Tử Mẫu Song Sát - Chương 8: Người Đứng Sau Rèm

Bóng người in trên tấm rèm vải hoa không hề nhúc nhích. Vải rèm mỏng dính, màu hoa cúc dại đã bạc phếch vì khói bếp lâu năm, nay bị ngọn nến trắng nơi…

Nội dung chương

Bóng người in trên tấm rèm vải hoa không hề nhúc nhích.

Vải rèm mỏng dính, màu hoa cúc dại đã bạc phếch vì khói bếp lâu năm, nay bị ngọn nến trắng nơi bàn thờ hắt bóng từ phía sau lưng tôi, hiện rõ từng đường nét gồ ghề. Chiếc bụng của người đàn bà nhô ra phía trước một khối tròn méo mó, trĩu nặng khiến bả vai hơi còng xuống, đầu nghiêng về một bên như người đang lắng tai nghe ngóng.

Từ mép dưới tấm rèm, một dòng nước màu xám đục rỉ ra, bò chậm rãi qua kẽ nối giữa hai viên gạch tàu màu đỏ. Mùi nước giếng đóng rong rêu ngập ngụa trong không gian, lấn át toàn bộ mùi nhang bài và thuốc bắc đang cháy âm ỉ trên bàn trà.

Đứng yên đó.

Giọng Trình Cửu An hạ thấp xuống, gằn từng tiếng sau kẽ răng. Bàn tay ông ta siết chặt chiếc đinh sắt, các khớp ngón tay trắng bệch. Ông ta không nhìn về phía tấm rèm, mắt vẫn dán chặt vào nắp quan tài bằng gỗ bách đặt ngoài sảnh tang.

Đừng bước tới, cũng đừng cử động mạnh. Người ngộp nước dưới giếng sâu tìm người sống bằng hơi ấm. Cô bước một bước, nó sẽ biết ngay cô đang nhìn thẳng vào nó.

Minh Thành co rúm dưới chân bàn thờ, hai tay bấu chặt vào mép chiếc chiếu cói trải dưới sàn. Máu từ khóe miệng anh ta rỉ xuống cằm, nhỏ từng giọt thẫm xuống lớp bùn ướt. Anh ta cắn chặt môi dưới, hai hàm răng va vào nhau lập cập từng tràng đứt quãng, không dám thốt ra một tiếng.

Bà Mận níu chặt vạt áo khoác của tôi, bàn tay gầy guộc run rẩy bấu qua lớp vải len dày:

Dư An, lệ xưa dạy rồi, người mới vớt xác từ giếng lên thì không nên đứng sát rèm vải ban đêm. Bà cũng không dám nói chắc vì sao, chỉ nghe các cụ truyền lại vậy.

Tôi không lùi lại.

Hai chân tôi cứng ngắc, tầm mắt không rời khỏi tấm rèm vải hoa một giây nào.

Tôi biết rõ vóc dáng đó. Suốt sáu tháng Uyển Nghi mang thai, mỗi lần tôi từ thành phố về thăm, chị đều đứng sau tấm rèm bếp này để vớt củ cải muối hoặc nấu canh sườn cho tôi. Dáng người mảnh khảnh, bờ vai nhỏ và thói quen nghiêng đầu mỗi khi nghe tiếng bước chân ngoài sân gạch không thể lẫn vào đâu được.

Lúc này, vệt nước dưới chân rèm đã loang rộng thêm một gang tay.

Trên vũng nước xám đục, một vệt váng dầu đen nổi lên, xoay tròn theo từng vòng nhỏ. Một tiếng động rất khẽ, giống như tiếng móng tay cào nhẹ vào mặt sau của thớt gỗ trong bếp vang lên.

Kẹt... kẹt... kẹt...

Âm thanh kéo dài, đều đặn, mang theo sự nhẫn nại rợn người.

Tôi gạt tay bà Mận ra khỏi vạt áo mình.

Dư An! Cô muốn chết à?

Trình Cửu An quát khẽ, giọng đầy đe dọa.

Tôi muốn xem chị ấy đang tìm vật gì.

Tôi đáp, giọng khô khốc từ cổ họng bỏng rát.

Tôi bước lên một bước. Đế giày da nện xuống nền gạch tạo ra một tiếng cộp đanh gọn.

Ngay khi bước chân tôi hạ xuống, bóng đen sau tấm rèm khẽ giật. Chiếc bụng nhô cao dưới lớp vải rung rinh một nhịp, giống như khối thịt bên trong đang xoay chuyển vị trí, đạp mạnh vào thành bụng.

Một tiếng thở dài não nuột, ẩm ướt như bọt khí trồi lên từ đáy bùn sâu, xuyên qua lớp vải hoa mỏng manh lọt vào tai tôi.

Tôi không dừng lại. Tôi bước tiếp bước thứ hai, rồi bước thứ ba.

Mùi tanh bùn nước ngầm sâu ba trượng nồng nặc xộc thẳng vào mũi, khiến các thớ thịt trên mặt tôi co rút lại. Nước dưới sàn ngập qua đế giày, lạnh buốt.

Khoảng cách giữa tôi và tấm rèm chỉ còn chưa đầy nửa thước.

Tôi nhìn thấy từng sợi chỉ dệt trên tấm vải hoa run rẩy theo nhịp ngắt quãng từ phía bên kia. Ở vị trí ngang ngực tôi, một vệt đen sẫm hình bàn tay áp sát vào mặt vải, năm ngón tay khẳng khiu in hằn rõ rệt, ngón tay cái quấn một vòng sợi chỉ màu đỏ tươi.

Chị dâu.

Tôi gọi khẽ.

Tiếng cào trên mặt gỗ lập tức ngưng bặt.

Bàn tay in trên mặt vải hoa bất ngờ bấu chặt lấy mép rèm, giật mạnh một cái.

Tôi đưa tay nắm lấy mép vải còn lại, dứt khoát giật tung tấm rèm sang một bên.

Vải rèm bay phần phật, cuốn theo một làn gió ẩm lạnh tạt thẳng vào mặt tôi.

Gian bếp tối om.

Ngọn đèn dầu treo trên cột gỗ góc bếp đã tắt, bấc đèn còn bốc lên một sợi khói mảnh màu xám. Không có ai đứng sau tấm rèm. Chiếc bếp lò bằng đất nung nguội ngắt, trên kiềng sắt là chiếc nồi gang cũ kỹ đậy nắp nghiêng một nửa.

Sau rèm chỉ có một vệt nước đen sẫm kéo dài từ ngưỡng cửa bếp, men theo chân tường gạch rêu phong rồi dừng lại dưới bồn rửa bát bằng đá xanh.

Trên bệ đá bám đầy cáu bẩn cạnh vòi nước, một mẩu xương nhỏ màu trắng ngà nằm trơ trọi giữa vũng bùn nhão.

Tôi bước lại gần, cúi đầu nhìn kỹ.

Đó là một chiếc răng sữa nhỏ xíu, chân răng còn dính một mẩu vụn màu xám đen đã ủng nước.

Tôi đứng lặng bên bệ đá.

Một thai nhi chín tháng tuổi còn nằm trong bụng mẹ chưa thể mọc răng. Đứa bé chưa từng cất tiếng khóc chào đời, thân xác vẫn còn nằm trong bụng Uyển Nghi dưới nắp quan tài gỗ bách ngoài sảnh tang. Chiếc răng sữa này không thể thuộc về đứa bé đó.

Vậy chiếc răng này là của ai?

Dư An... Nhặt nó lên... Mau nhặt nó lên!

Một giọng nói the thé, đứt quãng vang lên từ phía cửa ngách nối liền gian bếp với buồng trong.

Tôi quay đầu lại.

Mẹ của Minh Thành, thím Hai của tôi, đang đứng tựa vào khung cửa gỗ lim. Bà mặc bộ đồ tang bằng vải xô thô ráp, tóc tai rũ rượi xõa xuống hai bên má hóp hoác. Đôi mắt bà trũng sâu, khóe miệng giật liên hồi. Hai bàn tay bà giấu trong tay áo rộng run lên bần bật, các ngón tay gầy gò bấu chặt lấy then cửa.

Trình Cửu An từ sảnh tang bước nhanh vào bếp, theo sau là Minh Thành và bà Mận.

Nhìn thấy chiếc răng sữa trên bệ đá, sắc mặt Trình Cửu An lập tức biến đổi. Ông ta bước xộc tới định giật lấy, nhưng tôi đã nhanh hơn một bước.

Tôi rút chiếc khăn tay trong túi áo khoác, bọc lấy chiếc răng sữa đẫm bùn rồi nắm chặt trong lòng bàn tay.

Đưa đây!

Trình Cửu An gằn giọng:

Tạ Dư An, thứ vớt lên từ dưới đáy giếng không được giữ trong người. Cô cầm nó là rước vạ vào thân!

Chiếc răng này là của ai?

Tôi nhìn thẳng vào mắt Trình Cửu An, rồi quay sang nhìn thím Hai:

Thai nhi chín tháng tuổi chưa mọc răng. Chị Uyển Nghi mới mang thai lần đầu. Chiếc răng này ở đâu ra?

Trình Cửu An ngậm chặt miệng, không đáp, ánh mắt nhìn sang thím Hai đầy cảnh cáo.

Thím Hai run rẩy trượt dần xuống mép cửa, hai đầu gối chạm mạnh xuống nền gạch ẩm ướt. Bà ôm lấy mặt, bật ra tiếng khóc nghẹn ngào:

Nghiệp chướng... Đúng là tội nợ cũ của cái nhà này... Nó tìm về đòi thật rồi...

Mẹ! Mẹ câm miệng lại!

Minh Thành quát lên, giọng lạc đi vì hoảng loạn.

Mày bảo tao câm miệng thế nào được nữa? Nước giếng đã ngập đến tận chân rèm rồi! Đêm nay không nói rõ ràng, cả nhà này sẽ chết chìm hết!

Thím Hai ngẩng mặt lên, nước mắt giàn giụa trên những nếp nhăn chằng chịt.

Bà Mận đứng nép bên cột nhà, trầm giọng giải thích theo tục lệ cũ:

Lệ làng dạy rồi, đồ của trẻ chết non khi còn ẵm ngửa thì phải chôn cất cẩn thận; còn chuyện xương cốt lần theo dòng nước tìm về người cùng huyết thống, bà cũng chỉ nghe các cụ truyền lại, không dám nói chắc.

Tôi bước tới trước mặt thím Hai, ngồi thụp xuống ngang tầm mắt bà. Tôi xòe bàn tay đang bọc chiếc khăn ra trước mặt bà. Qua lớp vải mỏng, hình dáng chiếc răng sữa nhọn hoắt hằn lên rõ rệt.

Thím Hai, thím nói đi. Chiếc răng này là của ai? Trước chị Uyển Nghi, nhà họ Tạ đã giấu bao nhiêu chuyện xuống cái giếng sau nhà rồi?

Thím Hai nhìn chằm chằm vào chiếc khăn tay trên lòng bàn tay tôi. Toàn thân bà co giật từng cơn:

Hai đứa... Trước con Uyển Nghi... đã có hai đứa trẻ... không được ghi tên vào gia phả...

Giọng thím Hai thì thào, lọt vào tai từng người trong gian bếp rõ mồn một.

Mẹ!

Minh Thành lao tới toan kéo mẹ dậy.

Tôi đứng phắt dậy, vung tay đẩy mạnh vào ngực Minh Thành. Anh ta loạng choạng ngã ngửa ra sàn bếp, đập lưng vào góc kiềng sắt, đau đớn ôm lấy ngực thở dốc.

Để thím ấy nói! Anh còn muốn giấu đến bao giờ?

Tôi trừng mắt nhìn Minh Thành. Anh ta nằm bẹp dưới sàn, hai hàm răng cắn chặt vào nhau đến ứa máu nhưng không dám gượng dậy.

Trình Cửu An đứng tựa vào khung cửa bếp, sắc mặt xám xịt, bàn tay siết chặt chiếc đinh sắt nhưng không lên tiếng ngăn cản nữa.

Thím Hai gục đầu xuống hai đầu gối, tiếng nói đứt quãng:

Đứa thứ nhất... là con gái đầu lòng của bác Cả mày ba mươi năm trước. Năm đó bác Cả làm ăn thua lỗ, trong nhà túng quẫn, lão thái gia tin lời bói toán cổ hủ cho rằng sinh con gái đầu lòng sẽ làm lụn bại cơ nghiệp dòng họ. Đêm đứa bé tròn sáu tháng trong bụng mẹ, lão thái gia ép chị dâu Cả uống thuốc xổ để tống thai ra ngoài... Đứa bé vừa lọt lòng, còn chưa kịp thở hơi nào, đã bị cho vào hũ sành đem ném thẳng xuống đáy giếng sau vườn...

Tôi rùng mình. Bác Cả mất sớm từ khi tôi còn chưa chào đời, trong gia phả họ Tạ ở từ đường, dưới tên bác Cả chỉ có một khoảng trống trơn, không hề ghi chép việc từng cưới vợ hay sinh con.

Đứa thứ hai... Là anh trai của Minh Thành...

Thím Hai ngước đôi mắt đỏ ngầu lên nhìn tôi. Minh Thành nằm dưới sàn co rúm người lại, hai tay ôm chặt lấy đầu.

Hai mươi lăm năm trước, tao mang thai đôi. Một đứa phát triển bình thường, còn một đứa bị dị tật dính liền ở phần bụng dưới. Gia đình sợ mang tiếng quái thai, sợ đứa bé tật nguyền chia bớt phần phúc của đứa lành lặn. Lúc đỡ đẻ ở trạm xá cũ ngoài trấn, người ta lén cắt bỏ phần dính liền... Lão thái gia sai người đem bọc nó vào tấm yếm đỏ, nhét một chiếc răng sữa lấy từ hài cốt đứa bé gái năm xưa vào trong bọc vải rồi thả xuống lòng giếng đá ong...

Tôi siết chặt chiếc răng trong lòng bàn tay. Cạnh sắc của chiếc răng cấn sâu vào da thịt, đau buốt.

Chiếc răng này không phải của Uyển Nghi, cũng không phải của đứa bé chín tháng trong bụng chị. Nó là vật còn sót lại từ đứa trẻ đầu tiên, bị truyền qua các thế hệ như một thứ tội ác bị chôn giấu dưới đáy giếng ba trượng.

Còn đứa thứ ba?

Tôi gặng hỏi, giọng đanh lại.

Thím Hai run rẩy đưa ngón tay chỉ thẳng về phía sảnh tang ngoài kia.

Đứa thứ ba chính là đứa bé trong bụng con Uyển Nghi. Năm ngoái việc làm ăn của Minh Thành vướng nợ nần lớn, lão thái gia lại ngã bệnh liệt giường. Gia đình ép Uyển Nghi phải sinh cho bằng được con trai nối dõi đúng vào ngày giờ đã định để hóa giải vận hạn cho dòng họ. Họ bắt nó uống thuốc giữ thai độc hại suốt nhiều tháng ròng, giam lỏng nó trong căn nhà cổ này...

Và chị ấy đã phát hiện ra.

Tôi tiếp lời, từng chữ nặng trĩu:

Chị ấy biết cả nhà các người coi mẹ con chị ấy là công cụ gánh nạn. Đêm hôm đó, mặt nước giếng hạ thấp tới gần đáy, chị ấy chạy ra giếng đá ong sau vườn. Còn chị ấy rơi xuống đáy thế nào, có phải tự gieo mình hay có người xô đẩy, thím phải kể rõ.

Thím Hai gục trán xuống nền gạch ẩm ướt, hai vai run rẩy bần bật, không nói thêm được lời nào.

Gian bếp rơi vào im lặng nặng nề.

Minh Thành nằm dưới sàn bắt đầu rên rỉ, hai tay cào cấu lấy ống quần tang bằng vải xô thô ráp:

Chân tôi... chân tôi lạnh quá...

Dưới chân anh ta, lớp nước đục ngầu từ chân rèm đã lan tới, ngập đến mắt cá chân. Minh Thành quằn quại trên nền gạch, hai chân đạp loạn xạ như có bàn tay vô hình đang giữ chặt lấy gót chân anh ta.

Trình Cửu An bước vội tới, nắm lấy cổ áo Minh Thành lôi mạnh anh ta đứng dậy, kéo giật ra khỏi vũng nước:

Đứng lên! Không được để chân ngâm lâu trong nước giếng!

Trình Cửu An quay sang tôi, giọng trầm đục:

Tạ Dư An, cô ép bà ta nói ra chuyện cũ thì giải quyết được gì? Người chết dưới giếng sâu ba trượng một khi đã trồi lên mặt nước theo vết máu mủ thì không có cách nào đẩy ngược xuống lại được nữa đâu.

Chuyện do người sống làm ra thì người sống phải chịu.

Tôi nhìn thẳng vào ông ta.

Ngay lúc đó, ngọn nến trắng trên bàn thờ ngoài sảnh tang bỗng nhiên phụt tắt.

Không gian xung quanh rơi vào bóng tối đen đặc.

Mọi âm thanh thường nhật của thị trấn ven sông bỗng nhiên tắt lịm. Tiếng gió rít qua rặng tre sau vườn, tiếng nước chảy róc rách ngoài con kênh Thanh Khê, và cả tiếng dế mèn, ếch nhái râm ran quen thuộc của vùng sông nước Giang Nam mỗi độ vào thu đều câm bặt.

Một sự tĩnh lặng tuyệt đối bao trùm ngôi nhà cổ.

Đêm nay, toàn bộ không gian ngoài kia không hề có một tiếng côn trùng.

Và từ sâu thẳm dưới lòng đất, ngay phía dưới đáy cỗ quan tài bằng gỗ bách ngoài sảnh tang, một tiếng cười khúc khích của trẻ con bắt đầu vang lên, rành rọt và lạnh lẽo.

Chương khác

Xem thêm