Tứ Thập Bát Địa - Chương 1: Về làng
Trần Vĩnh xuống xe khách ở đầu đê làng Đồng Cao lúc quá trưa thứ Bảy. Xe vòng lên dốc đê rồi quay lại quốc lộ, bỏ lại anh đứng cạnh va li kéo giữa mặt…
Nội dung chương
Trần Vĩnh xuống xe khách ở đầu đê làng Đồng Cao lúc quá trưa thứ Bảy. Xe vòng lên dốc đê rồi quay lại quốc lộ, bỏ lại anh đứng cạnh va li kéo giữa mặt đường bê tông mới rải nhựa. Gió từ sông Hồng thốc qua mái đê, mang theo mùi bùn mặn và mùi khói rạ ai đốt đâu đó sau làng. Anh đứng nhìn xuống con đường nhỏ dẫn vào cụm nhà khuất sau lũy tre còn giữ mấy ngọn cờ phướn trắng treo lơ lửng trên ngọn gió tháng Mười một. Đám tang ông nội đã sang ngày thứ hai.
Trên xe khách từ Hà Nội về, Vĩnh không nghĩ được gì nhiều. Anh đã đặt vé từ chiều thứ Sáu sau cuộc gọi của chú Bá, giọng chú qua điện thoại khô như que củi. “Cụ vừa đi sáng nay, cháu thu xếp về được thì về.” Anh trả lời “Vâng,” không hỏi thêm. Đêm đó trong căn hộ ở Hà Đông, anh thức đến ba giờ sáng, không thu dọn gì. Sáng thứ Bảy dậy muộn, anh nhét vội mấy bộ quần áo vào va li, khóa cửa, đón xe ôm ra bến Giáp Bát. Dọc đường anh nhắn tin cho quản lý công trường xin nghỉ ba ngày, không giải thích lý do. Đầu óc anh trống rỗng một cách kỳ lạ. Không buồn, không tiếc, chỉ có một cảm giác nằng nặng ở ngực như thể có vật gì đã đặt sẵn ở đó từ lâu, giờ chỉ việc nằm im.
Con đường từ chân đê vào làng dài gần hai cây số, chạy xuyên qua hai cánh đồng lúa đã gặt xong. Gốc rạ khô cắt ngang mặt ruộng, thỉnh thoảng một con cò trắng đứng rỉa lông bên vũng nước đọng. Nắng tháng Mười một Bắc Bộ nhạt màu, trải trên mặt đất một lớp vàng úa không đủ ấm. Vĩnh kéo va li lạch cạch trên mặt đường bê tông nứt, bánh xe nhựa va vào từng khe đá vỡ, phát ra tiếng lộp cộp nghe xa trong buổi trưa vắng. Anh mặc áo khoác gió màu xám, quần jean sẫm, chân đi giày thể thao cũ kỹ. Dáng anh cao, gầy, vai hơi khom về phía trước như người quen cúi xuống bản vẽ.
Đi được nửa đường, anh dừng lại trước cây cầu gạch nhỏ bắc qua con mương dẫn nước từ sông vào. Nước dưới mương đặc sệt màu đất sét. Mùi tanh của cá chết thoảng lên. Hồi nhỏ, anh thường đi cùng ông nội qua con cầu này vào những chiều cuối thu, khi ông từ nhà mấy cụ trong làng trở về. Ông dắt tay anh, bước chậm, ít nói. Có lần anh hỏi ông làm nghề gì mà suốt ngày đi xem đất, ông chỉ cười: “Sau mày lớn mày biết.” Sau này lớn rồi, Vĩnh biết thật, và đã từ chối. Mười năm qua anh không hỏi lại.
Qua cầu, lũy tre đầu làng hiện ra rõ hơn. Mấy ngọn phướn trắng treo trên cây sào cao bắt đầu đập vào mắt. Tiếng kèn đám tang từ xa vọng lại, bản “Hồn tử sĩ” quen thuộc mà mỗi khi nghe Vĩnh lại thấy sống lưng lạnh. Đám tang ở quê thường đánh kèn suốt ba ngày, từ sáng đến tối. Lần cuối cùng Vĩnh nghe âm thanh này là năm mười tám tuổi, đám tang bà cố trong họ xa. Sau đó, anh lên Hà Nội học, rồi đi làm, chỉ về làng ba bốn lần mỗi năm dịp giỗ Tết, không lần nào đúng lúc có người mất.
Gần tới ngõ nhà, anh thấy chú Bá đứng chờ ngoài cổng. Chú mặc áo xô trắng vắt ngang vai, bên dưới là bộ quần áo nâu sồng đã bạc màu. Dáng chú thấp, đậm, lưng thẳng như cây cột đình. Mái tóc chú bạc gần hết, nhưng đôi mắt vẫn sáng và sắc. Chú không vẫy tay, chỉ đứng nhìn anh tiến lại, hai tay buông xuôi bên hông. Khi Vĩnh tới gần, chú đưa tay phải lên vỗ một cái vào lưng anh, cái vỗ mạnh và khô, không phải để an ủi mà như một cách xác nhận sự có mặt.
- “Vào đi. Cụ chờ mày từ sáng qua.”
Giọng chú trầm, đều đều, không có vẻ trách móc nhưng cũng không phải khách sáo. Chú nói như thể cuộc trở về này đã được sắp đặt từ trước, và việc của Vĩnh bây giờ chỉ là làm đúng những gì cần làm.
Vĩnh gật đầu, kéo va li vào sân. Sân nhà cụ Cố lát gạch đỏ, chính giữa có một bể nước mưa xây bằng đá ong rêu phủ kín một nửa. Hàng cau sau nhà vẫn đứng thẳng, lá khô rụng rải rác trên mái ngói âm dương. Căn nhà ba gian thấp, mái cong kiểu cổ, tường vôi trắng đã ngả màu cháo lòng theo năm tháng. Gian giữa mở toang cửa gỗ lim, bên trong đặt áo quan bằng gỗ vàng tâm sơn đen bóng. Hương trầm tỏa ra đặc quánh, bay là là mặt đất trước khi lên cao. Trước áo quan, mấy người phụ nữ trong họ mặc áo tang ngồi quỳ, tay lần tràng hạt. Có tiếng khóc rấm rứt, không thành lời.
Chú Bá dẫn Vĩnh vào, dừng lại trước áo quan. Chú đứng sang một bên, chỉ tay về phía chiếc chiếu trải trước quan tài. Vĩnh quỳ xuống, hai đầu gối chạm chiếu. Đầu gối anh tê dần khi nhìn lên áo quan đặt theo hướng Đông Nam, đúng như phong tục dòng họ Trần. Trên nắp quan, một bát cơm trắng cắm đôi đũa tre vót nhọn, cạnh đó là bát nước lã, chiếc đĩa nhỏ đựng ba đồng xu, và một cây đèn dầu hỏa nhỏ vẫn cháy leo lét. Ngọn lửa vàng rung rinh trong luồng gió hắt từ cửa vào.
Vĩnh nhìn áo quan, cố hình dung gương mặt ông nằm bên dưới lớp ván dày. Anh đã không gặp ông suốt hai năm qua. Lần cuối cùng là Tết năm ngoái, khi anh về làng chiều ba mươi, thắp hương rồi lên Hà Nội ngay sáng mùng Một, kiếm cớ công việc. Thực ra không có công việc nào cần gấp, anh chỉ không muốn ở lại lâu. Ở lại lâu có nghĩa phải ngồi nghe ông nhắc tới nghề, tới cuốn sách cổ trong rương gia bảo, tới những huyệt mộ ông đã đặt và những huyệt chưa tìm ra người gánh tiếp. Mười năm trước, khi Vĩnh nói thẳng với ông rằng anh sẽ không theo nghề, ông không phản đối. Ông chỉ nhìn anh, một cái nhìn rất lâu, rồi bỏ ra sân đứng hút thuốc lào. Sau đêm đó, hai ông cháu vẫn sống chung một mái nhà nhưng giữa họ đã có một bức tường mỏng.
Giờ ông đã chết rồi. Bức tường không còn, nhưng Vĩnh vẫn thấy có cái gì chưa được giải tỏa.
Anh cúi sát mặt xuống chiếu hương khói, nhắm mắt. Anh không khóc được. Đôi mắt khô ráp. Cổ họng nghẹn nhưng nước mắt không chảy. Cảm giác trống rỗng ban nãy trong đầu anh giờ chuyển thành một áp lực âm ỉ sau hốc mắt. Anh mở mắt, nhìn ván sàn gỗ nâu đã phai màu dưới gối. Những vệt chân đi qua hai ngày phủ một lớp bụi mỏng. Hương trầm mỗi lúc một nồng.
Có tiếng chân người bước vào nhẹ phía sau. Vĩnh cảm nhận bàn tay ai đó đặt lên vai mình, một bàn tay phụ nữ nhỏ, ấm. Anh không quay lại, biết đó là bà Hiền, em họ của chú Bá, người đã giúp việc nhà cụ Cố suốt mấy năm cuối. Giọng bà dịu dàng: “Cháu đứng dậy đi. Ông cụ đợi cháu về lâu lắm rồi.”
Vĩnh từ từ đứng lên, đầu gối mỏi nhừ. Anh quay sang nhìn chú Bá, chú vẫn đứng im ở góc gian thờ, dáng lặng lẽ như một pho tượng gỗ. Ánh sáng từ cửa sổ bên hông chiếu xiên qua những hạt bụi bay lơ lửng, vẽ một đường sáng cắt ngang ngực chú. Chú đưa mắt nhìn Vĩnh, rồi lại nhìn ra sân.
Bà Hiền dẫn Vĩnh vào gian trong rửa mặt, súc miệng bằng nước lá sả để hãm mùi đường xa. Trong lúc anh cúi xuống thau nước đồng, bà nói nhỏ: “Ông cụ bảo trước với cô là khi nào thằng Vĩnh về thì để nó yên mà khấn, đừng ai hỏi han nhiều. Cụ thương cháu lắm.”
Vĩnh không đáp. Anh rửa mặt xong, lau khô bằng chiếc khăn bông trắng để sẵn trên giá gỗ, rồi quay trở lại gian giữa. Bây giờ đã gần ba giờ chiều. Nắng ngoài sân nhạt dần. Tiếng kèn đám tang đã ngừng từ lúc nào, thay vào đó là tiếng tụng niệm của sư thầy chùa Đồng. Giọng tụng đều đều, trầm và vang, len qua mái nhà, vỗ vào không gian trong gian thờ một thứ rung động chậm rãi.
Vĩnh ra sân, ngồi xuống bậc thềm đá ong, nhìn lên bầu trời tháng Mười một xám nhạt. Anh nhớ lại lần cuối cùng nói chuyện với ông, mười năm trước. Hồi đó anh hai mươi hai tuổi, vừa tốt nghiệp đại học, đang chập chững xin việc ở Hà Nội. Ông gọi anh về làng, bảo có việc cần bàn. Hai ông cháu ngồi với nhau dưới gốc cau sau nhà, trời chiều hè, nắng vàng như mật. Ông chậm rãi hỏi anh có định tiếp tục nghề nhà không. Anh nói thẳng là không. Ông không gắt, chỉ hỏi: “Mày sợ cái gì?” Anh trả lời: “Không sợ, chỉ là không muốn. Nghề này lạc hậu rồi ông ạ.” Ông im lặng một lúc lâu. Rồi ông nói: “Mỗi cây có một thời điểm đơm hoa. Mỗi người cũng vậy. Đến lúc nào sẽ rõ.” Hồi đó, Vĩnh coi đó là câu nói triết lý vu vơ của người già. Nhưng giờ ngồi giữa đám tang, câu nói ấy quay lại, mỗi chữ như có sức nặng ấn vào lồng ngực.
Chú Bá từ trong nhà bước ra, trên tay cầm chiếc điếu cày bằng tre dài ngoẵng. Chú đưa điếu cho Vĩnh, ngầm ý mời hút. Vĩnh lắc đầu. Chú nhét điếu vào miệng, châm lửa bằng chiếc bật lửa đá cũ kỹ. Khói thuốc lào bay lên cay xè, quyện vào không khí ẩm ướt ngoài sân. Chú rít một hơi dài, rồi thở ra từ từ:
- “Ông cụ có để lại ít thứ cho mày. Nhưng chưa phải lúc.”
Vĩnh quay sang nhìn chú. “Thứ gì hả chú?”
- “Sách, đồ nghề, và một cuốn sổ riêng.” Chú Bá nhả khói, mắt nhìn thẳng vào khoảng không trước mặt. “Đợi xong bốn chín ngày đã. Khi đó mày về, chú mới mở rương.”
Trong giọng chú có một sự chắc chắn không cần bàn cãi. Vĩnh không hỏi thêm. Anh biết chú Bá từ nhỏ đã được cụ Cố giao trông rương tổ, dù chú không có căn để làm nghề. Chú chưa bao giờ lấy vợ, sống độc thân trong căn nhà nhỏ sát vách nhà cụ Cố. Cả đời chú chỉ xoay quanh việc chăm nom hương hỏa, giữ gìn đồ nghề, và thinh lặng phụ giúp cụ Cố những việc nặng. Chú ít nói, nhưng mỗi lời nói ra đều được cân nhắc kỹ. Việc chú bảo đợi, nghĩa là phải đợi thật.
Trong lúc đó, từ ngoài ngõ vọng vào tiếng xe máy và tiếng chào hỏi của họ hàng xa vừa tới. Một đoàn người từ làng trên xuống viếng. Vĩnh đứng dậy, lui vào trong để nhường chỗ. Anh đứng nép sau cánh cửa gỗ, quan sát dòng người xếp hàng vào thắp hương. Có người khóc to, có người chỉ cúi đầu thầm thì. Có mấy cụ già lưng còng chống gậy trúc, bước từng bước chậm, miệng lẩm bẩm những câu Vĩnh không nghe rõ.
Bà Hiền đứng cạnh anh thì thầm: “Đám này đông lắm. Ông cụ sống có phúc, ai cũng quý.”
Vĩnh gật đầu. Anh nhận ra một vài khuôn mặt quen: ông Năm trưởng thôn, bà Liên hàng xóm, mấy người đàn ông trung niên chuyên làm công việc đào mộ cho làng. Họ đều là những người ông đã từng giúp đỡ hoặc được ông đặt mộ cho. Ánh mắt họ nhìn lên di ảnh của cụ Cố đặt trên bàn thờ, một bức ảnh đen trắng chụp cụ khoảng bảy mươi tuổi, khuôn mặt khắc khổ, mắt sâu, tóc bạc trắng như cước. Cụ mặc áo dài đen, tay đặt trên đầu gối, dáng ngồi uy nghi.
Vĩnh đã nhìn bức ảnh ấy suốt thời thơ ấu. Nó được treo ở gian thờ từ hồi anh còn nhỏ xíu. Nhưng chỉ tới khi đứng trước áo quan hôm nay, anh mới thực sự hiểu rằng ông nội không còn ở đó nữa. Người đàn ông cao to, nghiêm khắc nhưng công bằng, người dạy anh cách phân biệt hướng gió, cách đọc sấm sét, cách nhìn mặt sông đoán nước lên nước xuống, đã biến mất. Những bài học đó anh chưa từng muốn học, nhưng chúng vẫn nằm sẵn trong trí nhớ như những hạt giống khô chờ ngày gặp mưa.
Khi đoàn viếng đã vãn, trời cũng sẩm tối. Sương bắt đầu giăng trên mặt sân, phủ một lớp mỏng lên lá cau và ngọn cỏ dại mọc trong kẽ gạch. Vĩnh ra sau nhà rửa tay bên giếng khơi. Nước giếng giữa mùa đông ấm lạ thường. Anh múc một gàu, dội qua hai bàn tay lạnh cóng, cảm giác nước chảy qua kẽ ngón tay như xoáy nhẹ vào da. Anh đứng đó, nhìn xuống lòng giếng tối om, nghe tiếng nước thấm xuống lòng đất, từng giọt một.
Đêm hôm đó, sau khi cơm nước xong, Vĩnh nằm trong gian buồng nhỏ kê một chiếc giường tre cũ. Chăn bông còn thơm mùi long não. Anh nằm ngửa, mắt mở thao láo nhìn lên xà nhà gỗ mun đen bóng. Tiếng côn trùng cuối mùa rả rích ngoài vườn. Tiếng chó sủa từ xa vọng lại, rồi tắt lịm. Anh không ngủ được. Hình ảnh áo quan đặt hướng Đông Nam hiện ra mỗi khi anh nhắm mắt. Và câu nói của ông nội mười năm trước cứ quay đi quay lại: “Mỗi cây có một thời điểm đơm hoa. Mỗi người cũng vậy. Đến lúc nào sẽ rõ.”
Vĩnh không biết đã đến giờ của mình chưa.