Tử Mẫu Song Sát - Chương 14: Người Không Được Gọi Tên
Cây đinh thứ ba nằm im trên chiếc đĩa đồng đặt cạnh mép nắp áo quan gỗ bách, ngay chỗ Trình Cửu An đã kẹp đặt lại từ đêm hôm trước. Thân đinh bằng sắt…
Nội dung chương
Cây đinh thứ ba nằm im trên chiếc đĩa đồng đặt cạnh mép nắp áo quan gỗ bách, ngay chỗ Trình Cửu An đã kẹp đặt lại từ đêm hôm trước. Thân đinh bằng sắt đen nhánh, dài bảy tấc, phần đầu dẹt có vết mài bóng loáng. Trình Cửu An đem nó về từ đêm hôm trước, đặt xuống đĩa rồi không nói thêm câu nào, bỏ về gian chái phía tây đóng chặt cửa.
Sáng sớm hôm sau, trời Thanh Khê phủ một lớp sương đục ngầu mùi bùn rêu.
Thím Hai dậy từ lúc ba khắc sau canh năm. Bà ngồi xổm bên giếng nước ở góc sân sau, cọ rửa mớ tã lót bằng vải thô bằng một thanh gỗ dẹt. Tiếng đập huỳnh huỵch nện xuống mặt đá xanh vang đều đặn trong không gian ẩm ướt. Minh Thành đứng tựa cửa bếp, mắt thâm quầng, tay bưng bát cháo hoa nguội ngắt không buồn nuốt.
Tôi bước ra hiên, nhìn đứa trẻ nằm trong chiếc nôi đan bằng tre cật đặt ở góc hành lang có mái che. Đứa bé không khóc, mắt mở to nhìn chăm chú lên những thanh xà gồ bám đầy bồ hóng. Từ lúc Lâm Uyển Nghi qua đời, đứa trẻ này chưa từng cất tiếng khóc to thành tiếng, chỉ thỉnh thoảng phát ra những âm thanh rúc rích khe khẽ nơi cuống họng.
Thím Hai bưng chậu gỗ đầy nước giặt đi ngang qua chiếc nôi. Bà dừng chân, cúi người xuống nhìn mặt đứa bé. Đôi mắt thím đờ đẫn, khóe miệng khẽ giật lùi về phía mang tai tạo thành một nụ cười gượng gạo.
Bà giơ bàn tay thô ráp, ướt sũng nước lạnh vỗ nhẹ lên mép nôi, cất giọng the thé:
Bảo Sinh à, hôm nay trời rét, dậy bú sữa đi con.
Minh Thành đứng ở cửa bếp lập tức đánh rơi chiếc bát sành. Bát vỡ tan trên nền đất nện, cháo hoa trắng nhờ nhợt bắn tung tóe lên ống quần anh ta.
Minh Thành lao tới giật mạnh cánh tay thím Hai lùi lại phía sau, mặt cắt không còn giọt máu:
Mẹ! Mẹ vừa gọi ai đấy?
Thím Hai chớp mắt liên hồi. Nụ cười trên mặt bà tắt lịm, thay vào đó là vẻ hoang mang tột cùng. Bà nhìn đứa trẻ trong nôi, rồi lại nhìn xuống bàn tay còn dính bọt xà phòng của mình.
Mẹ... mẹ đâu có gọi ai. Mẹ thấy đứa nhỏ lạnh thì dỗ nó thôi.
Rõ ràng mẹ vừa gọi tên anh cả.
Minh Thành nắm chặt cổ tay mẹ mình, gân xanh trên trán nổi rõ từng đường.
Anh Bảo Sinh chết từ hai mươi lăm năm trước rồi. Lúc đẻ ra dính liền với con, thầy lang phải dùng dao cắt bỏ anh ấy để cứu con, mẹ quên rồi sao? Tên đó trong nhà này hai mươi lăm năm nay không ai dám nhắc tới, tại sao sáng nay mẹ lại gọi nó?
Thím Hai run rẩy, môi mấp máy nhưng không thốt nên lời. Bà nhìn chằm chằm vào khoảng trống giữa hai thanh tre của chiếc nôi, nơi đứa trẻ sơ sinh đang chớp mắt nhìn bà.
Tôi đứng bên cạnh, quan sát từng chuyển động của thím Hai. Bàn tay bà có những vết chai sần sâu hoắm của người làm lụng cả đời, nhưng năm ngón tay lúc này cứng đờ, cong quắp lại như hình móng vuốt. Đứa trẻ trong nôi vẫn nằm im, không hề cử động chân tay, con ngươi đen lánh phản chiếu bóng hình méo mó của ba người chúng tôi.
Minh Thành kéo mẹ vào trong nhà chính, ép bà ngồi xuống phản gỗ rồi rót một bát nước gừng nóng bắt bà uống. Thím Hai cầm bát nước, tay run đến mức nước gừng sóng sánh tràn ra ngoài mép bát, rỏ từng giọt vàng đục xuống mặt gỗ.
Không phải mẹ cố ý.
Thím Hai lẩm bẩm, mắt nhìn dán xuống mũi giày vải.
Lúc nãy đi ngang qua nôi, mẹ thấy mặt mũi nó trắng bệch, cái trán dô ra y hệt thằng Bảo Sinh lúc mới lọt lòng. Mẹ vừa mở miệng thì cái tên ấy tự trôi ra ngoài cuống họng, không kịp giữ lại.
Minh Thành thở dốc, ngồi thụp xuống bậc cửa, hai tay ôm chặt lấy đầu.
Trấn Thanh Khê có một lệ cấm ngầm lưu truyền từ nhiều đời. Những đứa trẻ chết yểu, chết non khi chưa kịp làm lễ đặt tên đều không được lập bài vị, không được ghi vào gia phả. Người sống tuyệt đối không được gọi tên chúng trong khuôn viên nhà ở sau lễ đoạn tang, vì dân gian tin rằng âm hồn chết non không có chốn dung thân, một khi nghe thấy tên cũ sẽ lần theo tiếng gọi mà tìm về mượn xác.
Đứa trẻ con của Uyển Nghi chưa có tên. Nó sinh ra giữa đám tang của mẹ. Khi thím Hai thốt ra cái tên "Bảo Sinh", bà đã vô tình gọi đứa trẻ sơ sinh này bằng tên người con đã mất của chính mình.
Suốt buổi chiều hôm đó, bầu không khí trong Tạ gia đặc quánh lại.
Trình Cửu An không ra khỏi phòng. Tiếng kéo cắt giấy thỉnh thoảng vang lên lách cách sau cánh cửa khép hờ. Tôi mang sổ tay ra ngồi dưới mái hiên phía đông, ghi lại tỉ mỉ những gì đã diễn ra từ sáng. Từng nét mực đen khô lại trên mặt giấy ráp, bên cạnh ba cái tên của những đứa trẻ họ Tạ chết non mà tôi đã chép từ cuốn sổ tang thư ở am Ni Cô.
Trời sập tối rất nhanh. Gió mùa đông từ ngoài sông thổi thốc vào các khe cửa sổ, mang theo mùi tanh nồng của bùn lầy đáy nước. Đèn dầu trong nhà chính được thắp lên, ngọn lửa vàng vọt chao đảo liên hồi theo từng cơn gió lùa.
Đêm hôm đó, tôi không ngủ.
Tôi ngồi trên chiếc ghế tựa đặt sát cửa sổ nhìn ra khoảng sân giữa của Tạ gia. Giữa sân có một chiếc chum gốm lớn dùng để chứa nước mưa, bên cạnh là phiến đá xanh dùng làm bàn giặt giũ. Đêm mùa đông tĩnh mịch, chỉ có tiếng côn trùng rúc sâu dưới chân tường gạch và tiếng nước nhỏ giọt từ mái ngói xuống nền sân.
Đúng ba khắc sau canh ba.
Cánh cửa gian nhà ngang của thím Hai phát ra một tiếng cọt kẹt khô khốc. Bản lề gỗ cũ kỹ cọ xát vào khung cửa, tạo nên thứ âm thanh rợn người trong đêm thanh vắng.
Tôi đứng dậy, áp sát mắt vào khe cửa gỗ nhìn ra ngoài.
Thím Hai bước ra từ bóng tối của hiên nhà ngang. Bà không mang giày vải, hai bàn chân trần bước thẳng lên nền gạch ẩm ướt đầy rêu trơn. Trên người bà chỉ mặc một bộ quần áo lót bằng vải trắng mỏng manh, tóc xõa tung sau lưng.
Dáng đi của thím Hai hoàn toàn lệch khỏi quy luật thông thường. Hai đầu gối bà không hề co gập, cả thân người cứng đờ như một khúc gỗ bị ai đó kéo trượt trên mặt đất. Hai cánh tay bà buông thõng hai bên sườn, nhưng mười đầu ngón tay xòe rộng, các khớp ngón tay bẻ quặt ra phía sau một góc kỳ lạ.
Bà đi giật lùi.
Mỗi bước chân lùi lại của bà đều phát ra tiếng lẹp bẹp do da thịt ướt át dính chặt vào mặt đá xanh. Đầu thím Hai ngửa hẳn ra sau, cằm hướng thẳng lên trời, đôi mắt mở trừng trừng không hề chớp, tròng trắng chiếm gần hết hốc mắt dưới ánh trăng mờ.
Từ khóe miệng méo xệch của bà, một chuỗi âm thanh lầm bầm phát ra đều đặn:
Bảo Sinh... theo mẹ về phòng... Bảo Sinh... mẹ lấy áo mới cho con mặc...
Tiếng gọi thì thầm lướt đi trong không gian, mang theo sự lạnh lẽo kỳ quái.
Tôi mở chốt cửa, nhẹ nhàng bước ra thềm hiên. Cùng lúc đó, cánh cửa phòng Minh Thành cũng bật mở. Anh ta lao ra ngoài sân, định chạy thẳng tới ôm lấy mẹ mình.
Tôi vội vươn tay túm chặt lấy cổ áo Minh Thành, giật mạnh anh ta lại phía sau mái hiên, thấp giọng quát:
Đừng chạm vào người bà ấy lúc này. Nhìn dưới chân bà ấy xem.
Minh Thành nhìn theo hướng tay tôi chỉ.
Trên nền gạch ẩm ướt phía sau gót chân thím Hai, không chỉ có dấu chân trần của người lớn. Đi kèm với mỗi vết chân trần kéo lê của thím Hai là hai hàng dấu chân nhỏ xíu, chỉ dài bằng ngón tay cái của người lớn, in lún sâu xuống lớp rêu xanh như thể có một đứa trẻ sơ sinh đang bước đi song song cùng bà.
Dấu chân nhỏ đó không đi tiến, mà đi lùi theo từng nhịp bước của thím Hai, hướng thẳng về phía chiếc chum nước gốm lớn ở giữa sân.
Chiếc chum đó chứa đầy nước mưa từ mùa thu trước, mặt nước phẳng lặng đóng một lớp váng mỏng màu tro.
Thím Hai cứ thế đi giật lùi từng bước một về phía miệng chum. Khoảng cách giữa gót chân bà và chân chum chỉ còn lại chưa đầy nửa thước. Nếu ngửa người ngã vào trong chum nước sâu ngập đầu ấy giữa đêm đông lạnh giá, người già như bà chắc chắn sẽ nghẹt thở mà chết trước khi có ai kịp vớt lên.
Minh Thành không kìm được nữa, gào to:
Mẹ! Tỉnh lại đi!
Tiếng gào của Minh Thành xé toang màn đêm tĩnh mịch, nhưng thím Hai hoàn toàn không phản ứng. Thân người bà ngả hẳn về phía sau, lưng đã chạm vào mép chum gốm thô ráp. Một bàn chân trần của bà nhấc bổng lên khỏi mặt đất, chuẩn bị bước lùi một bước cuối cùng để trẫm mình vào lòng chum.
Đúng vào giây phút đó, một sự biến đổi kỳ dị xảy ra trên nét mặt thím Hai.
Cơ mặt cứng đờ của bà bỗng giật giật dữ dội. Hai con ngươi đang đảo ngược lên trần nhà đột ngột trượt thẳng xuống, nhìn chằm chằm vào khoảng không trống rỗng trước mặt. Bàn tay đang cong quắp của bà giơ lên, tự tát thật mạnh một cái vào má mình.
Tiếng bạt tai vang lên giòn giã giữa đêm khuya.
Vết tát in hằn năm ngón tay đỏ ửng trên gò má nhăn nheo của thím Hai. Ngay sau cái tát, bà há to miệng, cất giọng khàn đặc, gằn từng tiếng rõ ràng bằng tất cả sức lực còn lại trong lồng ngực:
Ta là Tiền Thị Quế! Gả vào họ Tạ năm mười chín tuổi! Sinh năm Giáp Thân! Ta là Tiền Thị Quế, không phải mẹ của kẻ chết trôi!
Từng chữ thốt ra đanh thép như đá tảng ném xuống đất.
Gió đêm lập tức ngừng thổi.
Thân hình thím Hai đổ sụp xuống như một bao tải trấu đứt dây, ngã nhào sang một bên mép chum, lăn lông lốc trên nền gạch ướt. Những dấu chân nhỏ xíu in trên lớp rêu xanh bỗng nhiên nhạt dần rồi biến mất hoàn toàn, chỉ để lại những vũng nước đục ngầu bốc mùi tanh của bùn rãnh.
Minh Thành lao ra ôm chầm lấy mẹ. Thím Hai nằm dưới đất, toàn thân run rẩy như cầy sấy, răng đánh vào nhau cầm cập, hai mắt nhắm nghiền, miệng chỉ còn thở ra những luồng hơi yếu ớt.
Tôi tiến lại gần chiếc chum gốm.
Trên mặt nước phẳng lặng trong chum, lớp váng tro đã bị xé toạc ra thành một vòng tròn lớn. Dưới đáy chum sâu hoắm, một chiếc áo nhỏ may bằng vải xô trắng đang lơ lửng chìm dần xuống bùn đáy, hình dáng chiếc áo y hệt cái áo mà Uyển Nghi may trong ảo ảnh tấm gương đêm qua.
Chúng tôi khiêng thím Hai vào phòng, đốt hai chậu than củi đặt quanh giường và đắp lên người bà ba lớp chăn bông dày. Đến tận khi trời hửng sáng, sắc mặt thím Hai mới bớt đi màu xám ngoét của người chết.
Tám giờ sáng hôm sau, Bà Mận chống gậy trúc bước vào cổng Tạ gia.
Bà già mù không cần ai dẫn đường, chiếc gậy trúc gõ cộc cộc trên nền đá xanh rồi dừng lại đúng vị trí chiếc chum gốm giữa sân. Bà nghiêng đầu ngửi mùi không khí ẩm ướt, khóe miệng móm mém nhếch lên.
Bà Mận đi thẳng vào phòng thím Hai, ngồi xuống chiếc ghế đẩu cạnh đầu giường.
Minh Thành quỳ bên mép giường, giọng run run kể lại toàn bộ sự việc đêm qua, từ việc mẹ mình vô thức gọi tên anh trai đã chết, cho đến cảnh bà bị dẫn đi giật lùi ra mép chum nước.
Bà Mận lắng nghe, bàn tay khô héo vuốt ve đầu gậy trúc bóng loáng. Khi Minh Thành dứt lời, bà mới chậm rãi lên tiếng, giọng nói khô khốc như tiếng lá cây cọ vào nhau:
Mẹ anh mạng lớn đấy. Cụ thể vì sao thì bà cũng không dám nói chắc, chỉ thấy bà ấy tỉnh lại được.
Tôi ngồi đối diện với Bà Mận, mở sổ tay hỏi:
Lệ làng quy định thế nào về việc này, thưa bà?
Bà Mận quay đôi mắt mờ đục về phía tôi, giải thích:
Theo lệ cũ thì người sống không được mượn danh người chết, cũng không được để người chết mượn danh mình. Cụ thể thế nào bà không dám nói, chỉ nghe các cụ truyền lại.
Bà gõ nhẹ đầu gậy xuống sàn đất:
Đứa bé trong nôi sinh ra chưa có tên. Thím Hai buột miệng gọi tên đứa con chết non năm xưa, cụ thể thế nào bà cũng không dám nói chắc. Cụ cố ngày xưa cũng dặn là cấm gọi tên đứa trẻ chưa đặt tên bằng bất kỳ tên người đã chết nào, chỉ nghe các cụ truyền lại.
Minh Thành nuốt nước bọt, hỏi dồn:
Thế tại sao mẹ cháu tự đọc tên mình thì lại thoát?
Theo lệ cũ thì người sống cần giữ danh phận của mình. Bà ấy tự xưng tên mình là giữ được.
Bà Mận đáp, ngữ điệu đều đều không chút cảm xúc.
Lúc sắp ngã xuống chum, bà ấy tự tát vào mặt cho tỉnh. Bà ấy xưng rõ họ tên Tiền Thị Quế, ngày sinh tháng đẻ, danh phận dâu họ Tạ. Bà ấy làm vậy là theo lệ cũ. Cụ thể thế nào bà cũng không dám nói chắc, chỉ nghe các cụ truyền lại.
Bà Mận dừng lại một chút, hướng mặt ra ngoài sân, nơi chiếc nôi tre vẫn đang nằm im dưới mái hiên:
Theo lệ cũ thì đứa trẻ chưa đặt tên là vật rỗng, không được gán bằng tên người đã chết. Việc thím Hai gọi tên đứa con đã mất là đại kỵ. Cụ thể tai họa ra sao thì bà không dám nói, chỉ thấy lạ.
Tôi nhìn Bà Mận, hỏi tiếp:
Nếu làm lễ đặt tên cho đứa trẻ ngay bây giờ thì sao?
Không được.
Bà Mận lắc đầu dứt khoát.
Theo lệ cũ, đứa trẻ chưa đặt tên còn liên quan đến người mẹ chết khi chưa dứt sản dịch. Muốn đặt tên cho nó, phải đợi đủ bốn mươi chín ngày, sau khi quan tài của mẹ nó được đóng đủ số đinh và hạ huyệt yên ổn. Trước ngày đó, hễ ai tự tiện ghi tên nó vào giấy tờ hay cúng bái thì theo lệ là đại kỵ, cụ thể thế nào bà không dám nói chắc.
Bà Mận đứng dậy, dùng gậy trúc dò dẫm bước ra ngoài hiên. Tôi đi theo sau bà.
Khi đi ngang qua chiếc áo quan gỗ bách trong gian chính, Bà Mận đột ngột dừng bước. Chiếc gậy trúc của bà chỉ thẳng vào chiếc đĩa đồng đặt cạnh mép nắp.
Tôi nhìn theo đầu gậy.
Cây đinh thứ ba mà Trình Cửu An đem về tối qua đã có sự thay đổi dị thường. Thân đinh bằng sắt đen nhánh lúc sáng sớm giờ đây đã bị bao phủ bởi một lớp rỉ sét màu đỏ thẫm đặc quánh. Lớp rỉ sét bám dày cộm, sần sùi như những vảy máu khô lâu ngày bị cạo ra.
Từ đầu dẹt của cây đinh, một vệt nước màu nâu sẫm đang rỉ ra, chảy chầm chậm xuống lòng chiếc đĩa đồng, tạo thành một vũng nhỏ có hình thù méo mó.
Bà Mận hít nhẹ không khí quanh bàn thờ, buông một câu lạnh ngắt:
Cây đinh này chắc có chuyện riêng.
Tôi quay sang nhìn bà:
Ý bà là sao?
Bà cũng không hiểu vì sao cây đinh này rỉ ra lớp màu đỏ như máu. Cụ thể thế nào bà không dám nói chắc, chỉ thấy lạ.
Bà Mận không giải thích thêm, chống gậy bước thẳng ra cổng lớn rồi mất hút sau làn sương mù dày đặc của trấn Thanh Khê.
Tôi quay trở lại bàn thờ, cúi người nhìn thật sát vào vệt nước màu nâu sẫm trong lòng đĩa đồng. Dưới ánh sáng le lói của ngọn đèn dầu, vệt nước rỉ ra từ chân đinh đang dần lan rộng, tạo thành hình hai chữ Hán viết ngoằn ngoèo bằng nét cổ, giống hệt hai chữ từng hiện lên trên cuốn sổ tang thư rồi biến mất hai ngày trước. Hai chữ ấy nhòe dần rồi tan thành vệt nước mỏng, tôi chỉ kịp nhìn thấy nét bộ Thủy bên trái, phần còn lại không phân biệt được.