Tử Mẫu Song Sát - Chương 10: Chương 010: Cửa Từ Đường Tự Mở

Sương mù sáng sớm từ mặt kênh Thanh Khê dâng lên rất dày, tràn qua những bờ tường rêu rồi đọng lại thành từng giọt nước đục ngầu trên mái ngói đen của…

Nội dung chương

Sương mù sáng sớm từ mặt kênh Thanh Khê dâng lên rất dày, tràn qua những bờ tường rêu rồi đọng lại thành từng giọt nước đục ngầu trên mái ngói đen của nhà họ Tạ. Không khí trong sân mang theo vị chát của vôi bột rải quanh chân tường và mùi hăng nồng của bùn ướt bốc lên từ phía giếng cổ đá ong sau hồi nhà.

Trong gian nhà lớn, mấy ngọn nến trắng cắm trên chân đồng đã cháy cụt đến tận đế, sáp chảy tràn ra mặt bàn gỗ đóng thành từng tảng dày cộm. Tiếng gõ mõ tụng kinh của mấy người họ hàng lớn tuổi đã khàn đặc sau hai đêm liền thức trắng.

Tạ lão thái gia ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế bành bằng gỗ mun đặt sát vách tường phía đông. Hai bàn tay gầy guộc nổi đầy đồi mồi của ông nắm chặt đầu gậy chống bằng đồng thau, lưng thẳng tắp, đôi mắt đục ngầu nhưng sắc lạnh nhìn chằm chằm vào cỗ quan tài gỗ bách đặt giữa nhà. Cả buổi sáng, ông không nói một lời, chỉ có tiếng đầu gậy gõ cộc cộc xuống nền gạch tàu mỗi khi có người họ hàng bước qua cửa mà quên cúi đầu trước linh cữu.

Minh Thành ngồi thụp bên chân bàn thờ, hai mắt trũng sâu, tròng mắt đỏ ngầu những tia máu. Cổ tay phải của anh ta quấn một lớp vải xô dày cộp để che đi vết bầm hình năm ngón tay con nít từ đêm qua, nhưng nước đùng đục từ miệng vết thương vẫn rỉ ra, làm ố vàng cả ba lớp băng trắng.

Trình Cửu An đứng bên mép áo quan, tay cầm chiếc chuông đồng nhỏ có khắc vân mây. Thỉnh thoảng lão lại lắc nhẹ cổ tay, tiếng chuông vang lên từng tiếng cộc lốc, khô khốc giữa gian phòng nồng nặc tử khí.

Giờ Thìn ba khắc là giờ chuyển quan.

Trình Cửu An nhìn đồng hồ quả lắc treo trên tường, giọng khàn đặc:

Người nhà họ Tạ ra kiểm tra then cửa ngoài sân. Đúng giờ là phải khiêng quan tài qua bậc cửa chính, đáy quan tài tuyệt đối không được chạm xuống nền gạch một phân nào.

Bà Mận đứng nép bên cột gỗ, tay vân vê mép vạt áo tang đã lấm lem tro giấy, cất giọng rầu rĩ kể với mấy bà thím họ:

Lệ của trấn này xưa nay vẫn vậy, người chết bụng mang dạ chửa khi khiêng ra cửa phải có bốn thanh niên trai tân đi trước dọn đường. Nếu quan tài chạm đất trước khi qua khỏi ngõ thì điềm xấu, cụ thể thế nào bà cũng không dám nói chắc, chỉ nghe các cụ truyền lại vậy thôi.

Tôi đứng tựa lưng vào mép cửa sổ nhìn ra khoang sân trong, ánh mắt không rời khỏi cỗ quan tài gỗ bách sẫm màu. Nắp quan tài lúc này vẫn chưa được đóng đinh chết, chỉ khép hờ để lộ một khe hở nhỏ chừng hai đốt ngón tay theo phong tục địa phương, chờ đến giờ phát tang mới nện chốt.

Bỗng nhiên, từ phía gian từ đường cổ nằm tách biệt sau sân trong phát ra một tiếng động nặng nề.

Két... rắc.

Đó là tiếng then gỗ cọ xát vào móc sắt của khung cửa. Tiếng động khô khốc vang lên giữa khoảng sân vắng khiến tiếng mõ tụng kinh lập tức ngưng bặt.

Bà Mận đang bưng khay trầu, nghe tiếng động thì sững người lại giữa lối đi, hai tay run rẩy làm rơi chiếc chén con xuống sàn gạch vỡ toang.

Cửa... cửa từ đường...

Bà Mận lắp bắp chỉ tay về phía góc sân sau.

Tôi bước nhanh qua dãy hành lang lát đá, tiến thẳng ra phía sân trong.

Gian từ đường họ Tạ là nơi thờ phụng tổ tiên nhiều đời, thường ngày luôn được khóa kín bằng một thanh then gỗ dài gác ngang qua hai móc sắt chôn sâu vào cột cửa. Chiều hôm qua, chính tay hai người đàn ông trong tộc đã gài then sắt, đóng then gỗ cẩn thận để ngăn gió độc từ sân tang lọt vào nơi thờ cựu tổ.

Vậy mà lúc này, hai cánh cửa gỗ đen bóng chạm hoa văn chữ Thọ đang từ từ mở toang ra hai phía.

Bản lề rỉ sét rít lên từng hồi chậm chạp. Hai cánh cửa mở rộng hết cỡ rồi đập nhẹ vào vách tường gạch với một tiếng cộp dứt khoát.

Thanh then gỗ to bản vẫn nằm nguyên vẹn trên hai giá đỡ bằng sắt gắn chặt ở mặt trong của cánh cửa bên trái. Chốt sắt không gãy, then gỗ không hề rơi xuống đất. Hai cánh cửa đã tách rời nhau ra, mở toang vào trong gian thờ trong khi then cài vẫn nằm ngang trên khung cửa bên trái.

Gió lạnh từ gian từ đường thốc thẳng ra sân, cuốn theo lớp tàn tro của những bó nhang tàn rải lả tả lên bậc đá xanh.

Cửa mở rồi...

Một người chú họ đứng phía sau tôi run rẩy thốt lên:

Then cài bên trong mà cửa lại mở bung ra ngoài.

Trình Cửu An bước vội tới thềm đá, tay cầm chiếc chuông nhỏ lắc liên hồi. Tiếng chuông leng keng vang lên chát chúa nhưng không ngăn được luồng gió lạnh từ bên trong thốc ra. Lão rút một mảnh giấy vàng kẹp giữa ngón tay, đặt lên ngưỡng cửa gỗ lim rồi lùi lại một bước, nét mặt căng thẳng nhìn vào khoảng tối bên trong gian thờ.

Tạ lão thái gia từ gian lớn chống gậy bước ra hiên. Nhìn thấy hai cánh cửa từ đường mở toang, gương mặt già nua của ông đanh lại, những nếp nhăn nơi khóe miệng giật giật.

Đứng cả đấy làm gì?

Giọng Tạ lão thái gia khàn đục nhưng đầy uy quyền:

Minh Thành, vào cài then lại!

Minh Thành lết từng bước nặng nề ra mép sân. Khi nhìn thấy bóng tối sâu hun hút bên trong từ đường, hai đầu gối anh ta mềm nhũn, ngã quỵ xuống nền gạch ẩm ướt.

Tôi không vào đâu...

Minh Thành ôm chặt lấy hai bả vai, răng đánh vào nhau lập cập:

Uyển Nghi đang ở trong đó... Chị ấy không cho chúng ta đóng cửa...

Đồ vô dụng!

Tạ lão thái gia nện mạnh đầu gậy xuống nền đá:

Con dâu họ Tạ chết thì cũng là ma nhà họ Tạ, có gì mà phải sợ?

Tôi không nhìn Minh Thành, bước thẳng lên bậc tam cấp bằng đá xanh để vào từ đường.

Bên trong gian thờ, hàng chục bài vị sơn son thếp vàng của các đời tổ tiên họ Tạ vẫn xếp thành từng bậc trên hương án. Nhưng trên mặt bàn thờ chính, chiếc bát hương bằng đồng lớn đã bị xô lệch sang một bên. Tàn tro xám xịt đổ tràn ra khắp mặt bàn gỗ, phủ lên một vệt nước màu nâu đen sền sệt bốc mùi bùn ngai ngái.

Vệt nước ấy kéo dài từ góc hương án, chảy ngoằn ngoèo qua thềm gạch rồi dẫn thẳng ra ngoài sân, hướng về gian nhà lớn nơi đặt cỗ quan tài của Lâm Uyển Nghi.

Thím Hai từ dưới bếp chạy lên, tay cầm chiếc chổi đót vội vã quét tàn tro trên bậc cửa, miệng không ngừng lẩm bẩm:

Không có gì đâu, gió thổi bung cửa thôi. Đạo trưởng đã dặn rồi, chỉ cần đóng đinh hạ huyệt trước khi mặt trời lên đỉnh đầu thì mọi chuyện sẽ yên ổn!

Then cài không gãy, cửa mở toang, tro hương bị lật đổ.

Tôi nhìn thẳng vào mắt thím Hai:

Thím nghĩ gió nào làm được chuyện này?

Thím Hai trừng mắt nhìn tôi, bàn tay cầm chổi siết chặt lại:

Dư An, mày là con cháu trong nhà, đừng có ở đây nói lời gở miệng! Mau vào gian lớn chuẩn bị liệm lần cuối để thợ người ta đóng nắp quan tài!

Theo lệ của trấn Thanh Khê, trước khi đóng đinh quan tài để đưa tang, người thân trong nhà phải đến bên thi thể lần cuối để chỉnh trang khăn áo và kiểm tra đồ tùy táng, đảm bảo không có vật nhọn bằng sắt chạm vào thân thể người đã khuất.

Tôi quay người đi thẳng về phía gian sảnh tang.

Không khí xung quanh cỗ quan tài gỗ bách lạnh buốt. Mùi hoa cúc trắng héo quyện với mùi dầu cù là và mùi bùn từ giếng cổ tạo nên một thứ tử khí ngột ngạt.

Hai người thợ mộc đứng đợi sẵn bên cạnh, tay cầm những chiếc đinh sắt dài quấn chỉ đỏ và búa gỗ.

Cô Dư An, nhìn mặt lần cuối rồi lùi ra sau để thợ làm việc.

Trình Cửu An đứng bên mép áo quan, trầm giọng nhắc nhở.

Tôi bước lên bục gỗ, ghé mắt nhìn qua khe hở của nắp quan tài gỗ bách.

Lâm Uyển Nghi nằm ngay ngắn trên lớp vải lót màu đỏ thẫm. Gương mặt chị trắng bệch, đôi môi tím tái được phủ một lớp phấn dày. Mái tóc đen dài được chải gọn gàng, cài chiếc trâm bạc. Bộ áo cưới thêu chỉ vàng mặc trên người chị phẳng phiu, hai tay đan chéo đặt ngay ngắn trên bụng bầu tròn nhô cao dưới lớp vải lụa đỏ.

Ánh mắt tôi dừng lại ở đôi bàn tay của chị dâu.

Mười đầu ngón tay gầy guộc, các khớp xương nhô lên rõ rệt dưới làn da mỏng dính.

Nhưng ở ngón áp út của bàn tay trái và cổ tay của chị, nơi đáng lẽ phải có chiếc nhẫn cưới bằng vàng cùng chiếc vòng ngọc phỉ thúy gia truyền, lúc này hoàn toàn trống trơn.

Lớp da ở ngón tay và cổ tay trái của chị bị trầy xước một mảng lớn, rỉ ra những vệt máu bầm đã khô cứng. Dấu vết để lại trên da thịt cho thấy hai món đồ trang sức đó không phải tự nhiên tuột ra, mà đã bị người ta dùng sức giật mạnh khỏi tay chị.

Chiếc vòng ngọc phỉ thúy màu xanh lục biếc là vật đính ước mà mẹ tôi truyền lại cho con dâu cả, ngày cưới chính tay Minh Thành đã đeo vào tay Uyển Nghi trước mặt họ hàng. Đêm trước khi Uyển Nghi mất tích bên giếng cổ đá ong sâu ba trượng, tôi vẫn thấy chị đeo chiếc vòng ấy bên khung cửa sổ.

Chiếc vòng cưới của chị dâu tôi đâu?

Tôi ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào Minh Thành đang đứng co ro bên mép cột.

Minh Thành giật mình, ánh mắt lảng tránh, vội vã lùi lại nửa bước:

Tôi... tôi không biết... Chắc lúc ngã xuống giếng bị vướng vào đá ong rồi tuột mất dưới đáy bùn...

Nói dối.

Tôi chỉ tay vào cổ tay của Uyển Nghi:

Vết xước trên da thịt còn in rõ dấu ngón tay cào xé. Có người đã bẻ ngón tay và lột chiếc vòng ra khỏi tay chị ấy sau khi vớt xác lên. Đồ tùy táng của người chết mang thai, ai cho phép các người tháo ra?

Thím Hai bước vội lên bục gỗ, kéo tay tôi ra khỏi mép quan tài:

Con bé này mày soi mói cái gì? Đồ đạc của con dâu nhà họ Tạ thì thuộc về nhà này! Lúc vớt nó lên từ đáy giếng, chiếc vòng bị vướng vào dây kéo nên người ta tháo ra để lau rửa xác, tao đã cất vào hòm gỗ rồi! Mày không lo tiễn đưa chị dâu, cứ đứng đó bới móc làm gì?

Tháo ra để cất giữ hay tháo ra vì sợ?

Tôi gằn từng tiếng:

Chiếc vòng phỉ thúy đó có khắc ngày tháng năm sinh của Minh Thành. Các người sợ chị ấy mang theo chiếc vòng xuống mồ thì đứa trẻ và chị ấy sẽ tìm về theo vết tích của chiếc vòng, đúng không?

Sắc mặt thím Hai biến đổi, từ tái nhợt chuyển sang xám ngoét.

Tạ lão thái gia từ ngoài hiên bước vào, mắt nhìn thẳng vào cây đinh sắt cuối cùng còn nằm trên đĩa đồng cạnh chân bệ thờ, đầu gậy chống nện mạnh xuống sàn gạch một tiếng cắc khô khốc.

Đủ rồi.

Tạ lão thái gia cất giọng lạnh tanh, cắt ngang lời tôi:

Đóng cây đinh cuối cùng đi!

Hai người thợ mộc bước tới, tay cầm sẵn búa tạ. Tôi giơ máy ghi âm lên, lùi một bước sát tường, miệng khẽ hỏi:

Nếu đóng đinh lúc này, đứa bé trong bụng chị ấy còn cơ hội được gọi tên không?

Cả gian từ đường đông cứng lại. Trình Cửu An đặt tay lên cán búa của người thợ mộc, mắt nhìn xuống mặt nền gạch đỏ. Tạ lão thái gia khẽ nghiến răng nhưng không ra lệnh thêm.

Cây đinh cuối cùng vẫn nằm nguyên trên chiếc đĩa đồng cạnh chân bệ thờ, mũ đinh ướt sương mù đêm.

Lợi dụng lúc mọi người đang tập trung quanh cỗ quan tài để chuẩn bị dây thừng khiêng kiệu, tôi quay người, bước nhanh về phía cầu thang gỗ dẫn lên tầng hai gian nhà cũ.

Căn phòng ngủ của Uyển Nghi và Minh Thành nằm ở cuối hành lang, cửa sổ mở thẳng ra bờ kênh Thanh Khê. Cánh cửa gỗ dán giấy hoa vẫn còn dán chữ Song Hỷ màu đỏ đã phai màu, mép giấy quăn queo vì hơi ẩm bốc lên từ lòng kênh.

Tôi đẩy cửa bước vào.

Căn phòng nồng nặc mùi thuốc bắc pha lẫn mùi ẩm mốc. Chiếc giường cưới bằng gỗ gụ phủ tấm drap màu đỏ điều xộc xệch. Bàn trang điểm bằng gỗ ép phủ một lớp bụi mỏng, chiếc gương soi trên bàn đã bị dán một dải giấy đỏ chéo qua mặt kính theo tục lệ kiêng cữ của người trấn này.

Tôi tiến lại gần chiếc tủ quần áo bằng gỗ ba cánh đặt ở góc phòng.

Hôm qua, khi dọn dẹp đồ đạc của Uyển Nghi để chuẩn bị đốt theo vàng mã, thím Hai đã gom hầu hết quần áo của chị vào hai chiếc bao tải đặt ở góc chân cầu thang. Nhưng tôi biết tính chị dâu. Chị là người cẩn thận, những thứ quan trọng không bao giờ để chung với đồ dùng thường ngày.

Tôi quỳ xuống sàn ván gỗ, luồn tay vào khe hẹp giữa đáy tủ quần áo và mặt sàn.

Đầu ngón tay tôi chạm vào một lớp bụi dày, rồi đụng phải một bọc đồ nằm ép sát ở góc trong cùng.

Đó là một chiếc hộp sắt đựng bánh quy cũ, bên ngoài bọc kín bằng một lớp túi nilon màu đen để chống ẩm.

Tôi kéo chiếc hộp sắt ra ngoài, lau sạch lớp bụi bám trên nắp rồi mở chốt.

Bên trong chiếc hộp không có tiền bạc hay vàng vòng. Chỉ có một chiếc khăn tay thêu hoa lan đã sờn mép chỉ, vài tờ kết quả siêu âm thai nhi đã ngả vàng ở các góc, một cuốn sổ tay nhỏ bìa bọc vải thô, và một chiếc điện thoại di động kiểu cũ phím bấm vật lý màu đen. Mặt kính điện thoại có một vết nứt dài chạy dọc từ góc trên màn hình xuống bàn phím.

Đây là chiếc điện thoại cũ mà Uyển Nghi dùng từ thời còn đi học ở ngoài huyện, trước khi về làm dâu nhà họ Tạ. Minh Thành từng mua cho chị một chiếc điện thoại cảm ứng đời mới, nhưng chị vẫn giữ lại chiếc máy cũ này ở đáy tủ.

Tôi cầm chiếc điện thoại lên, ngón tay ấn giữ phím nguồn màu đỏ.

Màn hình nhỏ phát ra ánh sáng xanh nhạt.

Biểu tượng vạch pin nhấp nháy ở góc trên, báo hiệu lượng pin chỉ còn lại rất ít.

Tôi mở mục danh bạ và tin nhắn. Toàn bộ nhật ký cuộc gọi và tin nhắn trong máy đều trống trơn, sạch sẽ một cách bất thường.

Nhưng khi tôi bấm chuyển sang mục quản lý tệp tin rồi vào phần ghi âm, một hàng chữ số hiện ra trên màn hình tinh thể lỏng nhỏ hẹp.

Có một tệp ghi âm duy nhất được lưu lại vào lúc hai giờ mười lăm phút sáng ngày rằm tháng Bảy, tức là chỉ cách thời điểm Uyển Nghi rơi xuống giếng cổ đá ong chưa đầy một canh giờ. Lúc ấy, mặt nước dưới giếng chỉ còn váng trên đáy do đợt hạn hán kéo dài.

Tên của tệp ghi âm hiển thị hai chữ in hoa: "CHO CON".

Tôi bấm phím chọn để mở tệp tin.

Một khung thông báo nhỏ lập tức hiện lên giữa màn hình kèm theo biểu tượng chiếc ổ khóa:

"Yêu cầu nhập mật mã bốn chữ số để mở khóa."

Ngón tay tôi đặt trên phím bấm cứng đờ lại.

Một bản ghi âm bị cài mật mã bảo vệ, được lưu lại ngay trước khi Uyển Nghi chìm xuống đáy giếng sâu ba trượng.

Dưới tầng một, tiếng búa nện vào thớ gỗ bách đột ngột dứt hẳn.

Tiếng chuông đồng của Trình Cửu An vang lên dồn dập, kéo theo tiếng hô khàn đặc của người dẫn đường:

Bọc quan! Tấm liệm phủ kín, chờ sáng mai!

Tiếng kèn đám ma rền rĩ trỗi dậy từ sân trước, xé toạc màn sương mù dày đặc đang bao phủ khắp trấn Thanh Khê.

Tôi nắm chặt chiếc điện thoại cũ trong lòng bàn tay, giấu tệp ghi âm chưa mở vào sâu trong túi áo khoác, rồi bước ra phía cửa sổ nhìn xuống dòng kênh đục ngầu đang trôi lững lờ dưới chân cầu đá.

Chương khác

Xem thêm