Tử Mẫu Song Sát - Chương 9: Chương 009: Đêm Không Có Tiếng Côn Trùng

Ngọn đèn dầu hỏa trên bàn thờ con cạn bấc từ nửa đêm, chỉ còn một đốm lửa đỏ quạch leo lét bám vào đầu sợi bông cháy dở. Khói dầu khét lẹt quyện lấy mùi…

Nội dung chương

Ngọn đèn dầu hỏa trên bàn thờ con cạn bấc từ nửa đêm, chỉ còn một đốm lửa đỏ quạch leo lét bám vào đầu sợi bông cháy dở.

Khói dầu khét lẹt quyện lấy mùi gỗ ẩm và mùi bùn từ ngoài sân tạt vào khiến cuống họng tôi đắng ngắt. Tôi ngồi trên chiếc ghế đẩu bằng tre ở góc tường, ngón tay miết vào gáy cuốn sổ tay bọc da. Chiếc máy ghi âm mini trong túi áo khoác vẫn đang bật, trục quay bên trong xoay tròn đều đặn, phát ra tiếng rè rè rất nhỏ cọ vào lớp vải lót.

Giữa gian linh đường, cỗ quan tài gỗ bách xám xịt nằm kê trên hai chiếc đòn gỗ lim. Thớ gỗ bách dày ba tấc, hai góc nắp đã được Trình Cửu An đóng hai cây đinh sắt lớn bằng ngón tay cái xuyên qua nắp gỗ bách vào thành quan tài. Bề mặt phủ một lớp sơn ta màu nâu sẫm đã ngả sắc chì. Góc nắp phía đầu thi thể vẫn để trống, nhưng mép gỗ vẫn hơi vênh lên một khoảng mỏng bằng thân dao bài.

Bà Mận ngồi co ro dưới chân bệ thờ, hai tay ôm lấy chiếc chậu thau đồng chứa đầy tro tiền giấy. Thím Hai gục đầu bên cạnh chiếc phản gỗ, chiếc khăn tang màu cháo lòng quấn xộc xệch trên trán, hơi thở nặng nề và ngắt quãng.

Tạ Minh Thành ngồi ngay mép bậu cửa thông sang chái nhà đông. Anh ta mặc chiếc áo tang bằng vải xô gai rộng thùng thình, hai ống tay buông thõng phủ kín các khớp ngón tay. Đôi giày vải trắng đã bị tháo ra từ lúc nào, vứt chỏng chơ dưới chân ghế, để lộ hai bàn chân gầy guộc đầy những vết xước rớm máu do cọ vào đá dăm lúc chiều. Anh ta không nói một lời suốt từ lúc canh ba bắt đầu, đôi mắt chỉ nhìn chằm chằm vào khoảng sân tối đen phía sau cánh cửa nách.

Tôi đứng dậy, đi tới bên bàn trà rót một bát nước vối nguội. Lớp váng dầu mỏng tanh nổi bập bềnh trên mặt nước đã lạnh ngắt.

Uống ngụm nước đi.

Tôi đưa bát nước về phía Minh Thành.

Anh ta không nhúc nhích. Tròng mắt đục ngầu của anh ta không hề chuyển động, như thể đang dán chặt vào một điểm vô hình nào đó ngoài vườn sau.

Minh Thành.

Tôi gọi thêm một tiếng.

Cô có nghe thấy không?

Giọng anh ta khô khốc, phát ra từ kẽ răng ken két.

Nghe thấy chuyện gì?

Im ắng quá.

Minh Thành thì thào.

Không còn một tiếng động nào cả.

Tôi dừng tay, đặt bát nước trở lại mặt bàn gỗ.

Trấn Thanh Khê nằm ven ngã ba sông, xung quanh bốn bề là kênh rạch chằng chịt và những rặng tre mọc sát mép nước. Vào mùa này, đêm nào thị trấn cũng ồn ào. Tiếng ếch nhái râm ran ngoài đồng trũng, tiếng ve sầu muộn rúc trong các hốc cây hòe già, tiếng dế mèn cào chân rỉ rả dưới chân móng nhà cổ lát đá hộc. Chưa từng có một đêm nào Thanh Khê tĩnh lặng đến mức này.

Lúc này, mọi âm thanh sinh hoạt của loài vật hoàn toàn biến mất.

Bên ngoài cửa sổ, không gian phẳng lặng như một tờ giấy trắng bị ngâm vào mực đặc. Rặng tre ngoài bờ rào không hề lay động dù chỉ một ngọn lá. Bờ lau sậy dọc bờ mương sau nhà câm bặt. Đám dế mèn dưới các kẽ gạch hoa mục nát trong sân không cất lên một tiếng gáy. Cả một vùng đất rộng lớn ven sông rơi vào trạng thái ngừng thở, một sự im lặng tuyệt đối, ngột ngạt và đè nặng lên màng nhĩ.

Sự tĩnh mịch này không tự nhiên. Nó giống như phản xạ của muông thú khi nhận biết có kẻ săn mồi nguy hiểm đang áp sát, khiến tất cả lũ côn trùng dưới đất sâu đồng loạt vùi mình vào bùn, khóa chặt miệng lại để trốn chạy.

Trình Cửu An từ phía sau cỗ quan tài gỗ bách bước ra. Lão cầm cây kéo sắt gắp một mẩu bấc cháy đen trong đĩa đèn dầu vứt xuống đất.

Đạo trưởng, sao cả trấn lại im bặt thế này?

Tôi nhìn lão, hạ giọng hỏi.

Trình Cửu An dùng vạt áo chùi vết dầu bám trên đầu ngón tay, mắt nhìn về phía khung cửa nách đang khép hờ:

Côn trùng rúc sâu, âm khí dâng cao. Phép trấn giếng có giới hạn, đêm nay không nên can thiệp.

Không can thiệp là sao?

Tôi bước theo lão một bước.

Cái giếng đá ong sau nhà rốt cuộc bị làm sao?

Người sống giữ trọn phần việc của người sống.

Trình Cửu An lạnh lùng ngắt lời tôi.

Đêm nay ai gọi cũng không được mở cửa, thấy gì ngoài sân cũng không được bước chân qua bậu cửa. Đứa bé chưa có tên, nó không nhận thân tộc, chỉ nhận hơi người. Canh ba là lúc nó tìm đường lên. Càng can thiệp, dây dưa càng khó dứt.

Lão nói xong liền quay người đi về phía bàn thờ chính, ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu cói rải trước bài vị tổ tiên nhà họ Tạ, nhắm nghiền hai mắt lại, không hé môi thêm một câu nào nữa.

Tôi siết chặt quai túi áo khoác, nơi chiếc máy ghi âm vẫn đang âm thầm ghi lại từng tiếng thở nặng nhọc trong căn nhà.

Minh Thành bên cạnh bỗng nhiên giật giật bả vai. Anh ta chống tay xuống mép bậu cửa, các khớp xương ngón tay bấu chặt vào thớ gỗ lim đến mức móng tay chuyển sang màu tím tái.

Anh Thành, ngồi yên đấy.

Tôi nhắc nhở.

Nó đang ở ngay dưới kia.

Minh Thành lẩm bẩm trong cổ họng, giọng nói biến đổi, trở nên the thé và rè đặc.

Nước lạnh lắm. Nước ngập qua trán rồi.

Tôi nhìn ra ngoài sân sau qua khe hở của cánh cửa nách.

Khoảng sân sau nhà họ Tạ lát bằng gạch tàu cổ, rêu xanh phủ kín các mạch vữa. Nằm ngay dưới bóng cây hòe cổ thụ là miệng giếng cổ xây hoàn toàn bằng đá ong đỏ sẫm. Những khối đá ong lỗ chỗ như tổ ong rừng đã ngả sang màu xám đen vì rêu phong và thời gian. Cái giếng sâu khoảng ba trượng, mặt nước bên dưới rất thấp, quanh năm đen ngòm và bốc lên mùi bùn khoáng nồng nặc.

Miệng giếng bình thường được đậy bằng một tấm nắp gỗ nghiến dày hai tấc, trên mặt dằn một phiến đá tảng nặng trịch để ngăn lá rụng. Nhưng lúc này, trong bóng tối mờ mờ của khoảng sân không trăng, phiến đá tảng trên miệng giếng đã bị dịch chuyển sang một bên chừng nửa gang tay.

Một khe hở màu đen sâu hoắm lộ ra giữa nắp gỗ và thành giếng đá ong.

Từ sâu bên dưới đáy giếng, cách mặt đất ba trượng, một âm thanh bắt đầu vọng lên.

Ọc... ọc...

Âm thanh đầu tiên là tiếng bọt nước vỡ tung trên mặt nước thấp. Nó lục bục, nghẹn ứ, như có luồng khí mạnh từ bùn đáy giếng đùn lên mặt nước.

Tiếp sau đó là tiếng cọ xát sột soạt vào các lỗ rỗng của thành đá ong. Tiếng cọ xát thô ráp, chậm rãi, kèm theo tiếng nước rỏ tong tòng từng giọt từ trên cao rơi xuống mặt nước bên dưới.

Tóc.

Tóc.

Âm thanh dội lại trong lòng giếng sâu ba trượng tạo nên tiếng vang ong ong, truyền thẳng qua lớp đất sét ẩm ướt dưới nền nhà, rung nhẹ dưới đế giày của tôi.

Rồi tiếng khóc cất lên.

Đó là tiếng khóc ngằn ngặt của một đứa trẻ sơ sinh vừa lọt lòng nhưng bị sặc nước. Tiếng khóc không liền mạch mà đứt đoạn thành từng tràng ngắn, the thé, nghẹn ngào, lẫn trong tiếng rít của không khí bị hút ngược vào cuống họng đầy chất lỏng nhờn nhợt.

Oa... oa... ọc...

Tiếng khóc chạm vào thành đá ong nham nhở, dội ngược lên miệng giếng, vang vọng giữa đêm tối không có một tiếng côn trùng nào chống đỡ. Tiếng khóc ấy mỏng manh nhưng sắc lẹm, chui qua từng khe ngói âm dương, luồn qua kẽ cửa nách, đập thẳng vào màng nhĩ của những người đang ngồi trong sảnh tang.

Bà Mận buông rơi chiếc chậu thau đồng xuống đất. Tro tiền giấy bay tung tóe ra nền gạch. Bà vội vàng lấy hai tay bịt chặt lấy hai tai, trán dập liên hồi xuống chân cột nhà, cả người co giật như bị trúng gió độc.

Thím Hai ngồi chết trân trên phản gỗ, mắt trợn trừng nhìn về phía cỗ quan tài gỗ bách, hai hàm răng va vào nhau lộp cộp không sao dừng lại được.

Đứa bé...

Thím Hai run rẩy thốt lên.

Đứa bé không có tên... nó đang đòi mẹ...

Im lặng!

Tôi gằn giọng, mắt không rời khỏi Minh Thành.

Minh Thành đã đứng dậy từ lúc nào.

Động tác của anh ta kỳ quái đến mức khiến tôi rợn người. Toàn bộ phần thân trên của anh ta cứng đờ, hai cánh tay buông thẳng dọc theo hông, nhưng đầu gối lại chùng xuống, các khớp chân vặn vẹo từng bước một.

Anh ta bước đi bằng đôi chân trần.

Bẹp.

Bẹp.

Lòng bàn chân trần của anh ta giẫm thẳng lên nền gạch ướt sũng tro than và nước lạnh. Anh ta không nhìn đường, cằm gục sát vào ngực, hai mắt mở to nhưng tròng đen dại đi, không hề chớp.

Minh Thành! Dừng lại!

Tôi hét lên, lao tới túm lấy vạt áo xô của anh ta.

Minh Thành không dừng bước. Thân hình anh ta gầy gò nhưng nặng một cách phi lý, sức kéo của anh ta lôi tuột cả người tôi về phía trước. Bàn tay anh ta đưa ra, đẩy mạnh then cài cánh cửa nách.

Két.

Cánh cửa gỗ mở toang ra một khoảng. Gió ẩm từ ngoài sân sau ùa vào, mang theo mùi bùn tanh nồng và hơi lạnh buốt từ lòng giếng đá ong bốc lên.

Tiếng khóc dưới đáy giếng bỗng nhiên đổi nhịp. Nó không còn là tiếng khóc nghẹn ngào nữa, mà trở thành tiếng thở dốc the thé, dồn dập, cùng với tiếng đập bì bõm của hai bàn tay nhỏ xíu vào mặt nước sâu ba trượng dưới kia. Âm thanh vọng lên nghe như có một cơ thể mềm oặt đang cố trườn bò bám vào các hốc đá ong gồ ghề để ngoi lên miệng giếng.

Bẹp.

Minh Thành đã bước một chân qua ngưỡng cửa, đặt bàn chân trần xuống phiến đá xanh trước thềm sân sau. Hướng đi của anh ta thẳng tắp về phía miệng giếng đá ong đang hé mở dưới gốc cây hòe.

Quay lại mau!

Tôi hét lớn, vòng cả hai tay ôm chặt lấy thắt lưng anh ta, dùng toàn bộ trọng lượng cơ thể ngả về phía sau để kéo anh ta lại.

Người Minh Thành lạnh ngắt như một tảng thịt ướp đá lâu ngày trong hầm tối. Lớp vải xô mỏng không ngăn được cái lạnh buốt thấu xương từ da thịt anh ta truyền sang tay tôi. Anh ta vẫn lầm lũi bước tiếp, các ngón chân trần bấm chặt vào mặt đá xanh ngoài thềm, cào ra những vệt móng tay rớm máu.

Trình Cửu An! Giúp một tay!

Tôi quay đầu gào lên về phía linh đường.

Trình Cửu An vẫn ngồi bất động trên chiếu cói trước bài vị, hai mắt lão vẫn nhắm chặt, giọng nói đều đều vô cảm vang lên giữa tiếng gió rít:

Tôi đã bảo không được can thiệp. Giữ nó lại, nhưng tuyệt đối không bước chân ra sân. Bước ra ngoài lằn ranh thềm đá, giếng sẽ nuốt nốt người thứ hai.

Tôi cắn chặt răng, dồn hết sức vào hai gót giày, đạp mạnh vào mép ngưỡng cửa gỗ lim làm điểm tựa. Bắp tay tôi căng cứng, các thớ cơ run lên bần bật.

Tạ Minh Thành! Nhìn tôi! Lâm Uyển Nghi chết rồi! Đứa trẻ chết rồi! Anh đi ra đó là nhảy xuống giếng đấy!

Tiếng hét của tôi dội vào khoảng sân trống.

Minh Thành đột ngột dừng bước. Cả thân hình anh ta run lên một đợt dữ dội. Cái đầu đang gục sát ngực từ từ quay ngược một góc gần chín mươi độ về phía tôi.

Khuôn mặt anh ta trắng bệch như quét vôi. Dưới khóe mắt và hai lỗ mũi anh ta rỉ ra hai dòng nước đùng đục có lẫn cặn bùn đen. Đôi môi anh ta mấp máy, phát ra những thanh âm đứt quãng bằng chất giọng the thé của một đứa trẻ sơ sinh:

Con... lạnh... giếng sâu quá... ba ơi...

Tỉnh lại!

Tôi hét lên, buông một tay khỏi eo anh ta, vung nắm đấm giáng thẳng vào xương quai hàm của Minh Thành.

Bốp.

Cú đấm làm đầu Minh Thành ngoẹo sang một bên. Cả cơ thể cứng đờ của anh ta mất đà, ngã bật ngửa về phía sau, rơi thẳng vào bên trong gian sảnh tang. Tôi chớp lấy thời cơ, dùng cả hai tay túm lấy cổ áo tang của anh ta kéo lê trên nền gạch, lôi giật lùi anh ta vào sâu trong phòng.

Rầm!

Tôi dùng chân đạp mạnh cánh cửa nách khép sập lại, rồi vội vàng sập then cài bằng gỗ lim xuống. Chưa yên tâm, tôi rút chiếc then sắt phụ cắm chặt vào chốt ngầm bên dưới chân cửa.

Cốc. Cốc. Cốc.

Ngay khi then sắt vừa sập xuống, từ phía bên kia cánh cửa gỗ vang lên ba tiếng đập rõ mồn một.

Đó không phải tiếng đập của nắm tay người lớn. Đó là tiếng vỗ bẹp bẹp của những ngón tay mềm nhũn, ướt sũng bùn đất đập liên hồi vào mặt gỗ lim sát mép đất. Tiếng đập vang lên gấp gáp, xen lẫn tiếng khóc nghẹn ngào ọc ọc của đứa bé không có tên, như thể nó đang đứng ngay bên ngoài thềm cửa, áp sát mặt vào khe hở bên dưới để nhìn vào trong.

Bên trong phòng, ngọn đèn dầu hỏa trên bàn thờ con phụt tắt ngấm.

Bóng tối bao trùm lấy gian sảnh tang. Mùi bùn giếng cổ nồng nặc đến mức nghẹt thở, bám chặt vào da gà, vào cổ họng, vào từng sợi tóc của tôi.

Tôi ngồi phệt xuống nền gạch, lưng tựa vào cánh cửa gỗ đang rung bần bật vì những tiếng đập bên ngoài. Hơi thở tôi đứt quãng, tim đập thình thịch trong lồng ngực. Chiếc máy ghi âm trong túi áo vẫn đang chạy, tiếng trục xoay rè rè là thứ âm thanh duy nhất phá vỡ sự ngột ngạt trong bóng tối.

Minh Thành nằm sóng soài dưới sàn nhà, cách tôi nửa bước chân. Anh ta nhắm nghiền mắt, ngực phập phồng yếu ớt, miệng chỉ còn phát ra những tiếng thở khò khè như người sắp kiệt sức.

Trình Cửu An từ góc phòng châm một que diêm.

Xoẹt.

Ánh lửa diêm màu đỏ quạch bùng lên trong chốc lát, soi rõ cỗ quan tài gỗ bách xám xịt và gương mặt già nua đầy nếp nhăn của lão đạo trưởng. Lão bước tới bên bàn trà, châm lại bấc cây đèn dầu tráng men.

Ánh sáng vàng vọt tù mù lại một lần nữa hắt lên vách tường tróc lở.

Kéo nó dậy.

Trình Cửu An nói, giọng lão khàn đặc.

Đừng để nó nằm chạm đất lâu, hơi giếng dưới nền chưa tan đâu.

Tôi quỳ một chân xuống nền gạch, nắm lấy cổ tay phải của Minh Thành định kéo anh ta ngồi dựa vào chân bậu cửa.

Khi ngón tay tôi vừa chạm vào lớp vải xô tang lễ ở cổ tay anh ta, tôi cảm nhận được một mảng ướt đẫm lạnh ngắt. Lớp vải dính chặt vào da thịt anh ta như bị dán một lớp keo dính nhớp nháp.

Tôi kéo ngược ống tay áo tang của Minh Thành lên quá cẳng tay.

Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu tráng men, một vết hằn tím đen hiện ra rõ mồn một trên nền da trắng bệch của anh ta.

Đó là dấu vết của một bàn tay nhỏ xíu.

Năm ngón tay chỉ ngắn bằng đốt ngón tay út của tôi, nhưng in sâu hoắm vào thớ thịt quanh cổ tay Minh Thành. Vết bầm tím tái, các mép da xung quanh bị cào rách toạc, rỉ ra những giọt nước đùng đục có mùi tanh nồng của bùn giếng đá ong ba trượng.

Năm vết ngón tay nhỏ xíu ấy bóp chặt lấy cổ tay anh ta tạo thành một vòng tròn khép kín, từng móng tay non bấm ngập vào da thịt, tạo thành năm lỗ thủng nhỏ rỉ máu đen.

Dấu tay ấy không phải in từ bên ngoài vào lúc tôi giằng co với anh ta.

Nó được in lên từ lúc anh ta bước chân trần về phía giếng cổ, như thể đứa trẻ dưới đáy nước sâu ba trượng đã vươn cánh tay lên khỏi mặt giếng từ lâu, nắm chặt lấy cổ tay cha nó và kéo đi từng tấc một.

Minh Thành bỗng nhiên run rẩy mở mắt ra. Đôi mắt anh ta nhìn chằm chằm vào cổ tay mình, rồi từ từ chuyển sang nhìn tôi. Khóe miệng anh ta giật giật, rặn ra từng chữ bằng chính giọng nói khàn đặc của mình:

Nó... nó không cho tôi đi giày... Nó bảo... chân trần mới đi xuống đáy giếng với nó được...

Bên ngoài sân, tiếng côn trùng vẫn bặt tăm hoàn toàn.

Nhưng từ phía gian từ đường họ Tạ nằm ngăn cách bởi một bức tường gạch phía đông, tiếng lạch cạch của then cài cửa chính bỗng nhiên vang lên khô khốc giữa đêm vắng.

Chương khác

Xem thêm