Tử Mẫu Song Sát - Chương 11: Cuốn Sổ Sau Bàn Thờ
Tám giờ ba mươi phút sáng ngày thứ tư sau khi thi thể Uyển Nghi được kéo lên khỏi đáy giếng, trời trấn Thanh Khê đổ mưa phùn. Mưa phùn ở vùng đồng bằng…
Nội dung chương
Tám giờ ba mươi phút sáng ngày thứ tư sau khi thi thể Uyển Nghi được kéo lên khỏi đáy giếng, trời trấn Thanh Khê đổ mưa phùn. Mưa phùn ở vùng đồng bằng Giang Nam không tạo ra tiếng rào rạt, nó chỉ bám thành một lớp màng nước dính dớp trên mặt đá xanh của khoảng sân sau, ngấm vào tường gạch xám và làm mềm lớp vữa vôi đã mục.
Tôi ngồi trước bếp lò dã chiến ở chái nhà phía đông, đun một ấm nước mưa hứng từ máng xối hôm qua. Nước sôi lục bục làm nắp ấm bằng nhôm rung lên từng hồi khô khốc. Căn nhà cổ của họ Tạ có kết cấu ba gian hai chái, gian chính giữa đặt bàn thờ tổ tiên, phía sau vách ngăn gỗ mun là kho chứa đồ tế lễ, tiếp theo là khoảng sân trời nhỏ dẫn thẳng ra miệng giếng sau. Cỗ quan tài bằng gỗ bách đặt tạm ở chái tây, nơi có mái hiên che nhưng bốn bề trống hoác. Một cây đinh sắt cuối cùng trên đĩa đồng vẫn nằm nguyên, chưa được đóng vào nắp áo quan.
Bà Mận ngồi bệt trên ngạch cửa gian chính, hai chân duỗi thẳng ra nền gạch tàu đỏ au. Tay bà thoăn thoắt dùng một con dao bài nhỏ gọt lớp vỏ đen sần sùi của mớ củ ấu luộc đựng trong rổ tre. Mỗi lần mũi dao ấn xuống, lớp thịt củ ấu trắng đục lộ ra, rơi tọt vào chiếc chậu sành chứa nước lạnh bên cạnh.
Bác cả mày bảo trước mười hai giờ trưa phải lau xong bài vị các cụ.
Bà Mận cất tiếng, mắt không ngước lên, khóe miệng đỏ lòm màu bã trầu.
Lau bằng khăn vải bố gai, thấm rượu hoa cúc nấu với lá ngải cứu. Không được dùng nước giếng. Nước giếng dưới kia đã dính mỡ người, quẹt lên mặt gỗ lim tổ tiên thì tổ tiên quở phạt cả họ.
Tôi nhúng chiếc khăn vải bố thô ráp vào chậu rượu thuốc đã pha sẵn. Mùi hăng nồng của ngải cứu xốc thẳng vào xoang mũi, cay xè.
Giấy báo tử của Uyển Nghi xã đã duyệt xong chưa bà?
Duyệt từ chiều qua.
Bà Mận đáp nhát gừng.
Ghi chết đuối do trượt chân ngã. Người chết trong giếng nhà mình thì xã không mổ tử thi làm gì cho rách việc, vả lại họ Tạ đã ký giấy cam kết không khiếu nại. Cứ đóng nắp áo quan, chôn xuống sườn đồi Mã Đề trước giờ Thìn ngày mai là xong một kiếp người.
Tôi không đáp lời bà. Trong túi áo khoác của tôi, chiếc điện thoại nắp gập cũ kỹ màu đen sì của Uyển Nghi vẫn nằm im lìm. Màn hình của nó hiển thị ô nhập mật mã bốn chữ số để mở tệp ghi âm mang tên "CHO CON". Tôi đã thử ngày sinh của Uyển Nghi, ngày cô kết hôn với người chồng, thậm chí cả ngày họ Tạ dời từ huyện lỵ cũ về trấn Thanh Khê này, nhưng dãy số bốn ký tự ấy vẫn báo sai. Máy chỉ còn hai lần thử trước khi bộ nhớ tự động khóa vĩnh viễn.
Tôi bưng chậu đồng đựng rượu thuốc bước lên bục gỗ của gian thờ. Bàn thờ họ Tạ cao ngang ngực tôi, làm bằng gỗ mun khảm ốc đã bong tróc nhiều mảng, xếp thành bốn tầng bậc thang. Trên cùng là bài vị của cụ cố Tạ Thế Thành, người đứng đầu chi họ này vào những năm đầu thời Dân quốc. Tầng thứ hai và thứ ba là ông bà nội cùng các chú bác mất sớm. Tầng dưới cùng chỉ có bát hương lớn bằng gốm hoa lam thời mạt Thanh, đầy ắp tro hương màu xám ngoét và chân nhang đỏ quạch.
Khi tôi nâng bài vị của cụ Tạ Thế Thành lên để lau mép đế, một vệt bụi vôi trắng rơi lả tả xuống mặt bàn.
Phía sau bài vị lớn nhất ấy, bức tường gạch xanh không phẳng lì như những chỗ khác. Có một viên gạch nung không trát vữa, kích thước bằng hai bàn tay úp lại, nằm thụt sâu vào trong khoảng nửa đốt ngón tay. Lớp bụi tro nhang tích tụ nhiều năm đã phủ kín khe hở xung quanh, tạo thành một đường viền xám xịt. Nhưng ở mép dưới của viên gạch, lớp bụi đã bị cạo đi một đường sắc ngọt, lộ ra màu gạch non đỏ sẫm.
Vết cạo còn rất mới.
Tôi đặt bài vị xuống mặt bàn thờ, các khớp ngón tay kẹp chặt lấy gờ mép của viên gạch, dùng lực kéo nhẹ ra ngoài. Viên gạch trượt êm ru trên lớp cát mịn bên trong hốc tường, để lộ một khoảng trống tối om sâu chừng một gang tay.
Bên trong không có vàng bạc hay giấy tờ nhà đất. Chỉ có một cuốn sổ tay khổ nhỏ được bọc cẩn thận bằng vải thô màu đen tuyền.
Mép bọc vải đen không có bụi bám. Tôi cầm cuốn sổ ra ngoài, sức nặng của nó nhẹ hơn một cuốn sách thông thường, nhưng lớp vải bọc tỏa ra một mùi ẩm mốc đặc trưng của giấy để lâu trong hốc tối kết hợp với mùi dầu hỏa loãng.
Bà Mận ngoài bậu cửa bỗng ngừng tay dao. Tiếng củ ấu rơi tõm vào chậu nước vang lên một tiếng cộc lốc.
Mày lôi cái gì sau lưng cụ cố ra đấy?
Tôi không trả lời ngay. Tôi gỡ lớp vải thô bọc ngoài. Bên trong là một cuốn sổ tay bìa bọc da nhân tạo màu xanh lục xỉn, loại sổ phát cho học sinh trung học vào những năm chín mươi. Góc phải bên dưới bìa sổ có dán một mảnh giấy decal in hình hoa sen đã bạc màu, trên đó dùng bút bi gai nắn nót viết ba chữ: "Lâm Uyển Nghi".
Sổ của chị Uyển Nghi.
Tôi nói, ngón tay lật mở trang bìa lót.
Bà Mận đứng dậy, phủi lớp vụn vỏ củ ấu bám trên quần vải thô, đôi dép nhựa mòn gót lê lẹt xẹt trên mặt sàn gạch ẩm ướt tiến lại gần bục thờ. Khi nhìn thấy cuốn sổ da màu xanh, lông mày thưa thớt của bà nhíu chặt lại, tạo thành những nếp gấp sâu hoắm trên trán.
Cất vào đi.
Giọng bà thấp xuống, khàn đặc như có đờm chặn ngang cổ họng.
Đồ của con chết trôi để lại trong hốc tổ tiên là thứ tuyệt mạng. Mày đụng vào chỉ tổ rước xú uế.
Tôi không cất. Tôi lật trang giấy đầu tiên dưới ánh sáng mờ đục hắt vào từ cửa chính.
Trang giấy kẻ ô vuông đã ố vàng theo thời gian. Nhưng nét chữ bên trong không phải chỉ của một người.
Trang đầu tiên viết bằng mực tàu đen nhánh, niên đại ghi rõ ràng: *Năm 1994, ngày mười bốn tháng sáu âm lịch. Con gái đầu lòng của bác Cả, chết non sáu tháng, bị cho vào hũ sành ném xuống đáy giếng sau vườn.*
Cột họ tên bên cạnh bỏ trống hoàn toàn. Chỉ có một dấu điểm chỉ bằng mực chu sa đỏ sẫm, tròn trịa và nhỏ bằng đầu ngón tay út của một đứa trẻ sơ sinh, nằm chỏng chơ giữa dòng kẻ.
Trang thứ hai: *Năm 1999, ngày hai mươi chín tháng chạp. Anh trai của Minh Thành, thai đôi dính liền, cắt bỏ tại trạm xá cũ, bọc yếm đỏ thả xuống lòng giếng đá ong.*
Cột tên: Trống. Lại một dấu điểm chỉ màu chu sa.
Tổng cộng ba trang giấy đã viết, mỗi trang tương ứng với một đứa trẻ chưa đặt tên. Nét bút thay đổi từ bút lông chấm mực tàu sang bút chấm mực tím, rồi đến bút bi xanh thời kỳ cải cách. Tất cả các mục đều ghi chép cùng một cấu trúc lạnh lùng: năm tháng ngày giờ sảy thai, địa điểm đứa trẻ rơi ra khỏi bụng mẹ, giới tính và độ tuổi thai.
Điểm chung duy nhất giữa tất cả các trang: Cột họ tên không có lấy một chữ lót hay tên gọi nào. Tất cả đều để trống, và đè lên khoảng trống ấy là những vết son đỏ hình ngón tay chưa phát triển đầy đủ.
Đến trang thứ ba, nét chữ chuyển thành nét bút máy ngòi kim mực xanh đen quen thuộc của Uyển Nghi. Nét chữ của cô hơi nghiêng về bên phải, những nét gạch ngang luôn kéo dài ra một cách bất an.
*Năm 2024, ngày rằm tháng Bảy âm lịch. Mang thai đủ tháng. Giếng sau.* *Cột tên: Trống.*
Dòng chữ thứ hai, nơi đáng lẽ phải ghi giới tính và tháng tuổi, bị gạch đi bằng hai đường mực đậm đến mức cào rách cả thớ giấy. Cột tên bên cạnh vẫn hoàn toàn bỏ trống. Không có dấu son đỏ điểm chỉ như các trang trước.
Thay vào đó là một vệt mực màu xanh đen kéo dài từ góc dưới bên phải trang giấy sang mép bên kia, như thể người cầm bút đang viết thì tay bị giật mạnh về phía sau.
Tôi đưa đầu ngón trỏ chạm nhẹ vào vệt mực xanh đen ấy.
Lớp mực dính vào da tay tôi. Nó không khô. Một vệt màu xanh thẫm, nhờn nhợt và còn nguyên độ ẩm dính chặt vào vân tay tôi, bốc lên mùi cồn pha mực tươi nồng nặc.
Bốn ngày trước, người ta đã vớt thi thể Uyển Nghi lên từ đáy giếng. Cơ quan y tế xã đã niêm phong hiện trường trước khi giao lại cho gia đình. Cuốn sổ này nằm sâu trong hốc tường sau bài vị cụ cố Tạ Thế Thành, sau một lớp gạch và bụi tro dày, khác với cuốn sổ tay nhỏ bìa vải thô mà tôi từng thấy ở phòng ngủ Uyển Nghi đêm qua. Cuốn này là sổ riêng của Uyển Nghi, cô đã ghi chép và giấu ở đây. Mực trên trang giấy không thể nào chưa khô sau bốn ngày ngâm mình trong không khí ẩm của nhà cổ.
Bà Mận.
Tôi ngẩng đầu nhìn người đàn bà lớn tuổi đang đứng chôn chân cách tôi hai bước.
Đây là cái gì?
Bà Mận nhìn chằm chằm vào ngón tay dính mực của tôi, khóe mắt giật giật. Bà không giật lấy cuốn sổ, hai bàn tay thô ráp của bà giấu biến vào trong vạt áo bà ba xám.
Sổ giữ nợ.
Bà nói, giọng đều đều như đang đọc một đoạn văn tế đã thuộc lòng từ thuở nhỏ.
Đàn bà họ Tạ gả về đây hay sinh ra ở đây, hễ mang thai mà không giữ được thì cụ cố ngày xưa dặn phải ghi vào sổ này, giấu sau bài vị cụ cố. Lệ xưa dạy vậy, còn lý do vì sao thì bà cũng chỉ nghe các cụ truyền lại. Đứa trẻ chưa đặt tên thì bà cũng không dám nói chắc có được ghi vào gia phả hay không, cụ thể thế nào bà cũng chỉ nghe các cụ truyền lại.
Không đầu thai thì đi đâu?
Còn đi đâu thì bà cũng chỉ nghe các cụ truyền lại, không dám nói.
Bà Mận quay mặt nhìn ra khoảng sân mờ mịt nước mưa, hướng về phía miệng giếng sau chái tây.
Lệ cũ còn dặn, đứa trẻ chưa đặt tên khi chết thì không được ghi vào gia phả. Còn chuyện có tên hay không thì thực hư ra sao, bà cũng chỉ nghe các cụ truyền lại, không dám nói chắc. Nhưng có một điều cấm tuyệt đối: Mẹ của đứa trẻ không bao giờ được phép tự tay ghi tên mình hay tự tay chép ngày chết của con vào cuốn sổ đó. Phải là người sống trong họ ghi sau khi cái thai đã chôn sâu dưới đất ba thước.
Tôi nhìn lại dòng chữ cuối cùng bằng mực xanh đen còn ướt.
Ngày rằm tháng Bảy âm lịch chính là đêm Uyển Nghi rơi xuống giếng. Tự tay cô đã lấy cuốn sổ này ra khỏi hốc tường trước khi chết.
Uyển Nghi đã tự viết dòng này.
Tôi nói.
Nó phạm vào điều cấm kỵ lớn nhất của dòng họ.
Bà Mận lẩm bẩm, ánh mắt dại đi.
Người mẹ tự ghi ngày chết của con mình khi đứa con chưa ra đời, ấy là phạm vào điều cấm kỵ lớn nhất của dòng họ. Cụ thể ra sao thì bà cũng chỉ nghe các cụ truyền lại, không dám nói chắc. Nhưng nếu mẹ con cùng mất một lúc thì cụ cố ngày xưa cũng dặn là đại kỵ, cụ thể thế nào bà cũng không dám nói chắc, chỉ nghe các cụ truyền lại vậy thôi. Còn cái tên mà người xưa gọi thì bà cũng không nhớ rõ.
Ai bảo với bà những thứ mê tín này?
Bà cũng không dám chắc đây là mê tín hay không.
Bà Mận trừng mắt nhìn tôi, tròng trắng đục ngầu của bà hằn lên những tia máu đỏ li ti.
Mày nhìn lại các năm trong cuốn sổ xem. Cứ cách vài năm lại có một dòng ghi, bà cũng thấy lạ. Cụ thể quy luật thế nào bà không dám nói chắc, chỉ nghe các cụ truyền lại vậy thôi. Đến năm nay là 2024. Đứa trẻ trong bụng con Uyển Nghi là đứa thứ ba. Hai đứa trước đều chết non nhưng mẹ chúng nó sống. Còn lần này mẹ con cùng mất thì bà cũng chỉ nghe các cụ truyền lại, không dám nói chắc là đại kỵ cụ thể thế nào.
Tôi lật nhanh lại các trang sổ. Những con số lạnh lùng đập vào mắt tôi: 1994, 1999, 2024. Đứa thứ nhất cách đứa thứ hai năm năm, đứa thứ hai cách đứa thứ ba đúng hai mươi lăm năm. Đứa trẻ trong bụng chị Uyển Nghi chính là ca thứ ba, đúng như lời thím Hai kể.
Đứa trẻ trong bụng Uyển Nghi khi cô chết đã mang đủ tháng, sắp đến ngày sinh. Hồ sơ khám thai tại bệnh viện huyện ghi rõ thai nhi phát triển bình thường, không có dị tật. Cô không hề có lý do y khoa nào để sảy thai, và càng không có lý do để tự sát khi phòng trọ của cô trên thị trấn vẫn còn chất đầy quần áo sơ sinh và tã lót mới mua.
Đứa bé ấy chưa từng được khai sinh. Nó chưa có tên. Trong tất cả các biên bản của công an xã và hồ sơ của bệnh viện, nó chỉ được gọi là "thai nhi đủ tháng đi kèm tử thi Lâm Uyển Nghi".
Tôi rút chiếc điện thoại nắp gập của Uyển Nghi ra khỏi túi áo.
Màn hình phát ra ánh sáng xanh lợt lạt, soi rõ ô nhập mật mã bốn số của tệp ghi âm "CHO CON".
Tôi nhìn lại cuốn sổ: chỉ có ba trang, ba ca. Đứa đầu là con gái bác Cả năm 1994. Đứa hai là con trai Minh Thành năm 1999. Đứa thứ ba là con Uyển Nghi năm 2024. Hai mốc sau cách nhau đúng hai mươi lăm năm, còn mốc đầu cách mốc hai năm năm.
Tôi bấm bốn chữ số: `1 9 8 8`.
Điện thoại rung nhẹ một hồi ngắn. Màn hình nhấp nháy dòng chữ đỏ: *MẬT MÃ KHÔNG CHÍNH XÁC. CÒN 1 LẦN THỬ.*
Ngay khi ký tự cảnh báo hiện lên, từ loa ngoài của chiếc điện thoại cũ kỹ bỗng phát ra một tiếng rè nhỏ, rột rẹt như tiếng kim loại cào trên mặt kính. Âm thanh kéo dài chừng hai giây rồi tắt ngấm, để lại sự tĩnh lặng tuyệt đối trong gian nhà cổ.
Dư An.
Tiếng bà Mận vang lên bên cạnh tôi, giọng bà không còn vẻ gay gắt lúc nãy mà run rẩy một cách bất thường.
Tiếng gì ngoài sân sau đấy?
Tôi ngẩng lên. Mưa phùn vẫn rơi ngoài sân trời, tạo thành một màn sương mỏng manh bao phủ lấy miệng giếng đá rêu phong. Nhưng qua khung cửa sổ chái tây, nơi đặt cỗ quan tài gỗ bách của Uyển Nghi, một sự xáo trộn cơ học vừa diễn ra.
Chiếc đĩa đồng đựng cây đinh sắt cuối cùng, vốn đặt cạnh chân bệ thờ, bỗng bị đẩy trượt đi một đoạn bằng gang tay. Cây đinh trên đĩa lăn sang một bên, chạm vào chân giá đỡ bằng tre rồi rơi xuống sàn đá hoa cương, kêu lên một tiếng leng keng sắc lạnh.
Một khe hở hẹp bằng bề dày của lưỡi dao bài xuất hiện giữa thân áo quan và mép nắp đậy bằng gỗ dày.
Từ bên trong khe hở tối tăm ấy, một vệt nước đen ngòm, đặc quánh như nước đáy giếng lâu năm, đang rỉ ra từng giọt, lăn chầm chậm xuống chân giá đỡ bằng tre rồi rơi lộp bộp trên nền đá hoa cương ẩm ướt.