Văn Thân Liệp Thủy - Chương 4: Thiên Hạ Hỗn Loạn Vì Giao Long
Màn sương sớm bốc lên từ ngã ba sông Bạch Hạc mang theo mùi tanh tưởi nồng nặc của bùn lầy và máu loãng chưa kịp tan. Dòng nước đỏ ngầu cuộn xiết quanh…
Nội dung chương
Màn sương sớm bốc lên từ ngã ba sông Bạch Hạc mang theo mùi tanh tưởi nồng nặc của bùn lầy và máu loãng chưa kịp tan. Dòng nước đỏ ngầu cuộn xiết quanh các chân cọc gỗ ven bến Chợ Bờ, thỉnh thoảng lại tống vào bờ những mảng ván thuyền vỡ nát cùng những thân cọ bị dòng xoáy nghiến đứt đôi. Khắp bến sông, phụ nữ bồng con nhỏ đứng nép sau những rặng tre, tiếng than khóc nghẹn ngào chìm khuất dưới tiếng gầm trầm đục của con nước dữ.
Bóng người rầm rộ kéo đến từ con đường mòn phía đồi cọ. Không còn là toán tàn binh rách rưới tháo chạy trong đêm, lần này là hai mươi trinh vệ triều đình nai nịt giáp da hươu đóng đinh đồng, tay lăm lăm trường thương cán dài. Đi đầu bọn họ là Lạc hầu Đan Bôn, người phụ trách vận tải đường thủy của triều đình Phong Châu. Bộ cẩm bào màu chàm của ông ta bê bết bùn đất khô cứng, chiếc mũ lông chim trĩ cắm lệch một bên, để lộ gương mặt hốc hác với đôi mắt đỏ ngầu vằn tia máu.
"Tộc trưởng đâu? Mau gọi Tộc trưởng ra đây!" Lạc hầu Đan Bôn gầm lên khi vừa chạm gót giày da lên bãi cát ẩm ướt của vạn chài. Giọng ông ta khản đặc, run rẩy giữa cơn thịnh nộ lẫn nỗi kinh hoàng còn sót lại từ chiều hôm trước. "Dẹp hết đám thuyền nan này đi! Hạ trại, dựng cọc rào! Tất cả người Lạc ở bến Chợ Bờ phải thu dọn đồ đạc, lập tức rút lui lên núi Cương Dũng trước giờ Ngọ!"
Mấy chục thợ lặn và dân chài đang vá lưới đồng loạt đứng bật dậy. Họ nắm chặt cán dầm, tay chèo, những đôi mắt xám đục nhìn trừng trừng vào đám lính triều đình đang hùng hổ lùa đuổi trâu bò và dỡ mái lều bên mép nước.
"Ai cho phép các ông đuổi người làng tôi?"
Tôi bước lên trước, ngọn lao đồng ba ngạnh chĩa thẳng xuống bãi cát lún, chắn ngang lối đi của toán cấm vệ. Bắp tay tôi cuộn lên từng thớ cơ cứng như chão mây, vảy rồng đen thẫm trên ngực căng bừng dưới vạt áo da thú hở ngực. Chiếc vòng đồng cổ Hùng Vương ban chạm vào ngạnh lao kêu leng keng đanh gọn.
"Lũ dân đen bến nước các ngươi to gan thật!" Một tên đội trưởng cấm vệ quát tháo, định bước tới vung đốc thương bằng đồng thau dạt tôi sang một bên.
Bàn tay trái của tôi vươn ra nhanh như chớp, chộp thẳng vào cổ tay bọc giáp da của hắn, siết chặt. Gã đội trưởng trừng mắt, nghiến răng định gạt ra nhưng cổ tay hắn bị tôi khóa chặt đến mức các khớp ngón tay tím tái, cả thân người hắn khựng lại giữa chừng bãi cát.
"K'Nham, lùi lại."
Giọng nói trầm hùng, uy nghiêm vang lên từ phía sau tôi. Cha tôi, Tộc trưởng Thao, từ từ bước xuống bậc thang của căn nhà sàn lớn nhất bến sông. Ông cởi trần, để lộ vòm ngực rộng mang những vết sẹo dài do răng cá dữ cào xé qua mấy chục mùa nước nổi. Quanh hông ông quấn một tấm khố dệt bằng vỏ cây sui màu nâu sẫm, trên tay cầm cây mác đồng dài bảy thước - thứ vũ khí truyền đời của các đời thủ lĩnh vạn chài ngã ba sông.
Tôi buông tay, tên lính loạng choạng lùi lại ba bước, ôm lấy cổ tay hằn đỏ vệt ngón tay tôi. Tôi vẫn đứng chếch một bên, hạ thấp mũi lao nhưng tầm mắt ghim chặt vào viên quan lớn của triều đình.
Tộc trưởng Thao cắm đuôi cây mác ngập nửa thước vào lòng cát sỏi, nhìn thẳng vào mặt Lạc hầu Đan Bôn:
"Bến Chợ Bờ này là đất của tổ tiên người Lạc cắm sào dựng chòi từ sáu đời trước. Chúng tôi ăn sóng nói gió, uống nước sông Lô, ăn cá sông Hồng. Cớ gì Lạc hầu lại đem quân đến đây xua đuổi dân tôi như đuổi đàn vịt nước?"
Lạc hầu Đan Bôn bước dồn lên, hai tay run bắn chỉ ra giữa rốn nước xoáy mù mịt ngoài xa:
"Tộc trưởng Thao! Ngươi mù hay điếc mà không thấy khúc sông này đã hóa thành miệng quỷ? Ba chiếc thuyền rồng chở đầy quặng đồng đỏ ngậm đáy vực Chợ Bờ rồi! Trống đồng ngàn cân của Hùng Vương chìm mất tích, hai mươi cấm vệ tinh nhuệ bị xé xác, thịt nát xương tan trôi dạt khắp dải hạ lưu! Sáng nay tin dữ đã bay về Phong Châu, trăm quan rúng động, cung cấm thắt lòng!"
Ông ta thở hổn hển, nước bọt bắn cả vào râu ria:
"Huyết mạch giao thương nối từ đất Lâm Thao về kinh đô đã đứt đoạn hoàn toàn. Thuyền bè chở lương thực, trâu bò nộp cống từ các bộ lạc phương Nam không thể vượt qua ngã ba sông. Nếu dòng nước này bị nghẽn thêm mười ngày nữa, kinh đô cạn kiệt lương thảo, quặng đồng đúc vũ khí ngưng trệ, cả giang sơn Văn Lang sẽ rơi vào cảnh lầm than! Triều đình quyết định dựng đàn tràng khổng lồ dọc bến sông này, lập đại lễ hiến tế ba trăm con trâu đen cùng gái đồng trinh để cầu xin thủy thần hạ giận, đồng thời đóng cọc rào lim phong tỏa toàn bộ khúc sông. Dân các ngươi không dời đi, lấy chỗ đâu cho pháp sư lập đàn?"
Dân làng Chợ Bờ ồ lên phẫn nộ. Những người đàn bà ôm chặt lấy con, các bô lão run rẩy vung gậy tre lên trời. Hiến tế ba trăm con trâu đen và người sống, cắm cọc lim bít nghẽn dòng sông - đó là cách thức tuyệt vọng của những kẻ ở trên bờ cao sợ hãi đáy nước sâu thẳm.
"Vô ích thôi, Lạc hầu." Cha tôi lắc đầu, giọng lạnh lùng như phiến đá dưới chân ngọn thác. "Dưới đáy vực xoáy không có thứ thủy thần nào thích ăn thịt trâu thịt người đâu. Tiếng trống đồng chìm xuống hôm qua đã chọc thủng giấc ngủ trăm năm của con quái thú. Mùi máu tươi của đoàn lính triều đình chỉ khiến họng nó thêm khát. Dựng đàn tràng tế lễ trên bờ chỉ làm mồi cho nó quẫy đuôi kéo sập cả bãi cát này xuống đáy bùn."
"Ngươi dám chống lệnh triều đình sao?" Đan Bôn rút nửa lưỡi đoản kiếm bằng đồng thau ra khỏi vỏ, ánh đồng lóe lên sắc lạnh trong sương sớm. "Đây là việc sống còn của cả đất nước! Nếu các ngươi ngoan cố không chịu nhường bến để quân sĩ lập đàn cắm cọc, ta buộc phải dùng đến thiết luật!"
Binh lính lập tức giương giáo đồng, bao vây lấy dân làng.
Tôi bước lên một bước, mũi lao đồng trong tay tôi rung lên bần bật, chỉ cần tên lính nào dám tiến thêm nửa bước về phía cha tôi, ngọn lao này sẽ xuyên thủng giáp da hươu của hắn. Đám thanh niên vạn chài cũng đồng loạt vác lao cá, rìu đá tiến lên, tạo thành bức tường người che chắn trước bờ cát. Không khí căng thẳng nghẹt thở, chỉ có tiếng sóng ngầm dưới sông đập vào mạn thuyền bè vỡ vụn ùng ục như tiếng gầm gừ đe dọa của bầy sói đói.
"Đan Bôn hầu!" Cha tôi cất tiếng, trầm đặc và vang dội lấn át cả tiếng sóng gầm. "Ông từng theo Đức vua dẹp giặc phương Bắc, sao nay lại hồ đồ đến mức này? Cọc lim dày đến đâu cũng chỉ cản được thuyền gỗ, cản làm sao được thứ vảy cứng chém tên đồng gãy vụn? Năm xưa khi giặc Thủy Tộc tràn lan, Hùng Vương đời thứ 17 từng đứng trên mỏm đá ngã ba sông này trao kiếm cho tổ tiên tôi, hẹn ước rằng chừng nào dòng nước Bạch Hạc còn chảy, con cháu họ Thao còn ở lại giữ bến, canh chừng con thú dưới đáy vực. Nay chưa đánh đã đòi bỏ bến, rào sông, dâng người làm mồi, ông xứng đáng với danh hiệu tướng lĩnh Phong Châu sao?"
Lạc hầu Đan Bôn khựng lại. Ánh mắt ông ta nhìn cây mác đồng cổ trong tay cha tôi, rồi lướt sang chiếc vòng đồng sáng ánh kim trên cổ tay tôi. Gương mặt giận dữ của viên quan dần méo mó, biến thành một nét tuyệt vọng cùng cực. Ông ta tra kiếm vào vỏ, bàn tay run rẩy ôm lấy ngực áo, gần như sụp xuống trước ngọn giáo của cha tôi.
"Tộc trưởng Thao... ta không còn cách nào khác!" Giọng Đan Bôn lạc đi, đầy vẻ bi thiết của một kẻ cận kề cái chết. "Đức vua đã nổi trận lôi đình. Chiếc trống đồng lớn nhất kia là thần khí hộ quốc, đúc từ ba ngàn cân đồng đỏ tinh khiết, mang linh hồn của tổ tiên truyền lại. Mất trống, rốn nước tắc nghẽn, cả triều đình như ngồi trên đống lửa. Nếu không lập đàn phong tỏa, không dẹp yên được khúc sông này trong vòng ba ngày, đầu của Đan Bôn ta và toàn bộ gia quyến sẽ rơi xuống trước sân rồng!"
Tiếng van nài khẩn thiết của vị Lạc hầu khiến đám binh lính buông thõng mũi thương, gương mặt ai nấy đều xám ngoắt vì khiếp hãi uy quyền tối thượng nơi hoàng cung. Cơn giận dữ ban đầu tan biến, trên bãi cát ven ngã ba sông chỉ còn lại sự bất lực thê lương trước tai họa khôn lường của đất trời.
Cha tôi nhìn Đan Bôn thật lâu, rồi chậm rãi nhổ ngọn mác đồng lên khỏi cát:
"Muốn giữ mạng của ông và đoàn tùy tùng, hãy lui quân về đồi cọ đóng trại. Đừng động đến một ngọn cỏ của dân chài Chợ Bờ, cũng đừng hòng đem người sống ra ném xuống ngã ba sông này làm mồi tế. Đợi đi. Mệnh lệnh tối hậu của Phong Châu rồi sẽ tới bến nước này thôi."
Đan Bôn lảo đảo lùi lại, nhìn ra dòng nước đỏ ngầu đang gầm réo ngoài khơi xa, rồi cúi đầu phất tay ra hiệu cho toán cấm vệ rút lui. Bọn họ kéo nhau ngược lên triền đồi cọ, để lại bãi cát ngổn ngang dấu chân dẫm đạp và tiếng khóc rấm rứt của trẻ thơ.
Khi bóng toán lính khuất hẳn sau hàng cây, cha tôi quay sang nhìn tôi. Ánh mắt ông nặng trĩu những ưu tư sâu thẳm mà suốt hai mươi hai năm qua tôi chưa từng thấy.
"Vào trong nhà, K'Nham." Ông trầm giọng bảo tôi. "Đã đến lúc con phải biết những điều con mang trên thân xác mình."
Căn nhà sàn của tộc trưởng chìm trong làn khói mỏng bốc lên từ bếp than đượm giữa nhà. Mùi nhựa trám khô thơm nồng quyện với mùi tanh nồng của mỡ cá chiên tạo nên một bầu không khí trầm mặc, linh thiêng. Xung quanh vách nứa treo đầy những chiếc lao săn cá đuối khổng lồ, những tấm da kỳ đà phơi khô và chuỗi xương hàm của những loài thủy quái từng bị tổ tiên chúng tôi hạ gục trong dĩ vãng.
Cha tôi ngồi xếp bằng bên bếp lửa, với tay gắp một hòn than đỏ rực bỏ vào chiếc đĩa gốm đựng bột lá thiêng. Khói thơm bốc lên nghi ngút, cuộn thành những dải trắng mỏng manh trôi lờ lững quanh mái nhà sàn hình thuyền úp.
"Cởi áo da ra, ngồi xuống đây." Cha tôi ra lệnh.
Tôi làm theo lời ông, cởi bỏ chiếc áo da thú ướt sũng đặt sang một bên, để trần lồng ngực và tấm lưng vạm vỡ. Dưới ánh lửa bập bùng, những đường mực chàm cổ xưa trên da tôi hiện lên rõ mồn một. Từ hõm ngực, hai dải vảy rồng uốn lượn chạy dài xuống bụng dưới, rồi vươn rộng qua hai bả vai, hội tụ lại thành một chiếc đầu rồng dữ tợn há miệng đỏ lòm ngay giữa lưng tôi. Những nét mực này do chính tay cha tôi dùng gai bưởi tẩm mực thiêng khắc vào da thịt tôi từ năm tôi vừa tròn bảy tuổi. Tôi vẫn nhớ cơn sốt li bì suốt bảy ngày đêm năm đó, nỗi đau rát như bị nướng trên lửa đỏ khi từng mũi gai đâm thủng da thịt non nớt của một đứa trẻ.
Cha tôi vươn bàn tay thô ráp, chai sần lướt nhẹ dọc theo đường sống lưng tôi, nơi chiếc đầu rồng đang ngự trị. Ngón tay ông dừng lại ở điểm giao giữa hai bả vai, khẽ ấn mạnh:
"Con có bao giờ tự hỏi, tại sao thợ lặn cả vùng Bạch Hạc này chỉ xăm hình thủy ba, vảy cá chép hay thuồng luồng nhỏ, riêng mình con lại phải mang trên mình hình rồng cổ đại chín khúc này không?"
"Con tưởng... đó là hình xăm dành riêng cho con trai tộc trưởng, để con nước không nuốt chửng con khi lặn sâu," tôi đáp, giọng khẽ run khi ngón tay cha chạm vào vết mực đang hơi nhói buốt.
"Không đơn giản như vậy." Ánh mắt cha tôi rực lên theo từng tia lửa nổ lép bép trong bếp than. "Mười lăm năm trước, khi con vừa lên bảy, chiếc mào đỏ ngoài ngã ba sông từng nhô lên một lần giữa mùa lũ lớn. Đêm hôm đó, nước sông Bạch Hạc bỗng đỏ như máu tươi, cá tôm chết nổi trắng xóa từ thượng nguồn sông Lô dạt về bến Chợ Bờ."
Cha tôi dừng lại một nhịp, giọng chùng xuống như đang kể lại một cơn ác mộng vùi sâu dưới đáy ký ức:
"Thứ đang ngự dưới đáy vực Chợ Bờ không phải loài thuồng luồng thông thường. Nó là con Giao Long ngàn tuổi từng tung hoành từ thời Thần Nông mở cõi. Sáu mươi năm trước, thời Hùng Vương đời thứ 17, con quái vật này từng dâng sóng thần muốn đánh sập kinh đô Phong Châu. Tiên vương khi ấy đã thân chinh dẫn quân xuống bến sông này, dùng nỏ thần bắn mù mắt trái của nó, dùng thanh gươm đồng linh thiêng chặt đứt nửa chiếc đuôi thép của nó, ép nó phải rút sâu xuống huyệt đá ngầm dưới đáy vực Chợ Bờ."
Tôi nín thở, lắng nghe từng lời của cha rọi vào màn đêm tĩnh mịch:
"Để trấn áp con thú dữ đang thụ thương, Tiên vương cùng các pháp sư tối cao của hoàng triều đã dùng mực thiêng luyện từ máu rùa thần và bột đồng đen để lập một phong ấn huyết mạch. Nhưng dòng sông cuộn xiết, đá ngầm có thể mòn, gỗ lim có thể mục, duy chỉ có huyết mạch con người truyền đời là không bao giờ cạn. Tiên vương đã ban chiếc vòng đồng cổ này cho dòng họ ta, và lệnh cho tổ phụ con phải chọn ra đứa trẻ can trường nhất của bến sông để tiếp nhận phong ấn sống."
Cha tôi nắm lấy bàn tay tôi, kéo chiếc vòng đồng cổ lên sát ngọn lửa:
"Hình xăm trên lưng con chính là chiếc chìa khóa sống của phong ấn ngàn năm trước. Mực thiêng hòa vào máu con, nuôi dưỡng sức mạnh giúp con có thể mở mắt nhìn thấu bùn đen, nín thở dưới đáy sâu mà không bị áp lực nước nghiền nát. Nhưng ngược lại, con quái thú dưới đáy sâu cũng nhận ra mùi của thứ mực thiêng đã giam cầm nó suốt mấy chục năm qua."
Tôi giật mình, đưa tay sờ lên lồng ngực. Mỗi nhịp đập của trái tim dường như đang làm những đường mực chàm ấm dần lên:
"Nó trồi lên... là vì con sao, thưa cha?"
"Nó thức giấc vì tiếng động của những chiếc trống đồng rơi thẳng vào tổ của nó," cha tôi lắc đầu, ánh mắt đanh lại. "Nhưng nó không bỏ đi, nó phong tỏa ngã ba sông, quật nát thuyền buôn và xé xác cấm vệ quân là để đòi nợ máu. Nó biết kẻ giữ phong ấn đang ở ngay trên bờ nước này. Nó đang đợi một vật hiến tế xứng đáng. Không phải ba trăm con trâu đen của Lạc hầu Đan Bôn, mà là máu thịt của người mang hình xăm rồng cổ đại."
Một luồng khí lạnh buốt chạy dọc sống lưng tôi, xua tan hơi ấm của bếp than rực hồng. Hóa ra định mệnh của đời tôi không phải chỉ là một tay thợ lặn giỏi giang bắt cá mò ốc trên bến Chợ Bờ. Từ năm bảy tuổi, khi giọt mực thiêng đầu tiên ngấm vào da thịt, tính mạng của tôi đã bị trói chặt vào số phận của con quái thú ngàn năm dưới đáy vực thẳm.
"Cha giấu con suốt mười lăm năm qua..." Tôi siết chặt bàn tay, các khớp ngón tay kêu răng rắc. "Vì cha biết sẽ có ngày hôm nay?"
"Vì cha mong ngày này không bao giờ đến," cha tôi nhìn thẳng vào mắt tôi, trong đáy mắt ông ánh lên niềm tự hào pha lẫn nỗi đau đớn tột cùng của một người cha. "Con là đứa con duy nhất của ta, là thợ lặn cừ khôi nhất mà bến sông này từng sinh ra. Nhưng nợ non sông không thể trốn tránh. Nếu con lùi bước, ngã ba sông này sẽ trở thành mồ chôn của muôn dân Văn Lang."
Tôi đứng phắt dậy, bước ra mé hiên nhà sàn.
Gió từ dòng sông thổi thốc vào mặt tôi, mang theo hơi nước lạnh ngắt và mùi tanh nồng quen thuộc. Ngoài xa kia, giữa màn sương mù mịt mùng của ngã ba sông Bạch Hạc, xoáy nước Chợ Bờ vẫn đang quay cuồng điên loạn. Tôi mở to mắt nhìn xuyên qua làn nước đục ngầu, nơi đáy vực đen ngòm sâu hàng chục sải tay, một vệt sáng đỏ rực mờ ảo như ngọn lửa ngầm đang lượn lờ quanh những vách đá sắc nhọn.
Nó đang ở đó. Nó đang đợi tôi.
Bỗng nhiên, từ con đường cái quan dẫn về kinh thành Phong Châu, một hồi tù và bằng sừng trâu vang lên rền rĩ, xé toạc không gian u tịch của buổi sớm mai. Âm thanh trầm hùng, dồn dập vang vọng khắp các sườn đồi cọ, khiến đàn chim trĩ trên ngọn cây hoảng loạn vỗ cánh bay rợp trời.
Dồn dập theo sau tiếng tù và là tiếng vó ngựa phi như sấm rền dội thẳng xuống bến sông. Cát bụi bốc lên mù mịt ở lối vào vạn chài.
Tôi và cha tôi cùng bước vội xuống sân cát.
Một đoàn kỵ mã mặc giáp trụ bằng đồng thau sáng loáng, tay cầm cờ thêu hình chim Lạc sải cánh đang phi nước đại về phía chúng tôi. Dẫn đầu đoàn kỵ binh là một viên quan nội thị khoác áo choàng đỏ rực, tay giơ cao một ống lệnh bằng ngọc bích bịt vàng ròng, tỏa ra ánh sáng lấp lánh dưới ánh bình minh vừa hé rạng.
Đoàn sứ giả của Hùng Vương đời thứ 18 đã tới bến Chợ Bờ. Chiếu chỉ tối cao giáng xuống ngã ba sông.