Tử Mẫu Song Sát - Chương 4: Bài Vị Quay Mặt
Gió sớm từ bờ kênh Thanh Khê thổi thốc vào khoảng sân lát đá xanh, mang theo mùi bùn ướt và rêu rác đọng lâu ngày dưới chân cầu đá. Bà Mận chống cây gậy…
Nội dung chương
Gió sớm từ bờ kênh Thanh Khê thổi thốc vào khoảng sân lát đá xanh, mang theo mùi bùn ướt và rêu rác đọng lâu ngày dưới chân cầu đá.
Bà Mận chống cây gậy tre, từng bước khập khiễng dẫn đầu đi về phía dãy hành lang đông. Tiếng đầu gậy gõ xuống mặt đá phát ra từng tiếng cộc cộc khô khốc. Tôi và Minh Thành đi phía sau. Minh Thành cắm cúi bước, hai tay đút sâu vào túi áo tang trắng, bả vai co rút lại, mắt nhìn dán vào những vệt bùn đen kéo dài dọc theo chân tường rồi lại giật mình quay đi.
Cửa chính của từ đường họ Tạ làm bằng bốn cánh gỗ lim dày hai tấc, bên ngoài then cài có một ổ khóa đồng to bằng bàn tay úp. Ổ khóa này đúc hình đầu thú ngậm chìa, bên trên còn dán dải giấy đỏ viết chữ "Tĩnh" bằng mực tàu.
Tôi dừng chân trước bậc thềm bằng đá hoa cương xám, cúi đầu nhìn mép giấy đỏ.
Mép giấy dán niêm phong vẫn dính chặt vào then cài bằng hồ nếp khô cứng, không có vết bóc hay rách. Ổ khóa đồng vẫn móc chặt hai khoen sắt, lớp bụi mỏng phủ trên then gỗ không có vết ngón tay quẹt qua.
Đêm qua chính tay tôi khóa cửa từ đường lúc giờ Hợi.
Bà Mận rút chùm chìa khóa sắt từ thắt lưng ra, bàn tay gầy guộc tra chiếc chìa dài vào miệng thú bằng đồng.
Chìa khóa này cả đêm nằm dưới gối đầu giường của tôi. Giấy niêm phong do chính tay Tạ lão thái gia dán từ hôm bắt đầu làm tang. Không ai mở cửa, cửa sổ trên cao đều có chấn song sắt đóng đinh chết vào tường gạch.
Khóa bật ra một tiếng cạch khô khốc. Bà Mận xé mép giấy niêm phong màu đỏ, từ từ đẩy hai cánh gỗ lim vào trong.
Bản lề rỉ sét rít lên ken két. Luồng không khí lạnh buốt, ẩm mốc đặc mùi dầu trẩu và khói nhang cũ từ bên trong phả thẳng ra ngoài sân.
Tôi bước qua ngạch cửa cao nửa thước, đứng ở mép gian tiền đường nhìn vào.
Từ đường nhà họ Tạ chia làm ba gian, gian giữa đặt hương án bằng gỗ hồng sắc chạm hoa văn mây cuộn. Phía sau hương án là bệ thờ giật cấp bằng gỗ lim đen bóng, chia làm bảy tầng, tượng trưng cho bảy đời gia chủ tính từ ngày cụ tổ họ Tạ đưa dòng họ về lập nghiệp bên bờ kênh Thanh Khê.
Trên bảy tầng gỗ ấy, hơn bốn mươi tấm bài vị làm bằng gỗ táo đỏ, cao chừng một gang tay, khắc tên tuổi thụy hiệu của các bậc tiền nhân bằng chữ thếp vàng. Riêng ở góc dưới cùng bên hữu bệ thờ đặt một tấm bài vị trống bằng gỗ thị trắng, bề mặt mộc mạc chưa khắc bất kỳ chữ nào, vốn để dành cho người mất tiếp theo trong nhánh trưởng.
Lúc này, toàn bộ bài vị trên bệ thờ đều đã quay ngược một trăm tám mươi độ.
Hơn bốn mươi tấm bài vị gỗ táo đỏ trên cả bảy bậc thềm thờ đều úp mặt chữ thếp vàng sát vào vách tường xám phía sau. Toàn bộ phần lưng quét sơn ta đen bóng của các bài vị đồng loạt hướng thẳng ra cửa chính, chĩa thẳng vào vị trí tôi và Minh Thành đang đứng. Ngay cả tấm bài vị trống bằng gỗ thị trắng ở góc dưới cũng bị xoay mặt phẳng ra sau, để lộ thớ gỗ mộc quay về phía ngạch cửa.
Không một tấm bài vị nào bị xô lệch khỏi hàng. Khoảng cách giữa các tấm gỗ đều tăm tắp, thẳng đứng và ngay ngắn như vừa được đo đạc từng phân rồi cẩn thận xoay lại.
Minh Thành vừa nhìn thấy cảnh tượng đó liền lùi lại hai bước, gót chân va mạnh vào ngạch cửa bằng đá, cả người lảo đảo.
Tổ tiên... Tổ tiên quay lưng lại rồi...
Hai hàm răng Minh Thành va vào nhau phát ra tiếng lập cập.
Các cụ không nhận nhang đèn nữa. Các cụ muốn bỏ mặc cái nhà này...
Câm mồm!
Tiếng quát già nua vang lên từ phía sau lưng chúng tôi.
Tôi quay đầu lại. Tạ lão thái gia đang đứng ở giữa sân, hai bàn tay chống lên cây gậy gỗ mun bịt bạc. Ông mặc bộ áo dài lụa màu hạt dẻ cài khuy đồng, mái tóc bạc trắng chải chuốt cẩn thận ra sau, khuôn mặt vuông vức phủ đầy đốm đồi mồi nhưng đôi mắt vẫn sáng quắc, sắc lạnh.
Hai người đàn ông trung niên trong họ đi sau ông, nét mặt căng thẳng, cúi gầm mặt xuống.
Tạ lão thái gia bước qua ngưỡng cửa từ đường. Đôi giày vải đế dày của ông dẫm lên nền gạch nung phát ra tiếng trầm đục. Ông đi thẳng đến trước bàn hương án, ngước nhìn bảy tầng bài vị đang quay lưng lại, lông mày rậm bạc trắng nhíu chặt.
Có gì mà phải hoảng loạn?
Lão thái gia gõ mạnh đầu gậy mun xuống sàn gạch.
Nhà cổ lâu năm, xà gồ ẩm mục, mấy con chuột cống ngoài bờ kênh chui rúc vào gầm bàn thờ chạy qua lại làm xô lệch mấy tấm gỗ. Lũ người trẻ các người chỉ giỏi chuyện bé xé ra to!
Ông nội...
Minh Thành chỉ tay lên bệ thờ, giọng run rẩy.
Chuột nào chạy mà làm quay được toàn bộ bài vị cùng một lúc? Kể cả tấm bài vị trống bằng gỗ thị kia cũng bị quay ngược. Lại không làm đổ một tấm nào...
Tôi bảo chuột làm thì là chuột làm!
Tạ lão thái gia trừng mắt nhìn Minh Thành. Ánh mắt hung tợn khiến Minh Thành lập tức ngậm miệng, cúi đầu xuống không dám cãi lại.
Lão thái gia quay sang Bà Mận, hạ giọng ra lệnh:
Đi lấy một chậu nước giếng sạch, pha thêm rượu trắng. Lau sạch từng tấm bài vị rồi xoay mặt các cụ trở lại như cũ. Thắp thêm chín nén nhang trầm, đặt lên bàn thờ tổ. Chuyện này cấm ai được hé răng nửa lời ra ngoài trấn. Nếu để người ngoài đồn đại nhà họ Tạ bị tổ tiên quở trách trong lúc đang làm tang lễ, tôi sẽ đuổi thẳng cổ người đó ra khỏi họ!
Bà Mận khẽ cúi đầu, vâng một tiếng rồi lẳng lặng quay người đi về phía chái bếp.
Tôi vẫn đứng nguyên bên ngạch cửa, ánh mắt dừng lại ở chân bàn hương án. Dưới lớp rèm thêu chỉ vàng phủ rủ xuống sàn gạch, có một vệt ướt hình bán nguyệt in trên nền đá, mép vệt nước còn sót lại vài sợi rêu xanh mềm nhũn từ giếng cổ đá ong. Đó không phải dấu vết của loài gặm nhấm.
Tạ lão thái gia lúc này chuyển tầm mắt sang tôi. Ánh nhìn của ông dừng lại trên mặt tôi rất lâu, lạnh lẽo và dò xét.
Dư An, hôm qua cháu về đến nơi lúc mấy giờ?
Cháu về đến cửa lúc sáu giờ tối, thưa ông.
Tôi đáp, mắt nhìn thẳng vào đồng tử màu xám đục của ông.
Đêm qua ngủ ở gian phòng phía tây có quen không?
Ông hỏi tiếp, ngón tay cái miết lên đầu bạc của cây gậy mun.
Nhà cũ ven kênh nhiều muỗi mòng, ẩm thấp. Nếu thấy mệt thì bảo Minh Thành đưa ra khách sạn ngoài thị trấn mà ở, việc tang ma trong họ đã có người lớn lo liệu.
Cháu ở phòng tây rất tốt.
Tôi bình tĩnh nói.
Chỉ có điều đêm qua ngoài cửa có tiếng gõ ba nhịp cách đều. Sáng ra cháu mở cửa thì thấy trên bậc thềm có vệt bùn đen kéo dài, một dấu chân mang giày thêu hoa sen bên trái và một dấu chân trần bên phải.
Căn phòng từ đường im bặt.
Hai người họ hàng đứng sau lưng lão thái gia đưa mắt nhìn nhau, sắc mặt tái đi. Minh Thành đứng nép bên cột gỗ lim, trán túa ra lớp mồ hôi hột.
Tạ lão thái gia không chớp mắt. Khóe miệng ông hơi giật một cái, nhưng nét mặt già nua vẫn giữ nguyên vẻ uy nghiêm:
Đêm hôm mưa gió, sương mù dày đặc, nhìn gà hóa cuốc là chuyện thường tình. Cháu mệt quá nên nhìn nhầm. Lát nữa bảo nhà bếp nấu cho bát canh hạt sen an thần mà uống.
Không phải nhìn nhầm đâu ông.
Tôi nói tiếp, giọng rành rọt từng chữ.
Vệt bùn đó kéo thẳng từ cửa phòng cháu vào tận trong từ đường này. Dưới chân bàn thờ tổ tiên lúc này vẫn còn rêu nước giếng. Đêm qua chị dâu Uyển Nghi đã đi một vòng khắp nhà.
Câm miệng lại!
Tạ lão thái gia quát lớn, mặt đỏ bừng. Cây gậy mun trong tay ông đập mạnh xuống nền đá phát ra tiếng chát chói tai.
Con bé ngỗ ngược này! Mới đi xa mấy năm đã học đâu cái thói nói năng xằng bậy, bôi nhọ thanh danh gia tộc trước bàn thờ tổ tiên? Uyển Nghi đã nằm yên trong quan tài gỗ bách ở sảnh tang, nắp hòm đã buộc dây xơ dừa ngâm vôi, làm sao mà đi lại được? Cháu còn dám mở miệng nói càn, tôi sẽ cho người khóa cửa phòng tây lại, nhốt cháu trong đó cho đến khi đưa tang xong xuôi!
Tôi không đáp lại, chỉ im lặng nhìn ông.
Lão thái gia xoay người, quay sang một người đàn ông trung niên trong họ, ghé sát tai người đó nói nhỏ vài câu. Người đàn ông kia gật đầu liên tục, mặt mày tái mét rồi vội vã chạy ra phía sảnh tang.
Một lát sau, người đàn ông đó cùng một người làm công quay lại, trên tay họ khiêng theo một chiếc gương đồng hình bát quái lớn bằng cái mâm đồng, gắn trên giá đỡ bằng gỗ chạm khắc hoa văn cổ. Mặt gương bằng đồng thau được đánh bóng, nhưng bề mặt có một lớp gợn màu vàng xỉn.
Mang gương sang sảnh tang, đặt ngay trước linh sàng của Uyển Nghi.
Tạ lão thái gia ra lệnh, giọng khàn đặc.
Đặt mặt gương quay thẳng vào chân giường tang, nghiêng một góc hướng về phía cửa ra vào. Đốt thêm một đĩa sáp ong để dưới chân giá gương.
Đặt gương trước linh sàng để làm gì vậy ông?
Tôi cất tiếng hỏi.
Lão thái gia liếc nhìn tôi bằng nửa con mắt, giọng lạnh băng:
Tục ở trấn Thanh Khê, người chết trẻ chưa tròn ba mươi tuổi khi quàn linh cữu phải đặt gương đồng soi linh sàng để ngăn uế khí bay ra ngoài làm ô uế nhà cửa. Cháu không hiểu lệ thì đừng hỏi nhiều.
Bà Mận bưng chậu nước giếng đi vào, đặt lên bàn thờ rồi bắt đầu dùng khăn trắng lau từng tấm bài vị gỗ táo đỏ. Khi bà nhấc từng tấm gỗ xoay mặt lại, những hạt bụi màu đỏ bay lơ lửng trong không khí mù mịt khói trầm. Tấm bài vị trống bằng gỗ thị trắng cũng được bà lau sạch rồi đặt ngay ngắn lại góc bệ thờ.
Tạ lão thái gia không ở lại từ đường. Ông chống gậy, chậm rãi bước ra ngoài, đi thẳng sang phía sảnh tang để coi sóc việc đặt chiếc gương đồng. Minh Thành và hai người họ hàng vội vã đi theo sau.
Tôi đứng nán lại trong từ đường, nhìn Bà Mận đang cặm cụi lau chùi.
Bà Mận.
Tôi bước lại gần bàn thờ, nói nhỏ.
Chiếc gương đồng đó không phải dùng để ngăn uế khí đúng không?
Bà Mận không quay đầu lại, tay vẫn miết khăn ướt lên tấm bài vị của cụ cố đời thứ tư họ Tạ. Giọng bà khẽ khàng:
Gương đồng xưa hay đặt trước linh sàng theo lệ, người sống nhìn vào thì chỉ thấy mặt mình. Còn đặt gương để làm gì thì bà cũng chỉ nghe các cụ truyền lại, không dám nói chắc. Còn vì sao trong nhà cấm không cho bước qua ngạch cửa sảnh tang, bà cũng chỉ nghe vậy.
Nhưng chị ấy có sợ không?
Tôi hỏi.
Bà Mận dừng tay lại một nhịp:
Chuyện đó bà cũng không dám nói chắc, cô Dư An cứ tránh đứng gần chiếc gương đó thì hơn.
Bà Mận đặt tấm bài vị xuống bệ thờ, cẩn thận xoay mặt chữ thếp vàng ra phía trước. Xong việc, bà nhìn tôi bằng đôi mắt đục:
Đừng đứng gần chiếc gương đó. Lệ cũ vẫn vậy, người sống ban ngày nhìn vào thì không sao; chuyện đêm hôm ra sao bà cũng không dám nói.
Nói xong, bà bưng chậu nước đen ngòm bước ra khỏi từ đường.
Tôi đi theo bà ra ngoài sân, rẽ dọc hành lang dẫn sang sảnh tang chính.
Gian sảnh tang đã được bài trí lại. Cỗ quan tài gỗ bách lớn quấn chín vòng dây xơ dừa ngâm vôi nằm sừng sững ở giữa phòng. Phía trước quan tài là linh sàng, một chiếc giường tre nhỏ trải chiếu cói trắng, bên trên đặt bộ quần áo tang màu trắng của người chết cùng đôi hài giấy dành cho người âm.
Chiếc gương đồng bát quái lớn đã được đặt trên giá gỗ ở cuối chân giường tang. Mặt gương đồng màu vàng xỉn phản chiếu toàn bộ không gian của sảnh tang: những dải lụa trắng treo rủ từ xà nhà, ngọn nến trắng leo lét trên bàn thờ và cỗ quan tài gỗ bách sẫm màu.
Dưới chân giá gương, một đĩa sáp ong màu vàng đục đang cháy với ngọn lửa nhỏ, tỏa ra mùi khét của mỡ động vật.
Minh Thành và mấy người họ hàng đều đã rút ra ngoài sân ngồi uống trà, không ai nán lại trong sảnh tang. Tạ lão thái gia cũng đã về phòng nghỉ ngơi ở hậu viện.
Gian sảnh tang rộng lớn chỉ còn lại tôi đứng đối diện với chiếc linh sàng và cỗ quan tài gỗ bách.
Mùi nước giếng tanh nồng vẫn lởn vởn trong không khí, bám vào từng thớ vải trên người tôi.
Tôi bước từng bước chậm rãi lại gần chiếc linh sàng. Đôi giày thể thao của tôi dẫm lên lớp gạch hoa cũ phát ra tiếng ma sát khẽ.
Tôi dừng lại trước chiếc gương đồng bát quái.
Mặt gương bằng đồng thau hơi lồi lên ở giữa, các cạnh viền chạm khắc hình bát quái và biểu tượng mây nước. Bề mặt gương mờ đục, phản chiếu lại hình ảnh của tôi trong chiếc áo khoác đen, gương mặt nhợt nhạt và mái tóc buộc gọn sau gáy.
Tôi nhìn vào hình ảnh phản chiếu của chính mình trong lòng gương thau.
Ánh sáng vàng vọt của ngọn nến trắng từ bàn thờ hắt lên mặt gương, tạo thành một quầng sáng bao quanh bóng tôi. Phía sau lưng tôi trong gương là cỗ quan tài gỗ bách và khoảng sân sau mờ tối.
Tôi chớp mắt.
Trong mặt gương đồng, hình ảnh phản chiếu của tôi không thay đổi, nhưng ở khoảng trống phía sau vai trái của tôi, lớp sương mờ màu vàng xỉn của mặt gương đặc quánh lại.
Một bóng người hiện rõ dần trong lòng gương.
Đó là một người phụ nữ mặc bộ áo cưới màu đỏ thẫm rách bươm, vạt áo ướt sũng dính chặt vào thân thể gầy guộc. Tóc người đó dài quá thắt lưng, ướt rượt và bết dính đầy bùn đen, rủ xuống che kín nửa khuôn mặt xám ngoét. Dưới vạt áo đỏ thẫm buông thõng, chân trái chị mang chiếc giày thêu hoa sen đỏ, còn chân phải để trần với những ngón chân thâm đen dính bùn giếng.
Lâm Uyển Nghi đang đứng ngay sát sau lưng tôi trong lòng gương.
Tôi nín thở, hai chân đứng chặt trên nền gạch. Mắt tôi dán vào hình ảnh phản chiếu trong mặt đồng thau.
Uyển Nghi không nhìn tôi. Đôi mắt thâm đen của chị nhìn chằm chằm xuống đôi bàn tay của chính mình.
Hai cánh tay gầy bợt bạt và tím tái của chị giơ lên ngang ngực. Những ngón tay dài uốn cong lại tạo thành tư thế của một người mẹ đang bế bồng đứa con sơ sinh trên tay.
Nhưng giữa hai cánh tay co lại của Uyển Nghi là một khoảng trống rỗng.
Không có đứa trẻ nào ở đó.
Hai bàn tay của chị ôm lấy một khoảng không vô hình, ép chặt khoảng trống ấy vào phần bụng đã xẹp lép, rách toạc dưới lớp áo cưới màu đỏ thẫm.
Hình ảnh Uyển Nghi trong gương đồng từ từ ngẩng đầu lên. Đôi mắt trắng dã không có con ngươi của chị nhìn thẳng vào mắt tôi qua mặt gương thau lồi, đôi môi thâm sì khẽ mấp máy mở ra thành một nụ cười méo mó.