vào mặt trong của nắp gỗ bách:
Một người đã tắt thở làm sao dùng móng tay cào rách thớ gỗ dày ba tấc sau khi các người đóng đinh?
Đó là co giật tử thi!
Minh Thành gắt lên, giọng the thé:
Người ngâm nước lạnh lâu, khi vào hòm kín thì gân cốt co rút. Tay chân giật mạnh quẹt vào thành ván là chuyện bình thường. Em đừng có đặt điều nghi thần nghi quỷ!
Co giật tử thi mà bật được ba cây đinh sắt bảy tấc?
Tôi bước dồn lên một bước:
Minh Thành, lúc các người đưa chị ấy vào hòm, Uyển Nghi đã thực sự chết chưa?
Tôi bảo chị ấy chết rồi!
Minh Thành vung tay định gạt tôi ra. Chiếc vòng chỉ đỏ trên cổ tay anh ta đứt phựt, những hạt gỗ đào xâu bên trong rơi lả tả xuống nền gạch, lăn lông lốc về phía chân cỗ quan tài.
Đủ rồi.
Một giọng nói già nua vang lên từ phía cửa ngách dẫn ra vườn sau.
Bà Mận bước vào từ bóng tối, chiếc áo chàm cũ đẫm mùi ẩm. Dưới chân bà ta là đôi guốc mộc gõ lộc cộc trên nền đá. Bà Mận đi thẳng tới bên linh cữu, không nhìn Minh Thành, cũng không nhìn tôi, chỉ cúi đầu nhìn chằm chằm vào bàn tay dập móng của Uyển Nghi và năm vệt cào trên nắp gỗ bách.
Nếp nhăn trên trán bà Mận xô lại:
Người xưa ở trấn này kiêng không để người đang mang thai nằm dưới đáy giếng, kẻo lệ tang trong nhà không yên. Tôi chỉ nghe vậy từ các cụ.
Thợ Triệu chắp tay vái liền ba vái:
Bà Mận, việc này thợ mộc họ Triệu chúng tôi không dám can dự nữa. Đinh đóng không giữ, nắp hòm không khép, nếu sáng mai cứ thế khiêng đi thì xảy ra chuyện lớn.
Bà Mận nhìn về phía cửa chính:
Lệ làng này xưa nay, phụ nữ mang thai chết dưới giếng sâu thì không được phép vùi đất ngay. Chưa được nhập thổ. Còn vì sao thì bà cũng chỉ nghe các cụ truyền lại.
Không được!
Minh Thành lập tức phản đối:
Ông nội đã dặn rồi, tang sự này phải chôn cất đúng giờ Thìn sáng mai, trước khi người nhà họ Lâm bên huyện kéo sang. Để lại thêm ngày nào thì thanh danh nhà họ Tạ biết giấu vào đâu?
Bà Mận nhìn thẳng vào Minh Thành:
Cậu Thành muốn giữ thể diện, hay muốn lúc khiêng đòn ra đến bờ kênh, người dưới nắp quan giật mạnh làm đổ ván? Lệ cổ Thanh Khê dạy rồi, chết song thân mà nắp quan không khép là điềm xấu, cụ thể ra sao thì bà cũng không dám nói. Giờ Thìn sáng mai không thể hạ huyệt. Phải quàn linh cữu ở sảnh đường này đủ ba đêm.
Tiếng bước chân từ ngoài hiên ngắt lời bà ta. Trình Cửu An xách theo một hòm thuốc gỗ bước qua ngạch cửa, vạt áo mưa màu xám sũng nước kênh. Ông ta nhìn lướt qua vết cào trên nắp gỗ bách và bàn tay của Uyển Nghi, sắc mặt không đổi, nhưng ánh mắt dừng lại rất lâu ở chiếc chân phải để trần của thi thể.
Muốn giữ nắp hòm đêm nay thì không được dùng đinh sắt nữa.
Trình Cửu An đặt hòm thuốc xuống ghế, giọng đều đều:
Lấy dây xơ dừa ngâm nước vôi quấn quanh thân quan tài chín vòng. Đặt một chiếc gương đồng úp mặt lên nắp, lấy gạch đỏ chặn lên trên. Đêm nay cả nhà phải canh linh, đèn dầu không được tắt, tuyệt đối không ai được tự ý kéo rèm tang.
Thợ Triệu vội vã kéo người phụ việc chạy ra sân sau tìm dây xơ dừa và gạch đỏ theo lời Trình Cửu An.
Minh Thành đứng chết trân bên cột cái. Khi thợ Triệu luồn dây xơ dừa siết chặt quanh thân gỗ bách phát ra tiếng rít ken két, Minh Thành bỗng giật mình, quay người chạy thốc ra cửa sau, tiếng chân dẫm lên vũng nước mưa ngoài sân vang bì bõm rồi tắt hẳn.
Trình Cửu An đứng bên bàn linh sàng, cầm bài vị bằng gỗ thị chưa khắc tên lên xem xét rồi đặt lại chỗ cũ, sau đó xách hòm gỗ bước ra ngoài mưa mà không nói thêm câu nào.
Trong sảnh chỉ còn lại tôi và Bà Mận.
Bà Mận chỉnh lại mép rèm tang rủ xuống trước linh cữu, nói nhỏ:
Cô Dư An, phòng phía tây của cô đêm nay gió thổi mạnh đấy. Đi ngủ thì nhớ cài chặt chốt cửa. Hễ nghe tiếng gõ ba nhịp cách đều thì tuyệt đối không được trả lời, cũng không được mở then. Người đứng ngoài cửa sổ chưa chắc đã đi bằng hai chân.
Nói xong, bà ta quay người bước khập khiễng qua ngạch cửa, bóng lưng chìm vào bóng tối dẫn về phía từ đường.
Gió ngoài bờ kênh lại rít qua khe cửa, làm ngọn nến trắng trên bàn thờ chao nghiêng. Ánh lửa hắt lên mặt gỗ bách của cỗ quan tài đã được quấn chặt bằng chín vòng dây xơ dừa.
Tôi bước lại gần, nhìn qua khe hở hẹp còn sót lại ở góc ván.
Góc áo cưới đỏ của Lâm Uyển Nghi vẫn đang nhỏ từng giọt nước bùn xuống đáy hòm. Và trên ngón tay trỏ dập nát của chị, một sợi chỉ đỏ mảnh quấn quanh đốt tay đột ngột siết lại, kéo căng về phía khoảng trống tối đen bên dưới bụng.