Tử Mẫu Song Sát - Chương 13: Chiếc Gương Đen

Sương mù trên sông Tiêu Thủy dâng lên từ lúc năm giờ rưỡi sáng, luồn qua các khe cửa liếp bằng gỗ sam, biến gian buồng phía tây thành một khối lờ mờ màu…

Nội dung chương

Sương mù trên sông Tiêu Thủy dâng lên từ lúc năm giờ rưỡi sáng, luồn qua các khe cửa liếp bằng gỗ sam, biến gian buồng phía tây thành một khối lờ mờ màu tro bếp.

Tôi ngồi bên mép giường, lòng bàn tay phải vẫn còn lưu lại vệt mực đen từ cuốn sổ gia phả đêm qua. Mực Tàu ngấm sâu vào các rãnh vân tay, rửa bằng nước giếng lạnh hai lần vẫn không trôi hết, để lại một mảng ố xám xịt như vết bầm đọng dưới da thịt, bám quanh các rãnh móng tay. Chiếc điện thoại của Lâm Uyển Nghi nằm im lìm trên mặt bàn tròn. Màn hình đã tắt hẳn sau lần cảnh báo nhập sai mật mã đêm trước. Chỉ còn đúng một cơ hội thử cuối cùng.

Ngoài sân, tiếng chổi tre quét trên nền gạch tàu phát ra từng nhịp xào xạc đều đặn.

Tôi đẩy then cài bước ra ngoài. Không khí sáng sớm ở trấn Thanh Khê lúc nào cũng mang theo mùi bùn ướt và mùi tro tiền giấy chưa cháy hết trôi dạt từ các con ngõ lân cận. Bà Mận đang lom khom dọn đống lá ngô đồng rụng quanh thềm đá. Chiếc quan tài gỗ bách ở gian chính vẫn nằm nguyên vị trí cũ. Hai chiếc đinh sắt lớn cắm ngập vào mép nắp từ mấy hôm trước đã rỉ một lớp vảy nâu đỏ; riêng chiếc đinh thứ ba rơi khỏi đĩa đồng đêm qua thì vẫn nằm dưới kẽ gạch, đầu đinh hướng thẳng về phía ngạch cửa. Quanh rãnh nắp quan, vệt nước đen rỉ ra từ tối muộn nay đã khô quánh lại thành một đường viền sẫm màu, bốc lên mùi ngai ngái của rêu ẩm lẫn mỡ trâu.

Bà Mận không ngẩng đầu lên, chỉ đưa cán chổi hất nhẹ một nắm tro lá vào góc tường:

Cậu dậy sớm thế. Nước giếng sáng nay đục, đừng vội đun trà. Để lắng qua hai lớp vải màn đã.

Bà Mận, chiếc đinh rơi dưới đất không nhặt lên sao?

Bà dừng tay chổi, mắt nhìn lướt qua cây đinh sắt dài bảy tấc rồi dời sang chỗ khác rất nhanh:

Đinh đã rớt khỏi mâm thì thành đinh đất. Người sống không tự tiện cúi xuống nhặt đồ đã chạm đất tang, đó là lệ ở trấn này. Để chốc nữa Trình đạo trưởng sang, ông ấy có kẹp tre gắp lại.

Nhà họ Tạ từ xưa đã dùng loại đinh dài thế này để nẹp ván sao?

Bà Mận lắc đầu, giọng bằng phẳng không để lộ chút biểu cảm:

Cụ cố ngày xưa cũng dặn là ba cây đinh đóng vào áo quan phải theo đúng thứ tự, cụ thể thế nào bà cũng không dám nói chắc, chỉ nghe các cụ truyền lại. Đinh rớt ra là do thợ rèn gõ chưa khéo, hoặc đĩa đồng để cập kênh. Cậu đừng suy diễn linh tinh.

Nói xong, bà xách thùng rác đi vòng ra sau bếp, tiếng guốc gỗ gõ cồm cộp trên lối đi lát đá xanh rồi mất hút sau bức bình phong phủ rêu.

Tôi quay trở vào hành lang dẫn sang phòng ngủ cũ của Lâm Uyển Nghi. Căn phòng này nằm ở góc khuất nhất của dãy nhà tây, quanh năm không đón được ánh mặt trời buổi sớm. Khi mở cánh cửa gỗ đã tróc sơn, mùi phấn nụ cũ lẫn mùi băng phiến xộc thẳng vào mũi.

Mọi vật dụng trong phòng vẫn giữ nguyên từ ngày cô qua đời. Một chiếc giường khung tiện hoa văn dây leo, tủ áo ba buồng bằng gỗ dổi và chiếc bàn trang điểm đặt đối diện mép cửa sổ.

Trên mặt bàn trang điểm là một tấm gương bầu dục viền đồng thau. Theo đúng tục tang lễ vùng Giang Nam, toàn bộ mặt gương đã được phủ kín bằng một tấm vải thô màu chàm sẫm, bốn góc buộc túm bằng dây gai để ngăn người sống soi phải vong hồn người chết trong tuần đầu.

Tôi bước đến gần bàn trang điểm để tìm sợi cáp sạc cho chiếc điện thoại. Gió ngoài sân thổi qua khe cửa sổ khép hờ, làm tấm vải chàm lay động nhẹ.

Một góc vải ở phía dưới cùng bị lật lên chừng nửa ngón tay.

Bản thân tấm kính phải tối om vì lớp vải dày trùm bên ngoài, nhưng qua khe hở nhỏ hẹp đó, tôi nhìn thấy một nguồn sáng màu vàng nhạt hắt ra. Nguồn sáng ấy không thuộc về căn phòng mờ tối đầy sương lạnh mà tôi đang đứng.

Tôi đứng yên tại chỗ, mắt dán chặt vào mép vải.

Qua góc kính lộ ra, hình ảnh phản chiếu bên trong hoàn toàn không phải là bức tường vôi lở hay chiếc tủ gỗ sau lưng tôi. Đó là một gian phòng rộng hơn, sáng rực ánh lửa từ một chiếc chậu than đồng đặt giữa nền đất. Không khí trong gương có vẻ ấm áp, khói lam mỏng bay lượn lờ quanh các cột gỗ tiện tròn bóng loáng.

Lâm Uyển Nghi đang ngồi trên chiếc ghế đẩu thấp bằng gỗ táo.

Cô mặc bộ áo vải gai màu trắng ngà, mái tóc dài buông xõa qua một bên vai, đầu hơi cúi xuống. Trên đùi cô là một mảnh lụa đỏ thêu hoa văn hồi văn màu đen, kích thước chỉ nhỉnh hơn bàn tay người lớn. Đó là một chiếc áo cánh nhỏ xíu dành cho trẻ sơ sinh.

Những ngón tay của Uyển Nghi chuyển động liên tục. Cô cầm một cây kim dài bằng xương động vật mài nhọn, luồn từng sợi chỉ đỏ qua mép vải. Động tác của cô cứng nhắc, lặp đi lặp lại với một tần số đều đặn đến mức vô hồn. Cứ mỗi lần kéo chỉ, mũi kim lại đâm xuyên qua cả đầu ngón tay trỏ của cô, nhưng không có một giọt máu nào ứa ra. Vải lụa đỏ cứ thế được viền chặt vào nhau bằng những đường khâu thô kệch, mép áo không hề được gấp nếp theo quy cách thông thường mà để lộ những sợi tua rua xơ xác.

Cô đang may áo cho A Tứ.

Trong gương, lồng ngực cô hoàn toàn không phập phồng. Mi mắt cô mở trừng trừng, con ngươi bất động nhìn vào chiếc áo nhỏ, khóe môi khẽ giật giật theo từng nhịp đâm kim.

Tôi lùi lại nửa bước, gót giày va vào chân ghế gỗ phát ra một tiếng cộc khô khốc.

Ngay lúc âm thanh vang lên, trong tấm gương sau lớp vải chàm, một bóng người khác bước ra từ vùng tối phía sau lưng Lâm Uyển Nghi.

Người đó mặc một bộ đạo bào màu xám tro không thêu họa tiết, vóc người cao gầy, trên tay cầm một chiếc thước đo bằng gỗ đào có khắc các vạch màu đen. Gương mặt người đó nghiêng về phía ánh lửa chậu than, để lộ sống mũi cao và chòm râu ngắn cắt tỉa gọn gàng.

Đó là Trình Cửu An.

Trình đạo trưởng đứng sừng sững sau lưng Uyển Nghi, cúi đầu nhìn chăm chú vào từng đường kim mũi chỉ của cô. Bàn tay cầm thước Lỗ Ban của ông ta buông thõng bên sườn, năm ngón tay gõ nhẹ vào thân thước theo một nhịp điệu hoàn toàn trùng khớp với nhịp Uyển Nghi đâm kim qua đầu ngón tay mình.

Ông ta không hề cử động cơ mặt, đôi mắt lạnh tanh phản chiếu hai đốm lửa nhỏ từ chậu than đồng.

Tôi lập tức đưa tay nắm lấy mép vải chàm, giật mạnh xuống.

Tấm vải tuột khỏi khung đồng, rơi xột xoạt xuống mặt bàn trang điểm.

Trước mắt tôi, mặt gương chỉ là một tấm kính tráng thủy ngân cũ kỹ, xỉn màu và lốm đốm những vệt mốc hoa mai màu xám. Nó phản chiếu nguyên vẹn căn phòng ngủ ẩm mốc, gương mặt tái nhợt của tôi và cánh cửa sổ đang hé mở đón gió sông. Không có chậu than, không có Uyển Nghi may áo, cũng không có Trình Cửu An.

Mặt kính lạnh ngắt khi tôi chạm đầu ngón tay vào. Nhưng ở góc dưới cùng bên phải của tấm gương, một vệt hơi nước mỏng manh đang từ từ bốc hơi, để lại một vệt mờ có hình dạng đúng bằng ngón tay trỏ của một đứa trẻ.

Tiếng bước chân giẫm trên nền đá ngoài sân vang lên, kèm theo tiếng ho húng hắng quen thuộc.

Tôi quay phắt người lại, bước nhanh ra cửa phòng.

Trình Cửu An vừa bước qua bậu cửa gian chính. Ông ta mặc đúng chiếc đạo bào màu xám tro mà tôi vừa nhìn thấy trong gương, trên tay cầm một chiếc ô giấy dầu đã rách một góc nan tre, giọt nước mưa còn đọng trên chóp ô nhỏ xuống thềm gạch từng giọt lách tách.

cô Dư An đêm qua ngủ không ngon giấc sao?

Trình Cửu An dừng chân trước ngạch cửa, giọng nói trầm đều, không mang chút gợn sóng nào. Ông ta đặt chiếc ô vào góc tường rồi đưa mắt nhìn chiếc đinh sắt đang nằm trơ trọi dưới đất.

Tôi bước thẳng đến trước mặt ông ta, hai bàn tay siết chặt trong túi áo khoác:

Trình đạo trưởng, sáng nay ông đến đây lúc mấy giờ?

Bần đạo rời khỏi đạo quán trên núi lúc gà gáy canh năm. Đi bộ đường rừng mất hơn một giờ mới xuống tới chân trấn Thanh Khê. Sao cô lại hỏi vậy?

Đêm hôm Lâm Uyển Nghi qua đời, ông là người cuối cùng rời khỏi căn phòng phía tây đúng không?

Trình Cửu An tháo chiếc túi vải thô đeo bên hông đặt lên bàn trà, động tác khoan thai, không hề có vẻ lúng túng hay né tránh:

Đêm đó bần đạo chỉ đến làm lễ phát tấu theo đúng lời nhờ cậy của nhà họ Tạ. Sau giờ Ngọ ngày cô ta tắt thở, bần đạo làm xong khóa lễ liền trở về quán, chưa từng gặp lại cô ta một lần nào nữa. Người chết đã nhập quan, bần đạo không có lý do gì để quay lại gặp cô ta.

Nhưng tôi vừa thấy ông.

Tôi nhìn thẳng vào mắt ông ta, chỉ tay về phía căn phòng ngủ đang mở toang cửa:

Trong chiếc gương bị phủ vải chàm của cô ấy. Ông đứng ngay sau lưng Lâm Uyển Nghi, nhìn cô ấy may một chiếc áo đỏ bằng kim xương. Ông còn cầm theo cây thước đo này.

Trình Cửu An không hề biến đổi sắc mặt. Ông ta chậm rãi rút từ trong túi vải ra một cây thước Lỗ Ban bằng gỗ đào, đặt nhẹ lên mặt bàn gỗ. Thước dài khoảng bốn mươi hai centimet, các cạnh đã mòn vẹt vì sử dụng lâu năm.

Gương phủ vải đã lâu, cô cứ mở ra xem thì biết. Bần đạo không có ý kiến gì về chuyện cô nhìn thấy gì trong đó.

Đó không phải ảo giác. Chiếc áo cô ấy may không có đường gấp mép.

Nghe đến câu này, ngón tay của Trình Cửu An đang đặt trên thân thước Lỗ Ban đột ngột dừng lại. Đồng tử của ông ta co rút nhẹ trong tích tắc, sau đó lại khôi phục vẻ phẳng lặng như mặt giếng sâu:

Cô nhìn thấy mép vải không gấp nếp?

Đúng vậy. Toàn bộ đường may đều để lộ xơ vải, chỉ đỏ đâm xuyên qua ngón tay không ra máu.

Trình Cửu An im lặng chừng mười giây. Ông ta không nhìn tôi nữa mà quay sang phía chiếc quan tài gỗ bách, giọng nói hạ thấp xuống một tông:

Theo tục cũ ở vùng hạ lưu sông Tiêu Thủy, đứa trẻ chưa đặt tên khi chết thì theo lệ không được ghi vào gia phả, chỉ gọi tạm là A Tứ. Cụ thể thế nào bần đạo cũng chỉ làm theo lệ, không dám nói thêm. Còn chiếc áo cô ấy may, bần đạo chỉ biết là may khác với đồ cúng thường. được gấp nếp mép vải hay may cổ áo.

Tại sao lại cấm?

Gấp nếp và may cổ là lệ cũ, cụ thể thế nào bần đạo cũng chỉ làm theo lệ. Theo quan sát của bần đạo thì chiếc áo này may cổ cao, viền mép kỹ, không phải đồ cúng thường. Nếu trong nhà có người lén may chiếc áo ấy thì có lẽ nhà này muốn giữ một vật kỷ niệm về đứa trẻ.g, bần đạo không rõ.

Tôi nhớ lại cuốn sổ gia phả giấu sau bàn thờ ở Ch11. Ba ca thai nhi chết non của họ Tạ đều không có tên thật, trang cuối cùng mực vẫn còn ướt khi tôi chạm vào.

Là ai muốn giữ chiếc áo ấy lại? Lâm Uyển Nghi hay chính người họ Tạ?

Trình Cửu An bước tới bên cạnh chiếc đinh sắt thứ ba dưới sàn. Ông ta lấy ra từ tay áo một chiếc kẹp bằng tre già, kẹp chặt lấy thân đinh nhấc lên, đặt cẩn thận trở lại chiếc đĩa đồng trên mặt nắp quan tài:

Lời này bần đạo không trả lời được. Bần đạo chỉ làm trọn phần nghi lễ tống táng của môn phái. Chuyện ân oán trong nội tộc họ Tạ, cô nên tự đi hỏi những người còn sống ăn cơm trong căn nhà này.

Nói đoạn, ông ta chỉ tay vào mép quan tài nơi có vệt nước đen đã khô:

Đinh thứ ba đã trượt khỏi vị trí. Bần đạo sẽ cho người gắp về đĩa, đóng lại đúng chiều vào buổi chiều. Cụ thể thế nào bần đạo cũng chỉ làm theo lệ, không dám nói thêm. Còn chiếc áo đang may dở, bần đạo sẽ không đụng vào. Mời cô và những người trong nhà cũng tránh xa chiếc gương cho đến khi bần đạo làm lễ xong.

Trình Cửu An quay người bước ra gian ngoài, tiếng bước chân chầm chậm hòa vào tiếng gõ mõ tụng kinh của một ngôi chùa nhỏ phía bên kia bờ sông.

Tôi đứng một mình giữa gian phòng khách lạnh lẽo. Lời giải thích của Trình Cửu An nghe qua tưởng chừng rất hợp lý theo các quy tắc dân gian, nhưng thái độ phủ nhận dứt khoát của ông ta về việc xuất hiện trong gương lại chứa đầy mâu thuẫn. Vị trí ông ta đứng sau lưng Uyển Nghi trong ảo ảnh phản chiếu hoàn toàn trùng khớp với góc đứng đo đạc phong thủy truyền thống, và chiếc thước Lỗ Ban trên tay ông ta lúc này có cùng một vết nứt nhỏ ở đầu vạch xích thước giống hệt như trong gương.

Tôi quay trở lại phòng ngủ phía tây để lấy chiếc điện thoại.

Khi bước tới bàn trang điểm, tôi nhận thấy tấm vải chàm sẫm ban nãy tôi giật rơi xuống bàn nay đã bị dịch chuyển một đoạn ngắn sang bên trái. Ngăn kéo nhỏ bằng gỗ trắc dưới chân gương hé mở một khe hở rộng chừng hai đốt ngón tay.

Bên trong khe hở tối tăm ấy, một vật thể màu đỏ thẫm đang lộ ra ngoài.

Tôi đưa tay kéo hẳn chiếc ngăn kéo ra.

Nằm gọn trong lòng ngăn kéo trống rỗng là một mảnh lụa đỏ thêu hoa văn hồi văn màu đen, kích thước nhỏ bằng bàn tay, các mép vải tua rua chưa hề được gấp nếp. Những đường chỉ đỏ thô kệch đâm chằng chịt qua thân áo, và ở ngay chính giữa cổ áo, một cây kim bằng xương mài nhọn vẫn còn cắm ngập một nửa, sợi chỉ đỏ nối dài từ đuôi kim thõng xuống đáy ngăn kéo.

Khi tôi chạm ngón tay vào mảnh lụa, bề mặt vải vẫn còn lưu lại một luồng nhiệt âm ấm, như vừa được ủ trong lồng ngực người sống suốt một đêm dài.

Cùng lúc đó, chiếc điện thoại của Lâm Uyển Nghi đặt trên bàn trà bất ngờ rung lên bần bật.

Màn hình phát sáng rực rỡ trong không gian tranh tối tranh sáng của gian phòng. Không phải cuộc gọi đến, cũng không phải tin nhắn văn bản thông thường.

Trên màn hình khóa xuất hiện một dòng thông báo đẩy từ ứng dụng ghi âm nội bộ của máy, hiển thị thời gian bắt đầu ghi là từ đúng ba phút trước, với tên tệp tự động lưu lại bằng một dãy ký tự số:

*00:03:14 - Thu âm trực tiếp.*

Từ bên trong chiếc gương trần trụi đối diện mặt tôi, không có bóng người, không có chậu than, nhưng vang lên ba tiếng gõ nhẹ, đều đặn và khô khốc cất lên từ phía sau mặt kính tráng chì:

*Cộc. Cộc. Cộc.*

Màn hình điện thoại lập tức chuyển sang giao diện nhập mật mã mở khóa lần cuối cùng, và các phím số ảo bắt đầu tự động lún xuống từng phím một, như thể đang có một ngón tay vô hình ấn mạnh vào mặt kính cảm ứng.

Chương khác

Xem thêm