Tử Mẫu Song Sát - Chương 3: Chương 003: Ba Tiếng Ngoài Cửa

Gió ngoài bờ kênh thổi thốc qua các khe hở của bức bình phong, mang theo hơi nước ẩm mốc của dòng kênh cũ tràn vào sảnh tang. Ngọn nến trắng trên bàn thờ…

Nội dung chương

Gió ngoài bờ kênh thổi thốc qua các khe hở của bức bình phong, mang theo hơi nước ẩm mốc của dòng kênh cũ tràn vào sảnh tang. Ngọn nến trắng trên bàn thờ chao đảo, ngọn lửa vàng vọt kéo dài bóng cỗ quan tài gỗ bách ngả rạp lên nền gạch xám. Chín vòng dây xơ dừa ngâm vôi siết chặt quanh thân gỗ, chiếc gương đồng úp ngược dưới viên gạch đỏ tỏa ra quầng sáng đục.

Tôi đứng ở ngạch cửa sảnh tang, hai bàn tay đút sâu vào túi áo khoác. Chiếc điện thoại nằm gọn trong lòng bàn tay phải, góc màn hình vẫn nhấp nháy chấm tròn đỏ báo hiệu chế độ ghi âm đang chạy ngầm.

Bà Mận đã đi khuất vào hành lang dẫn sang gian từ đường phía đông. Tiếng bước chân khập khiễng cùng tiếng đế giày vải miết trên nền gạch ướt xa dần, rồi tắt hẳn sau cánh cửa gỗ lim. Minh Thành cũng không quay lại. Sau khi chạy trối chết ra phía cửa sau, anh ta khóa chặt cửa phòng ngủ ở chái nhà phía đông, tắt ngấm đèn điện, mặc cho cỗ quan tài của vợ mình nằm trơ trọi giữa bốn bề rèm trắng.

Sảnh đường vắng ngắt. Mùi nhang rẻ tiền pha lẫn mùi bùn rỉ ra từ kẽ quan tài tạo thành thứ mùi nồng bám chặt vào cổ họng. Tôi nhìn qua khe hở nhỏ ở nắp hòm gỗ bách. Vạt áo cưới màu đỏ thẫm của Lâm Uyển Nghi vẫn kẹt ở mép gỗ, đầu sợi chỉ đỏ quấn quanh ngón tay trỏ buông thõng xuống rãnh thoát nước trên nền gạch.

Tôi không thể đứng ở đây suốt đêm. Lời cảnh báo của Bà Mận về gian phòng phía tây vẫn còn nguyên: người chết đuối dưới giếng cổ đá ong không đi một mình, đêm nay gió lớn, hễ nghe thấy tiếng gõ ba nhịp thì tuyệt đối không được mở cửa.

Tôi xoay người, bước dọc theo dãy hành lang lát đá xanh dẫn về chái nhà phía tây.

Nhà cổ họ Tạ gồm ba gian chính và hai chái đông tây bao quanh một khoảng sân trong lộ thiên. Giếng cổ đá ong sâu chừng ba trượng nằm ở góc vườn sau, ngay sát vách tường buồng ngủ của tôi. Mỗi bước tôi đi qua, sàn gỗ của dãy hành lang lại phát ra tiếng cọt kẹt khô khốc. Những ngọn đèn lồng treo dưới mái hiên đung đưa theo gió, hắt từng mảng bóng tối chập chờn lên những bức tường vôi nứt nẻ.

Về đến phòng, tôi bước vào trong rồi lập tức cài chặt then ngang. Cây then bằng gỗ lim dày bản trượt vào ngàm sắt phát ra tiếng cạch đanh gọn. Tôi kiểm tra lại chốt cửa sổ bằng đồng, kéo chặt rèm vải thô che kín khung kính dán giấy bồi.

Căn phòng chìm trong bóng tối. Tôi không bật đèn tuýp trên trần mà chỉ vặn chiếc đèn bàn học chạy pin, ánh sáng vàng gom lại thành một quầng tròn nhỏ trên mặt bàn gỗ.

Tôi mở ba lô, lấy bọc khăn mùi xoa đặt lên bàn. Lớp vải cotton trắng đã bị nước bùn thấm ướt một mảng lớn. Tôi mở từng góc khăn, để lộ chiếc giày thêu hoa sen màu đỏ thẫm và mẩu móng tay dính sợi chỉ đỏ bện hình hoa mai.

Dưới ánh đèn bàn, lớp thêu trên mũi chiếc giày đỏ hiện rõ từng đường kim mũi chỉ tinh xảo. Đây là mẫu thêu truyền thống của vùng Thanh Khê, loại giày cưới mà phụ nữ khi về nhà chồng phải tự tay thêu trong suốt ba tháng trước ngày rước dâu. Uyển Nghi từng ngồi ở bậc thềm hiên nhà, xâu từng sợi chỉ tơ đỏ dưới ánh nắng chiều để hoàn thành đôi giày này. Ngày cưới, chính mắt tôi thấy chị đi đôi giày thêu hoa sen bước qua chậu than hồng đặt trước cửa từ đường.

Chiếc giày bên phải này ướt đẫm nước giếng, bùn đen bám chặt vào các kẽ hoa sen thêu nổi. Tôi dùng que sắt gảy nhẹ mẩu móng tay bé xíu ra mép khăn. Rìa móng mềm nhũn, dính liền với một mẩu da tím tái của trẻ sơ sinh. Nút thắt hoa mai ba cánh bằng chỉ đỏ quấn quanh gốc móng tay được thắt chặt chẽ, các nút gút đan chéo vào nhau theo đúng quy cách của gia tộc họ Tạ.

Nếu Uyển Nghi ngã xuống giếng khi đứa trẻ vẫn còn nằm trong bụng, tại sao lại có móng tay của đứa bé bị cắt rời và buộc bằng chỉ đỏ? Ai đã cắt móng tay của đứa nhỏ? Chiếc giày bên phải này tại sao lại xuất hiện ngay dưới gối tôi nằm, trong khi cửa phòng đã khóa kín từ bên trong?

Tôi với lấy chiếc điện thoại, kiểm tra tệp ghi âm. Thời gian ghi âm đã kéo dài hơn ba tiếng đồng hồ. Tôi cắm tai nghe dây vào máy, kéo thanh trượt thời gian quay lại đoạn tôi rời khỏi phòng ra sảnh tang lúc nãy.

Âm thanh rè rè của tạp âm ban đêm vang lên bên tai. Tiếng gió rít qua khe cửa sổ, tiếng cành cây sung cọ vào mái ngói, tiếng nước giọt từ đáy quan tài ngoài sảnh lớn.

Tôi tua nhanh thêm một đoạn. Trong tai nghe vang lên một chuỗi âm thanh lạ lùng, xuất hiện vào đúng khoảng thời gian tôi đang đứng ở sảnh tang.

Đó là tiếng bước chân giẫm trên nền đất ướt: bẹp, bẹp, bẹp.

Tiếng bước chân rất chậm, phát ra từ ngay bên ngoài cửa sổ phòng tôi, sau đó là tiếng vải ướt cọ vào vách gỗ. Tiếp theo là tiếng thở khò khè kèm theo một giọng thì thầm đứt quãng:

Tìm... không thấy... Dư An... giấu nó ở đâu...

Tiếng thì thầm lặp lại hai lần rồi tắt lịm, nhường chỗ cho tiếng nước chảy tràn qua bậc cửa sổ.

Mồ hôi toát ra ướt đẫm lòng bàn tay tôi. Giọng nói trong tệp ghi âm chính là giọng của Lâm Uyển Nghi, nhưng âm sắc méo mó, khàn đặc như phát ra từ một cuống họng đã bị ngâm nước lâu ngày.

Tôi tắt tai nghe, rút giắc cắm ra khỏi máy. Căn phòng lại rơi vào sự im lặng.

Đồng hồ trên bàn chỉ hai giờ mười lăm phút sáng. Đây là thời điểm canh ba.

Bên ngoài, tiếng côn trùng rả rích thường ngày biến mất hoàn toàn. Không có tiếng dế mèn, không có tiếng ếch nhái ven bờ kênh, chỉ có tiếng gió lùa qua tán cây sung già sau vườn tạo ra những âm thanh rào rạt.

Tôi cất bọc khăn mùi xoa vào ngăn kéo bàn học, khóa chốt cẩn thận rồi đút chìa khóa vào túi quần. Tôi ngồi xuống mép giường, lưng tựa vào thành gỗ, mắt không rời khỏi cánh cửa chính và khung cửa sổ đối diện. Chiếc điện thoại vẫn đặt trên bàn, chế độ ghi âm tiếp tục hoạt động.

Hai giờ bốn mươi phút sáng.

Nhiệt độ trong phòng hạ thấp xuống. Hơi lạnh dâng lên từ các khe gạch lát nền dưới chân giường. Mùi bùn tanh nồng hòa lẫn với mùi hoa cúc trắng héo úa bắt đầu len lỏi khắp không gian.

Dưới gầm giường, những vệt nước đục bắt đầu rỉ ra từ chân tường giáp với vườn sau. Nước đen ngòm, sủi tăm nhỏ, bốc lên làn hơi lạnh mỏng.

Từ bên ngoài cửa chính vang lên tiếng động.

Cộc.

Một tiếng gõ khô khốc đập vào mặt gỗ lim. Âm thanh vang lên rõ ràng, lực gõ dứt khoát, vị trí gõ nằm ở tầm thấp, chỉ cách mặt đất chừng ba gang tay.

Tôi ngồi bất động trên giường, hai bàn tay nắm chặt lấy mép chiếu cói.

Khoảng năm giây sau, tiếng thứ hai vang lên:

Cộc.

Khoảng cách thời gian giữa hai tiếng gõ chuẩn xác, không nhanh một khắc, không chậm một phân.

Tôi nhớ lại lời dặn của Bà Mận: hễ nghe thấy tiếng gõ ba nhịp cách đều thì tuyệt đối không được lên tiếng, cũng đừng thò tay mở then.

Tôi cắn chặt môi dưới, nén tiếng thở, mắt nhìn trừng trừng vào then cài.

Năm giây tiếp theo trôi qua trong sự im lặng nặng nề.

Cộc.

Tiếng gõ thứ ba rơi xuống, kết thúc ba nhịp cách đều.

Bên ngoài không có tiếng bước chân rời đi, không có tiếng quần áo cọ xát.

Rồi từ khe hở dưới chân cánh cửa gỗ, một giọng nói cất lên. Giọng nói ướt rượt, từng âm tiết phát ra kèm theo tiếng nước bọt ùng ục trong cổ họng, trầm đục và lạnh buốt:

Dư An ơi... Mở cửa cho chị...

Tôi bấm chặt mười đầu ngón tay vào lòng bàn tay để giữ tỉnh táo. Đó là giọng của Uyển Nghi, ngữ điệu nhẹ nhàng của chị khi còn sống, nhưng lúc này kéo dài ra, nhừa nhựa.

Tôi không nhúc nhích.

Bóng một khối tròn xù xì in hằn lên lớp giấy dán ở khe cửa dưới, ép sát vào tấm ván gỗ.

Giọng nói ngoài cửa lại vang lên, lần này dán sát vào khe hở:

Dư An... Em cầm chiếc giày của chị rồi đúng không?... Đưa lại cho chị... Chị lạnh chân lắm...

Hơi thở từ ngoài khe cửa phả vào mang theo luồng gió buốt giá, làm ngọn lửa đèn dầu nhỏ ở góc bàn học chao đảo. Mùi rêu giếng và bùn thối xộc thẳng vào mũi tôi.

Tôi ngồi im, mắt nhìn thẳng vào then cửa.

Giọng nói ngoài cửa bỗng nhiên đổi giọng, trở nên the thé như tiếng kim loại cạo trên đá:

Em giấu móng tay của con chị ở đâu?... Trả móng tay cho nó... Nó không có móng... Nó không bò ra khỏi giếng được...

Tiếng cào bắt đầu vang lên dồn dập trên mặt ngoài cánh cửa gỗ.

Xoẹt... xoẹt... xoẹt...

Mười móng tay cào vào thớ gỗ lim, từng vệt kéo dài từ trên xuống dưới, tạo ra những âm thanh ken két. Bụi gỗ mịn bay lả tả qua khe cửa, rơi xuống nền gạch bên trong.

Cùng lúc đó, từ phía cửa sổ sau lưng tôi vang lên tiếng đập thình thịch. Một bọc thịt mềm nhũn, ướt sũng đang liên tục nện vào khung kính bồi giấy. Khung cửa rung lên, rèm vải thô lay động.

Mở cửa ra! Mở cửa ra cho mẹ con tao vào!

Tiếng thét ngoài cửa vỡ òa thành một tràng cười sặc nước, lẫn với tiếng khóc the thé của một đứa trẻ sơ sinh. Âm thanh nghẹn ứ, lúc ở ngay dưới bậu cửa, lúc lại như vọng lên từ lòng đất dưới chân tôi.

Tôi nhắm mắt, hai tay bám chặt vào thành giường, lẩm nhẩm đếm từng nhịp trong đầu.

Cơn cuồng loạn ngoài cửa kéo dài suốt mười lăm phút. Cửa chính rung lên từng chập, then gỗ lim phát ra những tiếng kêu răng rắc. Nước bùn đen từ khe cửa chảy tràn vào trong phòng, loang lổ thành một vũng dưới chân cánh cửa.

Tôi không lên tiếng, không rời khỏi mép giường.

Đến khoảng ba giờ mười lăm phút sáng, tiếng gà trống gáy cất lên từ phía xóm chài bên kia bờ kênh.

Ngay khi tiếng gà vừa dứt, tiếng cào cấu trên cửa chính lập tức dừng hẳn. Tiếng khóc the thé dưới bậu cửa cũng im bặt.

Mùi bùn và hơi lạnh bắt đầu tan dần.

Tôi mở mắt. Căn phòng trở lại trạng thái tĩnh lặng. Gió ngoài vườn đã ngừng thổi. Đồng hồ quả lắc từ gian nhà chính điểm ba tiếng chuông chậm rãi.

Tôi ngồi nguyên tư thế đó cho đến khi ánh sáng ban ngày rọi qua khe rèm cửa sổ.

Toàn thân tôi mỏi nhừ, các khớp ngón tay cứng lại vì bám vào thành giường suốt mấy tiếng đồng hồ.

Tôi hít một hơi không khí ẩm của buổi sớm, bước xuống giường. Nền gạch lạnh ngắt truyền qua đế dép.

Tôi tiến lại gần cửa chính. Vũng nước bùn đen chảy qua khe cửa đêm qua đã khô lại thành một mảng cặn màu xám, bốc mùi tanh của bùn đáy giếng. Trên mặt cánh cửa gỗ lim, những vết cào sâu xé toạc lớp sơn bóng, để lộ thớ gỗ màu vàng nhạt bên trong. Vết cào hẹp và sắc, kích thước cỡ ngón tay phụ nữ xen lẫn những vệt cào nhỏ li ti.

Tôi cẩn thận rút then cài, kéo cánh cửa mở ra ngoài.

Hành lang chái tây mờ mờ trong sương sớm. Không khí buổi sáng lạnh và ẩm ướt.

Ngay trước ngưỡng cửa, một chuỗi dấu chân ướt sũng kéo dài từ cuối hành lang phía đông dẫn thẳng đến trước cửa phòng tôi.

Dấu chân bên phải là dấu chân trần của người lớn, các ngón chân xòe rộng, bám đầy bùn đen và rêu xanh. Dấu chân bên trái là vết in của một chiếc đế giày thêu hoa sen, hoa văn viền đế in hằn rõ từng đường nét trên mặt đá.

Người đi đến đây đêm qua mang giày thêu ở chân trái, còn chân phải đi chân trần.

Song song bên cạnh chuỗi dấu chân cọc cạch ấy là một vệt trườn nham nhở bùn đất, rộng chừng một gang tay, kéo dài liên tục như dấu vết của một bọc thịt không có chân đang lê lết toàn bộ phần bụng ướt sượt trên sàn đá.

Chuỗi dấu chân và vệt trườn dừng lại trước bậc cửa phòng tôi, giẫm qua lại thành một bãi bùn lầy, rồi quay ngoắt một góc chín mươi độ, dẫn thẳng về phía hành lang dẫn vào gian từ đường họ Tạ.

Tiếng bước chân gấp gáp từ phía sân trước vang lên.

Minh Thành từ chái nhà phía đông bước ra sân, trên người vẫn mặc bộ đồ tang màu trắng xộc xệch, mắt thâm quầng và đỏ ngầu. Tay anh ta cầm bao thuốc lá nhàu nát, run rẩy rút một điếu châm lửa.

Khi ngẩng đầu lên và nhìn thấy tôi đang đứng bên cửa phòng, ánh mắt Minh Thành lộ rõ vẻ kinh ngạc. Anh ta nhìn tôi chằm chằm:

Dư An... Đêm qua cô vẫn ngủ ở phòng này à?

Tôi không ngủ ở đây thì ngủ ở đâu?

Tôi lạnh lùng đáp, bước qua ngưỡng cửa, đứng chắn trước những vết cào trên cánh gỗ lim:

Anh Thành, đêm qua anh có nghe thấy tiếng động gì ngoài hành lang không?

Minh Thành giật bắn người. Anh ta nhìn lướt qua tôi, rồi ánh mắt dừng lại ở vệt bùn đen kéo dài dưới chân tôi.

Nhìn thấy chuỗi dấu chân một bên giày thêu, một bên chân trần cùng vệt trườn trên nền đá xanh, tàn thuốc lá trên tay Minh Thành rơi xuống mu bàn chân.

Dấu... dấu chân này...

Minh Thành lắp bắp, hai chân lùi dần về phía sau:

Không thể nào... Đêm qua quan tài đã được quấn chín vòng dây xơ dừa ngâm vôi... Gương đồng úp mặt... Bà Mận nói làm vậy thì người chết đuối không thể rời khỏi sảnh tang được...

Dây thừng và gương đồng giữ được người lớn, nhưng có giữ được đứa trẻ chưa sinh ra không?

Tôi tiến lên một bước, nhìn thẳng vào mắt anh ta.

Minh Thành run rẩy:

Cô nói bậy gì đó! Đứa bé... đứa bé đã chết cùng với Uyển Nghi rồi! Nó chưa chào đời thì làm sao mà...

Nó chưa chào đời, vậy vết trườn này là của ai?

Tôi chỉ tay xuống vệt bùn dài ngoằng dưới sàn đá:

Đêm qua chị dâu đứng ngoài cửa phòng tôi, chị ấy đòi tôi trả lại móng tay cho đứa bé. Anh Thành, anh có biết tại sao móng tay của đứa nhỏ lại bị cắt ra và quấn bằng chỉ đỏ không?

Gương mặt Minh Thành xám ngoét. Anh ta nhìn tôi trừng trừng, môi mấp máy nhưng không nói được câu nào.

Từ phía cuối hành lang đông, cánh cửa của từ đường mở ra một khe hẹp.

Bà Mận trong bộ áo chàm cũ chống gậy tre bước ra ngoài. Gương mặt bà phủ đầy nếp nhăn, ánh mắt đục ngầu quét qua chuỗi dấu chân ướt trên nền đá xanh, rồi dừng lại trên mặt Minh Thành và tôi.

Bà không tỏ vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy vệt bùn đen, chỉ khẽ thở dài, giọng nói khàn khàn:

Cậu Thành, cô Dư An, đừng đứng đấy nữa. Mau vào từ đường xem đi.

Minh Thành quay phắt lại, giọng lạc đi:

Từ đường... Từ đường lại có chuyện gì?

Bà Mận nhìn về phía gian thờ tổ tiên, nơi những làn khói nhang mỏng đang trôi ra ngoài qua khe cửa:

Toàn bộ bài vị trong từ đường... Đêm qua không biết vì cớ gì, tất cả đều đã tự xoay lưng lại với bàn thờ, quay mặt hết về phía cửa ra vào rồi.

Chương khác

Xem thêm