Văn Thân Liệp Thủy - Chương 1: Huyết Thủy Ba Đào

Nước sông Lô đổ về ngã ba Bạch Hạc mang theo màu xanh biếc hung tợn, xé toạc dòng phù sa đỏ quạch của sông Thao rồi cuộn tròn thành từng hố sâu hoắm nơi…

Nội dung chương

Nước sông Lô đổ về ngã ba Bạch Hạc mang theo màu xanh biếc hung tợn, xé toạc dòng phù sa đỏ quạch của sông Thao rồi cuộn tròn thành từng hố sâu hoắm nơi bến Chợ Bờ.

Gió tháng Bảy thổi rát mặt. Mùi tanh nồng của bùn non quyện với mùi lá mục từ thượng nguồn đổ xuống ngột ngạt đến khó thở. Trên bờ cát bồi, hơn chục nóc nhà sàn của dân vạn chài Chợ Bờ đứng chơ vơ dưới chân núi Hùng. Tiếng trống thúc dồn dập từ phía điếm canh gõ liên hồi ba hồi chín tiếng, báo hiệu tai ương vừa ập xuống mặt nước.

Tôi đứng trên mũi chiếc thuyền độc mộc đẽo bằng gỗ chò chỉ, hai bàn chân bấu chặt vào mép ván trơn nhẫy rêu ngập. Ngực trần của tôi căng lên theo từng nhịp gió rít. Từ cổ họng xuống tận rốn, rồi vắt ngược ra sau lưng qua hai bả vai, những đường mực thiêng màu xanh đen vẽ hình giao long cổ đại chìm nổi theo từng múi cơ. Đó là vết mực mà cha tôi, tù trưởng bến Chợ Bờ, đích thân dùng gai bưởi và than vỏ cây tràm khắc vào da thịt tôi từ năm tôi vừa tròn bảy tuổi. Trên cổ tôi, chiếc vòng đồng đúc nổi hình đàn chim hạc bay ngược chiều mặt trời lấp loáng dưới ánh chiều tà. Vật báu ấy do chính Hùng Vương đời thứ mười bảy ban tặng khi tôi cất tiếng khóc chào đời bên mép nước ngã ba sông.

"K'Nham! Đừng nhìn nữa, nước cuốn sạch rồi!"

Tiếng gầm của Đăm át cả tiếng sóng vỗ bờ tre. Gã thợ lặn lực lưỡng cùng lứa với tôi đang ghì chặt mái chèo đuôi tôm, hai bắp tay gân guốc nổi cộm như rễ si già. Phía sau gã, ba chiếc thuyền nan của trai tráng trong bản đều tụ lại thành hàng ngang, mũi thuyền hướng về phía rốn nước đang sủi bọt trắng xóa giữa dòng hợp lưu.

Mặt nước cách chúng tôi chừng ba mươi sải tay đang quay cuồng điên dại. Một xoáy nước khổng lồ rộng hơn mười trượng mở toang miệng vực, hút từng mảng bèo tây, rác rưởi cùng những khúc gỗ trôi phăng phăng vào bụng sâu hun hút. Chỉ mới nửa canh giờ trước, đoàn thuyền buôn gồm năm chiếc thuyền đuôi én chở đầy thóc thuế của các Lạc điền vùng hạ lưu vượt sông tiến về đất Phong Châu dâng nộp triều đình. Giờ đây, trên mặt sông mênh mông, chẳng còn sót lại dù một mảnh buồm rách hay một bóng người ngoi ngóp.

Mọi thứ bị nuốt trọn vào lòng vực Chợ Bờ, êm ru và tàn khốc đến rợn người.

"Cha tôi bảo đáy vực này có hàm rồng hút nước," Đăm vừa thở dốc vừa nói, ánh mắt dán chặt vào những xoáy bọt sủi tăm. "Nhưng thuyền sến đóng bằng đinh đồng, sườn dày hai gang tay, làm sao chìm không kịp kêu một tiếng? Đến cả bao thóc nổi cũng biến mất sạch trơn!"

Cha tôi đứng trên bờ đá, chiếc khố vải gai viền chỉ đỏ sũng nước phù sa. Lưng ông còng xuống vì bao năm vật lộn với sóng gió sông Bạch Hạc, nhưng đôi mắt vẫn quắc thước nhìn thẳng ra lòng sông cuộn sóng. Ông giơ ngọn giáo đồng lên cao, gõ ba tiếng cắc cắc vào chiếc lao ngạnh sắc lạnh bên hông tôi, giọng trầm đặc truyền qua gió:

"K'Nham! Hà Bá đòi lễ vật hay quái thú quấy phá, mày phải lặn xuống tận đáy mà nhìn cho rõ. Không tìm thấy vết tích thuyền cống nạp, các Lạc tướng trên thành Phong Châu sẽ khép tội vạn chài Chợ Bờ ta làm phản cướp thóc triều đình. Nhớ lấy, hơi thở trong lồng ngực mày thuộc về dòng sông này!"

Tôi siết chặt cán dao đồng gài ngang hông, gật đầu với cha.

Dân Lạc Việt ven sông Hồng đời đời xăm mình để loài thủy quái dưới đáy sâu lầm tưởng đồng loại mà tránh xa. Nhưng từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến nay, tôi chưa từng thấy dòng xoáy Chợ Bờ nuốt chửng cả đoàn thuyền vận lương lớn đến thế chỉ trong cái chớp mắt. Nước ngã ba sông đỏ ngầu phù sa quánh đặc, đứng trên thuyền nhìn xuống chỉ thấy một màu đỏ ối như máu lợn, sâu quá một tầm với đã tối om om.

Tôi bước ra mép thuyền, với tay nắm lấy sợi dây mây rừng dài hàng chục sải được bện chặt bằng ba sợi gân trâu mộng. Đầu dây buộc vào một phiến đá xanh nặng chừng nửa tạ dùng làm đá dằn đáy. Hai thợ lặn bến sông là Vực và Sói tiến lại gần, dùng mỡ cá tra trộn bột củ nâu xoa đều lên khắp người tôi để chống lại cái lạnh thấu xương của tầng nước đáy. Mùi mỡ ngai ngái bốc lên, bám chặt lấy từng thớ da thịt xăm trổ.

"Cẩn thận đấy K'Nham," Vực thì thào, tay vỗ mạnh vào vai tôi. "Dòng chảy phía dưới ngầm dữ lắm. Nếu đá ngầm kẹp dây, giật ba cái thật mạnh, bọn tao sẽ kéo mày lên ngay."

Tôi hít vào một hơi thật sâu. Lồng ngực tôi phồng lên, ép luồng dưỡng khí xuống tận đan điền theo cách những bậc cao nhân lặn ngụp vùng Bạch Hạc truyền dạy. Hơi thở thứ nhất đẩy hết thán khí tích tụ trong phổi ra ngoài. Hơi thở thứ hai thu nạp khí trời ẩm ướt của vùng đất Phong Châu. Đến hơi thở thứ ba, lồng ngực tôi căng tràn như chiếc bong bóng cá lăng khổng lồ.

Tôi ngậm chặt miếng gỗ cau nhỏ xẻ rãnh giữa hai hàm răng để ổn định áp lực tai, hai tay ôm ghì lấy tảng đá dằn.

Tõm!

Mặt nước xé rách ra rồi khép lại tức thì. Tiếng gầm thét của gió rít và tiếng trống canh trên bờ tắt ngấm, nhường chỗ cho tiếng rền rĩ trầm đục, nghẹt thở của lòng sông sâu.

Sức nặng của khối đá xanh kéo tôi lao vun vút xuống đáy nước.

Màu đỏ quạch của lớp phù sa tầng mặt nhanh chóng biến thành màu nâu xám sền sệt, rồi dần đặc quánh lại thành một màu đen tối tăm lạnh buốt. Nước ép chặt vào màng nhĩ đau nhói. Tôi nuốt nước bọt thật mạnh, giữ cho nhịp tim đập chậm lại từng nhịp đều đặn. Hai phút. Đó là giới hạn nín thở của tôi, cũng là lằn ranh giữa sự sống và cái chết dưới vực xoáy Chợ Bờ này.

Tôi căng mắt nhìn qua làn nước đục. Dân lặn vùng ngã ba sông có khả năng nhìn thấu đáy nước tốt hơn người thường, nhưng hôm nay, phù sa cuộn tròn cùng cát thô quất liên tục vào mặt tôi đau rát. Ở độ sâu chừng mười lăm sải tay, dòng chảy ngầm bắt đầu xé ngang. Dòng sông Lô lạnh ngắt từ hướng bắc xô thẳng vào dòng nước ấm mang nặng bùn đỏ của sông Thao, tạo nên những luồng xoáy ngầm cuồn cuộn vặn xoắn như những chiếc thòng lọng vô hình.

Sợi dây mây căng bực bực. Tảng đá dằn cuối cùng cũng chạm vào nền đáy lởm chởm.

Bùn dưới đáy bị khuấy đảo bay mù mịt. Tôi buông tảng đá, rút con dao đồng dắt ngang hông ra thủ thế, hai chân khẽ đạp nước giữ cơ thể lơ lửng sát tầng đá đáy.

Khung cảnh hiện ra trước mắt khiến lồng ngực tôi thắt nghẹt.

Nơi đáy vực Chợ Bờ là một lòng chảo khổng lồ bao bọc bởi những vách đá vôi ngầm dựng đứng lởm chởm gai góc. Xác cây rừng trôi dạt từ thượng nguồn mắc kẹt chi chít giữa các khe đá như những bộ xương khô rũ rượi. Và ngay giữa lòng chảo, nơi dòng nước ngầm cuộn xoáy mạnh nhất, xác của đoàn thuyền buôn nằm la liệt.

Nhưng những con thuyền không còn nguyên vẹn.

Năm chiếc thuyền đuôi én đẽo từ những thân gỗ sến ngàn năm tuổi - thứ gỗ cứng đến mức rìu đồng bửa vào chỉ nảy lửa - đã vỡ vụn thành từng mảnh nhỏ. Những sườn thuyền dày dặn bị gãy đôi, gãy ba, văng tung tóe khắp nền bùn. Hàng trăm bao tải thóc thuế rách toác, hạt thóc trôi lơ lửng trong nước rồi bị dòng xoáy cuốn đi mất hút.

Tôi bơi chầm chậm lại gần mảng ván đáy thuyền lớn nhất đang cắm ngập vào một gờ đá ngầm.

Kỳ lạ thay. Nếu thuyền bị dòng nước xoáy cuốn đập vào vách đá ngầm mà vỡ, các thớ gỗ sến già sẽ mang những vết cọ xát toạc dài, dập nát thành từng dăm xơ xác. Đằng này, những thanh dầm ngang dày bản lại gãy gập theo một góc kỳ quái, tựa hồ bị một thứ lực bẻ gãy từ trên đè bẹp xuống.

Hơi thở trong lồng ngực tôi vơi đi một phần ba. Tim tôi bắt đầu đập nhanh hơn khi bàn tay chạm vào mép ván gãy.

Tôi quạt nước dạt bớt lớp phù sa bám trên thân gỗ. Dưới ánh sáng lờ mờ le lói từ mặt nước hắt xuống, những vết tích lộ ra trên thớ gỗ sến làm sống lưng tôi lạnh toát, nỗi ớn lạnh lấn át cả cái giá buốt của đáy vực sâu.

Trên thân ván gỗ dày hơn hai gang tay, in hằn một hàng lỗ thủng sâu hoắm. Mỗi lỗ rộng bằng cả nắm tay người lớn, bập sâu ngập cả sải tay xuyên thủng qua lớp gỗ sến cứng như sắt nguội. Rìa miệng các lỗ thủng cong quặp lại, để lại vết răng cưa sắc lẹm hình móc câu.

Đó là dấu vết cắn xé. Một hàm răng khổng lồ đã ngoạm ngang thân thuyền, nghiền nát con thuyền đuôi én chở nặng hàng tấn thóc như thể một đứa trẻ bẻ gãy một cọng rơm khô.

Cơn kinh hãi ập đến bóp nghẹt cuống họng tôi. Không có dòng xoáy tự nhiên nào bẻ gãy thân thuyền theo cách này.

Tôi ghé sát mắt nhìn vào một lỗ thủng sâu nhất nơi dầm lái. Trong kẽ nứt của thớ gỗ gãy vụn, có một vật lạ găm chặt vào đó. Tôi vung dao đồng, nạy mạnh mép gỗ. Lưỡi dao bằng đồng thau chạm vào vật thể phát ra một tiếng keng khô khốc, truyền qua cán dao làm tê rần cả ngón tay tôi.

Tôi dùng hết sức bình sinh bẩy vật đó ra.

Đó là một mảng vảy lớn bằng cả chiếc mâm đồng ăn cơm của tộc trưởng. Phiến vảy có màu đen nhánh ngả sang sắc tím thẫm của sắt gỉ, dày hơn một đốt ngón tay, mép ngoài sắc như lưỡi rìu chiến và gồ ghề những đường vân uốn lượn như mai rùa già. Mùi tanh tưởi bốc ra từ phiến vảy đặc quánh, nồng nặc đến mức dù ngậm chặt miệng dưới nước, tôi vẫn cảm nhận được vị đắng ngắt lợn cợn trên đầu lưỡi.

Chẳng phải Hà Bá đòi người, cũng chẳng phải dòng nước xoáy bến Chợ Bờ nổi giận.

Có một thứ quái vật khổng lồ đang ẩn mình dưới ngã ba sông này.

Đúng lúc ngón tay tôi vừa siết chặt mảng vảy đen, một luồng sóng ngầm cực mạnh đột ngột quét qua đáy vực.

Luồng nước lạnh buốt đến thấu xương từ phía hang đá tối đen đối diện ập tới, hất văng tôi va mạnh vào vách đá ngầm sau lưng. Vạt đá vôi cứa vào bả vai tôi rách một đường dài, máu ứa ra lập tức tan thành một dải sương mù đỏ sẫm giữa làn nước đục.

Bùn đất dưới đáy vực cuộn lên dữ dội. Trong bóng tối đen đặc của cái hang ngầm sâu không đáy dưới chân gờ đá, hai đốm sáng màu đỏ quạch như hai hòn than cháy dở từ từ hé mở. Một luồng uy áp nặng nề đè sụp xuống toàn bộ khúc sông, khiến từng tế bào trên cơ thể tôi run rẩy theo bản năng của loài thú nhỏ đối diện kẻ săn mồi tối thượng. Nước xung quanh đột ngột nóng ran lên, những bọt khí khổng lồ sủi sục trào ra từ miệng hang tối, mang theo mùi máu tanh tưởi của xác thuyền viên lẫn mùi bùn thối ngàn năm tích tụ.

Lồng ngực tôi thắt lại dữ dội. Hai phút đã cạn. Dưỡng khí biến thành ngọn lửa thiêu đốt buồng phổi tôi.

Tôi vội vã nắm lấy sợi dây mây bện gân trâu, giật mạnh liên tiếp ba cái.

Sợi dây lập tức căng bừng lên. Trên mặt nước, nhóm của Đăm và Vực dồn sức kéo mạnh. Cơ thể tôi bị nhấc bổng lên khỏi đáy vực đầy xác thuyền vụn vỡ. Ngay khi hai chân tôi vừa rời khỏi gờ đá, từ trong cửa hang ngầm phía dưới, một bóng đen khổng lồ uốn lượn xé toạc làn phù sa đục ngầu quẫy mạnh một nhịp. Cú quẫy đuôi tạo ra một luồng sóng cuộn tròn như lốc xoáy dưới đáy sông, hất tung những mảnh gỗ sến nặng hàng trăm cân bay tán loạn như lá rụng mùa thu.

Vụt!

Tôi nhắm nghiền mắt, hai tay ôm chặt mảng vảy đen vào lòng ngực, phó mặc cho sợi dây mây kéo ngược mình lên mặt nước. Nước rít qua hai tai thành từng tiếng gầm rú điên loạn. Ánh sáng vàng vọt của buổi hoàng hôn bắt đầu xuyên qua lớp nước tầng trên, mở rộng dần trước mắt.

Ào!

Đầu tôi nhô lên khỏi mặt sông. Tôi nhổ phăng miếng gỗ cau ra khỏi miệng, hớp lấy từng ngụm không khí rát bỏng vào buồng phổi đang đau nhói như xé rách. Nước sông đỏ quạch chảy ròng ròng trên mặt, xộc vào mũi cay xè.

"K'Nham lên rồi! Kéo lên mau!"

Tiếng hò hét vang dội của Đăm và trai tráng trong vạn chài kéo tôi trở về thực tại. Bốn cánh tay lực lưỡng thò xuống mạn thuyền tóm lấy nách tôi, lôi mạnh tôi ngã vật lên sàn gỗ chò chỉ. Tôi nằm vật ra, thở dốc từng cơn hổn hển, ngực phập phồng dữ dội, máu từ vết xước trên vai hòa với nước sông chảy đỏ loang một góc sàn thuyền.

Cha tôi lập tức bước tới, quỳ một chân xuống bên cạnh tôi. Ánh mắt già nua nhìn chằm chằm vào vật thể đen nhánh đang được tôi ghì chặt trước ngực.

Xung quanh, đám thợ lặn bến Chợ Bờ nín bặt. Không một ai cất lên nổi một lời. Tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền lách bách dường như cũng chìm nghỉm giữa bầu không khí nặng nề đang bao trùm lấy ngã ba sông.

Tôi gượng ngồi dậy, đặt phiến vảy đen nặng trịch lên sàn thuyền gỗ. Phiến vảy rỉ ra thứ chất nhờn tanh nồng, khô lại rất nhanh khi tiếp xúc với gió trời, để lộ những đường gai nhọn hoắt cứng như mũi mác đồng.

"Không phải đá ngầm..." Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt đặc quánh mùi tanh bùn, giọng khản đặc đến chính bản thân cũng khó lòng nhận ra. "Thuyền gỗ sến bị cắn nát vụn dưới đáy vực. Hàm răng của nó to hơn cả thân cây chò ba người ôm."

Đăm run rẩy cúi xuống, ngón tay vừa chạm vào phiến vảy đen liền thụt phắt lại như bị lửa thiêu. Gã kinh hãi ngước nhìn ra rốn nước Chợ Bờ vẫn đang quay cuồng sủi bọt:

"Vảy này... vảy này cứng hơn cả giáp đồng của quân lính Phong Châu. Rốt cuộc dưới đáy sông là cái thứ gì?"

Cha tôi không trả lời gã. Bàn tay thô ráp đầy sẹo của ông run rẩy lần theo những đường vân uốn lượn trên phiến vảy quái dị. Đôi mắt già nua của người tộc trưởng vạn chài co thắt lại, hướng về dải nước ngã ba sông nơi sắc xanh của sông Lô và sắc đỏ của sông Thao đang hòa quyện vào nhau thành một màu tím sẫm thê lương dưới bóng chiều tà.

"Giao Long trăm tuổi..." Cha tôi thì thầm, giọng ông run lên từng chặp, ngọn giáo đồng trong tay khẽ va vào thành thuyền run rẩy. "Con quái vật trấn ải vực sâu ngàn năm trước đã thức giấc rồi."

Lời của ông vừa dứt, từ phía hạ lưu bến sông Bạch Hạc, tiếng tù và bằng vỏ ốc rền vang ba hồi dài xé toạc không gian u tịch của mặt nước.

Tôi ngẩng đầu nhìn về phía khúc sông xa. Dưới ánh hoàng hôn đỏ rực như lửa cháy, hơn hai mươi chiến thuyền mũi nhọn của triều đình, cắm cờ lông trĩ của các Lạc hầu, đang dàn thành thế trận hình chữ V rẽ sóng lao thẳng về phía cửa tử Chợ Bờ. Trên chiếc thuyền rồng đi đầu, những chiếc trống đồng cỡ lớn dựng sừng sững trên boong, lấp loáng ánh đồng thau thiêng liêng dưới ráng chiều đỏ quạch.

Đoàn thuyền lớn nhất của vương quốc đang tiến thẳng vào miệng vực, nơi con quái vật cổ đại vừa mở cặp mắt đỏ ngầu chực chờ xé xác tất cả.

Chương khác

Xem thêm