Tử Mẫu Song Sát - Chương 15: Bài Vị Trống
Mười lăm phút sau giờ Thìn, sương mù từ sông Thanh Khê tràn qua bờ kè đá, len lỏi vào các ngõ ngách của trấn rồi đọng lại thành một màn nước đùng đục…
Nội dung chương
Mười lăm phút sau giờ Thìn, sương mù từ sông Thanh Khê tràn qua bờ kè đá, len lỏi vào các ngõ ngách của trấn rồi đọng lại thành một màn nước đùng đục trên mái ngói âm dương của Tạ phủ. Nước mưa đọng từ đêm trước rỉ rả rơi từ máng xối xuống nền sân lát đá xanh, tạo thành những tiếng đập đều đặn, khô khốc.
Tôi ngồi ở bậc cửa đông sương phòng, dùng một mẩu giẻ vụn tẩm dầu trẩu lau sạch những vết bùn đất bám trên ống quần. Mùi ẩm mốc của rêu phong lâu năm quyện với mùi nhang bài ngâm tẩm hương liệu rẻ tiền tạo nên một thứ không khí đặc quánh, dính ráp vào da thịt. Mọi sinh hoạt trong phủ vẫn diễn ra theo trật tự câm lặng. Gia nhân đi lại bằng mũi chân, đầu cúi gằm, hai tay nép sát vào vạt áo chàm. Không có tiếng quát tháo thường ngày của quản sự, cũng không có tiếng chim hót trong lồng tre treo dưới mái hiên phía tây. Cả trạch viện giống hệt một cái hòm gỗ khổng lồ bị chôn nửa chừng dưới lòng đất, người bên trong thở khẽ vì sợ làm kinh động đến phần đất bên trên.
Tôi bước vào linh đường để làm phần việc của mình: châm thêm dầu cải vào bốn ngọn đèn hạt đậu đặt ở bốn góc hương án.
Cỗ quan tài bằng gỗ bách vẫn nằm bất động ở gian chính. Hai chiếc đinh sắt dài bảy tấc đóng chặt ở đầu lớn và đầu nhỏ của nắp ván, đầu đinh chìm sâu vào thớ gỗ, chỉ để lại hai vết lõm tròn trám đầy sáp ong pha tro giấy. Chiếc đĩa đồng đặt ở mép tây nam của áo quan vẫn nằm nguyên vị trí cũ. Cây đinh thứ ba nằm trơ trọi trên mặt đĩa, vệt rỉ đỏ sẫm chảy ra từ thân đinh đêm qua nay đã khô đặc lại, biến thành một lớp màng màu cánh gián giòn vụn, dính chặt thân đinh vào đáy kim loại.
Tôi cầm bầu dầu bằng đồng tiến lại gần bàn thờ linh vị.
Bàn thờ gỗ trắc kê sát tường hậu phủ một tấm vải điều đã phai màu sang sắc bầm của tiết lợn luộc. Trên mặt bàn, ngoài bát hương gang ba chân và đĩa đựng năm quả táo tàu héo quắt, vị trí trung tâm đặt linh vị của người chết đã có sự thay đổi.
Tấm bài vị bằng gỗ sơn then thếp vàng có khắc dòng chữ "Khảo Lâm môn Uyển Nghi chi linh vị" mà tôi nhìn thấy vào ngày nhập liệm đầu tiên đã biến mất.
Thay vào chỗ của nó là một khúc gỗ mộc thô nhám. Miếng gỗ này cao chừng tám tấc, rộng ba tấc, dày chừng ngón tay cái, được xẻ ra từ thân cây liễu mục. Các cạnh gỗ còn nguyên vết răng cưa nham nhở, dăm gỗ dựng đứng tua tủa, chưa hề qua bàn tay của thợ mộc gọt giũa hay đánh bóng bằng giấy nhám. Quan trọng hơn cả, mặt trước của tấm gỗ phẳng lì, trắng bệch màu xơ gỗ phơi sương, không có một vết mực son, không có một nét đục chạm, tuyệt nhiên không có lấy một chữ để định danh người nằm trong quan tài.
Một tấm bài vị trống trơn.
Tiếng gậy gỗ trắc bọc đồng nện lục cục xuống mặt sàn gạch tàu phía sau lưng tôi. Âm thanh ngắt quãng, nặng nề, kèm theo tiếng thở khò khè kéo đờm trong cổ họng của người già.
Tôi quay người lại. Tạ lão thái gia đứng ở ngưỡng cửa linh đường. Lão mặc chiếc áo dài bằng lụa dệt hoa văn chữ Thọ tối màu, vạt áo bên phải có một vệt ố màu nước chè khô. Đôi mắt lão bị phủ một lớp màng mộng thịt đùng đục của tuổi tác, mí mắt sụp xuống khiến con ngươi trông như hai hòn sỏi xám ngâm trong nước gạo. Hai bàn tay gầy guộc nổi đầy đồi mồi bấu chặt lấy đầu gậy hình đầu rồng.
Lão không nhìn vào áo quan, ánh mắt lão ghim thẳng vào bàn tay tôi đang cầm bầu dầu lơ lửng trên bàn thờ.
Đặt dầu xuống.
Giọng lão khàn đặc, các thanh âm dính vào nhau như bị ép qua một khe nứt hẹp.
Tôi đặt bầu dầu đồng xuống mặt bàn cạnh đĩa táo khô, lùi lại nửa bước theo đúng quy củ của kẻ dưới.
Thưa lão thái gia, bài vị của thiếu phu nhân...
Đó là bài vị của nó.
Lão thái gia cắt ngang lời tôi. Lão nhấc chân qua bậc cửa gỗ lim cao nửa thước, bước từng bước chậm chạp đến trước hương án. Đầu gậy gỗ nện xuống phát ra những tiếng cộp cộp dứt khoát.
Lâm Uyển Nghi đã chết. Theo lệ cũ, phụ nữ chết khi bụng mang dạ chửa thì bài vị không được ghi tên. Lý do vì sao thì ông cũng chỉ theo lệ.
Lão dừng lại cách tôi ba bước chân, mùi dầu gió lẫn mùi vải vóc ẩm mốc tỏa ra từ nếp áo lão nồng nặc.
Trong nhà họ Tạ, phụ nữ chết khi bụng mang dạ chửa thì bài vị không được ghi tên. Cụ thể vì sao thì tổ tiên để lại lệ ấy như thế, ông cũng chỉ theo lệ. Đó là chuyện của các cụ, không phải chuyện ông tự đặt ra.
Nhưng thưa lão thái gia, không đề tên họ thì cúng tế thế nào?
Lão thái gia chống hai tay lên đầu gậy, lưng còng xuống, nhìn chăm chăm vào tấm gỗ liễu trần trụi.
Không cúng người, chỉ cúng lệ. Tấm gỗ không tên là vật thay thế bài vị. Sau tuần đầu, đưa quan tài xuống thuyền chở ra bãi tha ma ngoài bãi bồi, đốt tấm gỗ này đi là xong lệ. Đó là lệ cũ của đất này, người ngoài như cô không cần hiểu sâu, chỉ cần giữ đúng phận sự.
Lão nói xong, đưa mắt quét qua chiếc đĩa đồng đặt cây đinh thứ ba bên hông quan tài. Cơ mặt lão giật nhẹ một cái, đuôi lông mày hoa râm hơi co lại, nhưng lão không nói thêm lời nào về cây đinh rỉ máu. Lão xoay người, tiếng gậy gỗ lại nện đều đặn trên nền gạch, chậm rãi rời khỏi linh đường.
Bà Mận từ ngoài hành lang bước vào, hai tay bưng một bát cơm cúng bằng gốm thô màu xám.
Bát cơm nén chặt, vun cao thành ngọn, nhưng trên mặt cơm không hề cắm đôi đũa tre như phong tục thông thường dành cho người chết. Bát cơm trơn trụi, phẳng lặng, bên cạnh đặt một chén nước lã múc từ chum nước mưa đầu hồi.
Bà Mận đặt bát cơm trước tấm bài vị trống, động tác thành thạo và lạnh lùng như một cái máy đã vận hành qua nhiều đời tang lễ. Khi thấy tôi vẫn đứng nhìn tấm gỗ liễu mục, bà lấy vạt tạp dề lau khô những giọt nước đọng trên tay.
Đừng nhìn lâu vào chỗ không có chữ. Cụ thể vì sao thì bà cũng không dám nói chắc.
Bà Mận nói, giọng trầm thấp, mắt nhìn nghiêng ra phía sân sương mù.
Lệ làng này từ thời trước đến nay đều thế. Người chết đuối mất xác thì đắp mộ gió, người chết trùng tang phải giấu họ, còn đàn bà chết khi mang thai thì tước bỏ tên trên bàn thờ. Cụ thể vì sao thì bà cũng không dám nói, chỉ theo lệ. nhận được bấy nhiêu lời thôi. Mau châm dầu rồi ra ngoài khiêng củi, tro giấy tiền sắp hết rồi.
Bà Mận quay lưng đi thẳng ra phía nhà bếp, tiếng dép cỏ xào xạc trên thềm đá ẩm ướt rồi chìm hẳn vào tiếng mưa phùn rả rích.
Linh đường lại rơi vào khoảng không gian tĩnh mịch của buổi trưa.
Tôi đứng yên tại chỗ, lắng tai nghe ngóng. Gia nhân trong phủ lúc này đều đã tập trung ở nhà đông để ăn bữa cơm trưa đạm bạc gồm dưa muối và cháo hoa. Tiếng bát đũa va chạm lách cách từ phía xa vọng lại rất nhỏ, bị chặn đứng bởi những bức tường gạch dày và màn sương đặc quánh ngoài sân.
Tôi bước lại gần bàn thờ.
Bầu không khí xung quanh hương án lạnh hơn nhiệt độ thông thường ngoài trời chừng vài độ. Ngọn lửa của bốn cây đèn dầu cải cháy đứng im, không hề lay động dù có luồng gió lùa qua khe cửa sổ. Mùi dầu hôi nồng nặc lấn át cả mùi nhang trầm.
Tôi vươn tay ra, chạm vào tấm bài vị bằng gỗ liễu.
Bề mặt gỗ thô ráp cọ vào lòng bàn tay tôi. Trọng lượng của nó nặng hơn nhiều so với một thanh gỗ liễu mục cùng kích thước. Gỗ liễu vốn xốp và nhẹ, nhưng khi tôi nhấc thanh gỗ lên khỏi mặt đế cắm, sức nặng của nó ghì cổ tay tôi xuống giống như đang cầm một thỏi chì đúc đặc.
Mặt trước tấm gỗ trơn lùi, trắng bệch. Tôi lật mặt sau lại.
Lớp bụi gỗ bám dính lấy ngón tay cái của tôi. Dưới ánh sáng mờ nhạt hắt ra từ ngọn đèn dầu bên trái hương án, tôi nhìn thấy những rãnh cạo nông sâu không đều nằm dày đặc trên mặt sau của thanh gỗ.
Đó không phải là các vết nứt tự nhiên do gỗ co ngót, cũng không phải đường vân gỗ liễu.
Đó là những vết khắc có chủ ý. Người khắc đã dùng một vật kim loại có đầu nhọn hoắt, có thể là một mũi dùi sắt hoặc đầu một chiếc đinh lớn, cạo mạnh vào thớ thịt của gỗ khi nó còn tươi.
Các đường khắc tạo thành một chuỗi ký hiệu hình học kỳ dị: một vòng tròn không khép kín, phần đáy vòng tròn bị bẻ gãy gập vào trong, và đâm xuyên qua tâm vòng tròn là ba đường thẳng song song nằm nghiêng một góc bốn mươi lăm độ. Ở điểm giao nhau của ba đường thẳng với vòng tròn vỡ, thớ gỗ bị khoét sâu thành một lỗ tròn nhỏ bằng hạt đậu đen, đáy lỗ còn đọng lại một chất bột màu xám đen khô cứng.
Tôi đưa ngón tay trỏ miết nhẹ qua từng đường rãnh.
Độ sâu của rãnh gỗ, khoảng cách giữa ba đường thẳng song song và góc bẻ gãy của vòng tròn khuyết này hoàn toàn trùng khớp với những vết cạo mà tôi đã nhìn thấy hai ngày trước trên thành đá của miệng giếng cạn phía tây viện.
Không chỉ có thế. Hình dạng của ba đường thẳng đan chéo này giống hệt những ký hiệu mờ nhạt bị rỉ sét ăn mòn trên phần thân của cây đinh thứ ba đang nằm trên chiếc đĩa đồng cạnh quan tài.
Đây có vẻ không phải là một lệ tục ngẫu nhiên.
Việc giấu tên có lẽ còn liên quan đến thành giếng và thân đinh, nhưng tôi chưa rõ mối liên hệ này là gì. Tôi chỉ có thể ghi nhận các dấu hiệu, chưa đủ bằng chứng để kết luận.
Tôi nhìn sâu vào lỗ tròn nhỏ ở giữa ký hiệu khắc trên bài vị. Chất bột màu xám đen đọng bên trong không phải là tro hương. Nó có mùi tanh nồng của bùn đáy ao lâu năm không thấy ánh mặt trời.
Tôi cúi thấp người xuống, nhìn vào chân đế cắm bài vị trên mặt bàn thờ gỗ trắc.
Chân đế là một khối gỗ hình chữ nhật có khoét một khe hẹp vừa vặn với độ dày của tấm bài vị. Khi tôi nhấc tấm gỗ lên, trong khe cắm lộ ra một lớp bùn dẻo quánh màu xám tro, còn ướt và dính nhớp. Lẫn trong lớp bùn ấy là một mớ sợi màu đen dài ngoằng, mảnh như tơ, quấn chặt lấy phần đáy của thanh gỗ liễu.
Tôi dùng đầu móng tay gắp một sợi lên.
Đó là tóc của phụ nữ. Tóc đen, dài hơn hai thước, đầu sợi tóc còn dính một mẩu da đầu khô khốc bằng hạt tấm.
Một làn gió lạnh từ cửa sau linh đường thốc vào, ngọn lửa của bốn cây đèn dầu hạt cải đồng loạt ngả rạp sang một bên, tim đèn phát ra tiếng nổ lách tách nhỏ như tiếng hạt vừng nứt trên chảo nóng.
Tôi vội vàng đặt tấm bài vị gỗ liễu trở lại vào khe cắm trên chân đế. Chân gỗ vừa chạm đáy khe bùn, phát ra một tiếng "phập" ướt át.
Đúng lúc ngón tay tôi vừa rời khỏi mặt gỗ, từ bên trong cỗ quan tài gỗ bách đóng kín hai đinh sắt, có tiếng động truyền ra.
Âm thanh phát ra từ mặt trong của tấm ván thiên, ngay dưới lớp sáp ong trám kín vết đinh đầu lớn:
Cộc.
Cộc.
Cộc.
Ba tiếng gõ khô khốc, chậm rãi, cách nhau đúng một nhịp thở, như thể có ai đó ở bên trong dùng khớp ngón tay gõ ngược lên nắp áo quan để hồi đáp lại việc tấm bài vị vừa được cắm vào chân đế.