Văn Thân Liệp Thủy - Chương 5: Huyết Mạch Giao Thương Đứt Đoạn
Bụi đỏ từ con đường cái quan bốc lên ngùn ngụt, quyện chặt vào lớp sương sớm ẩm ướt bên mép sông. Tiếng móng ngựa nện xuống nền đá gan gà dồn dập như…
Nội dung chương
Bụi đỏ từ con đường cái quan bốc lên ngùn ngụt, quyện chặt vào lớp sương sớm ẩm ướt bên mép sông. Tiếng móng ngựa nện xuống nền đá gan gà dồn dập như tiếng trống trận thúc giục, rung chuyển cả bờ dốc vạn chài Chợ Bờ.
Toán kỵ binh giáp trụ chỉnh tề ghìm cương ngay trước lối vào bãi cọc. Con ngựa ô đầu đàn hí vang một hồi dài, hai lỗ mũi phì phì hơi nóng, dậm chân cào tung từng mảng bùn non. Người dẫn đầu buông dây cương, nhảy xuống đất. Chiếc áo choàng đỏ viền chỉ vàng quét qua mũi giáo đồng của toán hộ vệ. Ông ta chính là viên quan truyền chỉ thân cận bên cạnh Hùng Vương đời thứ 18, gương mặt vuông chữ điền đanh lại, nét mặt mang vẻ nghiêm cẩn của người mang theo uy quyền tối thượng từ ngai vàng Phong Châu.
Cả bến sông chìm vào sự im lặng nghẹt thở. Hàng trăm người dân chài, thợ lặn cùng những người lính thoát chết đêm qua lập tức quỳ rạp xuống nền cát sỏi. Cha tôi đứng thẳng ở bậc thềm đá trước miếu thờ, đôi bàn tay gân guốc siết chặt lấy cán chiếc lao săn cá, rồi cũng từ từ quỳ một chân xuống đón lễ.
Tôi bước lên nửa bước, quỳ bên cạnh cha. Chiếc vòng đồng thau trên cổ tay tôi va chạm nhẹ vào chuôi con dao đồng bên hông, phát ra một tiếng kêu lách cách khô khốc.
Viên sứ giả giơ cao ống lệnh bằng ngọc bích bịt vàng ròng lên quá đầu. Dưới ánh nắng sớm vừa xuyên qua màn sương đục ngầu, mặt ngọc ánh lên sắc xanh biếc lạnh lẽo. Ông ta vặn nhẹ khớp đồng, rút ra một tấm lụa điều dài bản, bên trên dập nổi dấu triện hình chim Lạc sải cánh bằng chu sa đỏ tươi.
"Tộc trưởng bến Chợ Bờ cùng dân chúng vạn chài nghe chỉ!"
Giọng nói của viên sứ giả vang rền, lấn át cả tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền:
"Thủy quái đáy vực Chợ Bờ thức giấc làm càn, chặn đứng dòng Bạch Hạc, nhấn chìm thuyền rồng chở trống đồng của các bậc Lạc hầu, khiến huyết mạch giao thương của kinh đô đứt đoạn, dân chúng lầm than. Vua Hùng thứ 18 ban sắc chỉ: Bãi bỏ mọi lễ hiến tế trâu đen vô ích. Giang sơn Văn Lang không cúi đầu trước loài bò sát đáy sâu. Nay truyền lệnh cho vạn chài ngã ba sông, lệnh cho thợ lặn K'Nham - con trai tộc trưởng, người mang dấu tích phong ấn của Tiên vương Hùng Vương thứ 17. Lập tức đứng ra chiêu tập dũng sĩ thiện chiến nhất bến nước, chế tác binh khí liệp thủy. Lặn xuống sào huyệt diệt trừ ác thú, trục vớt trống đồng thiêng về cho hoàng triều. Kẻ nào lùi bước chém không tha, người nào lập công thưởng đất phong hầu!"
Lời tuyên đọc vừa dứt, viên sứ giả bước xuống từng bậc đá, tiến thẳng đến trước mặt tôi. Ánh mắt ông ta nhìn soi mói vào vạt áo da thú để hở một phần hình xăm vảy rồng nơi ngực tôi, rồi nhìn xuống chiếc vòng đồng cổ khắc hình mười tám con chim Lạc đang ôm chặt cổ tay tôi.
"K'Nham, tiếp chỉ!"
Tôi hít sâu một luồng dưỡng khí lạnh buốt mang theo vị bùn tanh nồng của ngã ba sông, giơ hai tay đón lấy tấm lụa điều. Thớ lụa nặng trịch, dính chặt vào lòng bàn tay tôi. Đây không đơn thuần là một mảnh vải ghi mệnh lệnh của vương triều, mà là sinh mạng của toàn bộ vạn chài, là danh dự ngàn năm của những kẻ bám sông giữ nước.
"Thần K'Nham, xin cúi đầu nhận thánh chỉ." Tôi dập đầu sát bãi cát ướt.
Viên sứ giả khẽ gật đầu, hạ giọng nói riêng với cha tôi và tôi:
"Lạc vương truyền lời dặn: Vua biết các người thạo nghề sông nước hơn bất kỳ binh sĩ cấm vệ nào trên bờ. Lần này triều đình gửi xuống hai xe quặng đồng tinh khiết, năm mươi bó dây mây già ngâm dầu trẩu và thuốc cầm máu từ ngự dược phòng. Đáy sông kia là nhà của các người, cũng là chiến trường định đoạt vận mệnh non sông. Nếu các người thất bại, giặc phương Bắc chỉ đợi lúc huyết mạch Phong Châu tê liệt là sẽ xuôi thuyền vượt ải tràn xuống."
Toán kỵ mã quay đầu ngựa, tung vó phóng ngược về phía rừng cọ để lại phía sau một dải bụi mịt mù.
Dân làng Chợ Bờ bắt đầu ngẩng đầu dậy. Những ánh mắt lo âu, sợ hãi dồn hết về phía tôi. Họ biết đáy vực xoáy Chợ Bờ sâu đến mức nào. Từ đời ông nội tôi truyền lại, chưa từng có một thợ lặn nào dám lặn quá ba mươi sải nước tại khúc sông dữ này mà còn giữ được mạng sống trở về, huống chi dưới đáy sâu giờ đây lại có một con Giao Long trăm tuổi đang chực chờ nuốt chửng mọi sinh linh.
Cha tôi đứng dậy, vỗ mạnh vào vai tôi. Bàn tay ông thô ráp như vỏ cây sú vẹt, truyền qua da thịt tôi một luồng hơi ấm quen thuộc:
"Dựng đàn tế thần sông. Đã đến lúc gõ mõ tập hợp dân bến."
Chỉ nửa khắc sau, một bàn thờ bằng đá hộc và thân tre già đã được khiêng ra đặt ngay sát mép nước réo sôi sùng sục. Khói trầm hương trộn lẫn nhựa trám rừng bốc lên ngùn ngụt từ chiếc lư đồng cổ, tỏa mùi thơm nồng nặc át đi mùi tanh tưởi của làn sương đục. Trên bàn thờ, một thủ lợn rừng còn tươi máu được đặt cạnh những bát rượu ngô vàng óng.
Cha tôi cầm chiếc mõ gỗ hình cá kình, gõ liên tiếp ba hồi chín tiếng. Tiếng mõ trầm đục vang vọng khắp khúc sông, lan sang cả những rặng lau sậy bên kia bờ sông Lô.
Tất cả thợ lặn của bến nước lập tức tề tựu. Họ đều là những chàng trai mình trần đóng khố, ngực lưng xăm kín hoa văn rồng nước, thủy quái để tránh cá dữ ăn thịt. Nhưng lúc này, nhìn vào vùng nước xoáy đen ngòm phía xa, đôi chân của nhiều người không giấu nổi sự run rẩy.
Tôi bước lên tảng đá lớn nhô ra sát dòng nước chảy xiết, cầm lấy ngọn lao đồng dài năm thước vừa được rèn từ quặng núi. Mũi lao sáng quắc, có ba ngạnh sắc nhọn uốn cong ngược ra sau, chuôi lao buộc chặt vào một sợi dây mây dẻo dai bản to bằng ngón tay cái.
Tôi nhìn lướt qua đám đông, cất cao giọng nói:
"Bà con vạn chài bến Chợ Bờ! Lệnh vua đã giáng xuống đầu chúng ta. Huyết mạch Phong Châu bị nghẽn, trống đồng của tổ tiên chìm sâu dưới bùn đen. Con thú dữ dưới đáy sông không để cho chúng ta con đường sống. Nếu hôm nay chúng ta sợ chết rụt cổ trên bờ, ngày mai cả làng chài sẽ chết đói, con cháu chúng ta sẽ không còn một tấc nước để quăng chài thả lưới!"
Đám đông xôn xao. Một thợ lặn luống tuổi bước ra, giọng run run:
"K'Nham! Mày cũng thấy chiến thuyền của triều đình to như ngôi nhà sàn mà bị nó quật vỡ vụn trong chớp mắt. Máu lính cấm vệ nhuộm đỏ cả ngã ba sông. Thợ lặn chúng ta dù có bơi giỏi như rái cá, lấy gì chọi lại hàm răng sắc như đá núi và lớp vảy đồng thau của nó?"
"Lấy ý chí của người Lạc Việt!" Tôi giơ cao ngọn lao đồng lên trời, ánh đồng lóe lên chói lòa. "Nó có nanh vuốt, chúng ta có ngọn lao bén. Nó có vảy dày, chúng ta có lưới bọc lưỡi câu ngâm nọc độc. Tiên vương đời thứ 17 từng đâm mù mắt nó, chặt đứt đuôi nó, chứng tỏ nó không phải thần thánh bất tử! Nó chỉ là một con ác thú già nua muốn đòi nợ máu!"
Tôi đảo mắt nhìn quanh những thanh niên trẻ tuổi nhất vạn chài:
"Ta cần bảy người! Bảy người gan dạ nhất, có thể nín thở lâu nhất, dám cùng ta ngậm dao lặn xuống huyệt đá Chợ Bờ! Kẻ nào dám bước lên?"
Không gian bến sông bỗng chốc lặng phắc, chỉ nghe thấy tiếng gió rít qua những khe cọc gỗ và tiếng nước sôi sùng sục ngoài xa.
Một bóng người vạm vỡ rẽ đám đông bước ra đầu tiên. Đó là Đăm, bạn nối khố của tôi, kẻ có lồng ngực rộng như cánh buồm và đôi bàn chân có màng da dày như chân rái cá. Đăm vác trên vai cây rìu đồng nặng trịch, dộng mạnh cán rìu xuống bãi cát:
"Tao đi với mày, K'Nham! Nhà tao ba đời ăn lộc khúc sông này. Tao thà chết chìm dưới đáy vực còn hơn ngồi nhìn bến Chợ Bờ chết đói!"
Tiếp theo đó, một thợ lặn có nước da ngăm đen, toàn thân chằng chịt những vết sẹo do cào hến và cá gai cắn bước lên. Đó là A Lăng, tay thợ lặn lớn tuổi nhất trong nhóm trẻ, người có khả năng mở mắt nhìn xuyên qua làn bùn đặc quánh suốt nửa tuần hương.
"Có tao nữa! Đêm qua em họ tao chết trôi dạt vào bãi cọc, xác không còn nguyên vẹn. Món nợ này phải tính với con thú dưới đáy sâu!" A Lăng gằn giọng qua kẽ răng.
Lần lượt từng người bước ra. Thác - kẻ bơi nhanh nhất bến sông Lô; Bột - thợ rèn kiêm tay phóng lao bách phát bách trúng; Nheo - kẻ có thể luồn lách qua những khe đá ngầm hẹp nhất; Cầm và Dáo - hai anh em sinh đôi nổi tiếng với ngón nghề giăng lưới bẫy ba ba gai khổng lồ.
Đủ bảy người. Bảy chàng trai Lạc Việt kiên cường nhất bến Chợ Bờ đứng dàn hàng ngang trước mặt tôi, mắt rực lửa căm hờn, cơ bắp cuồn cuộn dưới ánh mặt trời.
Cha tôi bước đến mép bàn thờ, bưng ra một chiếc bát gốm lớn đựng đầy rượu ngô sủi tăm. Ông nhìn tôi, rồi nhìn bảy chàng trai, ánh mắt nặng trĩu vẻ trang nghiêm:
"Trước mặt thần sông ngã ba Bạch Hạc, trước anh linh của Tiên vương và thánh chỉ của Lạc vương, uống cạn bát rượu này, mạng sống của các con thuộc về dòng nước. Sống cùng hưởng vinh hoa, chết cùng chôn đáy vực!"
Tôi đón lấy bát gốm từ tay cha, rút con dao đồng đeo bên hông ra. Lưỡi dao sắc bén lướt qua lòng bàn tay trái của tôi một đường dứt khoát.
Máu tươi màu đỏ thẫm lập tức trào ra, nhỏ từng giọt đặc quánh xuống bát rượu ngô.
Tôi chuyền bát rượu cho Đăm. Không một chút chần chừ, Đăm rạch ngón tay cái của mình, để máu nhỏ vào hòa cùng máu tôi. Bát rượu chuyền qua tay A Lăng, Thác, Bột, Nheo, Cầm và Dáo. Tám dòng máu của tám người con vùng bến nước hòa quyện vào nhau, làm cho bát rượu ngô ngả sang một màu đỏ ối như nước phù sa mùa lũ.
Tôi nâng bát máu thề lên ngang trán, hướng mặt ra dòng xoáy Chợ Bờ đang gầm gào:
"Trời đất chứng giám! Thần sông Bạch Hạc chứng giám! Tám anh em chúng tôi hôm nay cắt máu ăn thề. Xuống nước diệt trừ Giao Long, thu hồi trống đồng bảo vật. Nếu con thú dữ không đền mạng, khúc sông này chưa thông suốt, chúng tôi quyết không quay trở lại mặt đất!"
"Quyết không trở lại mặt đất!" Bảy chàng thợ lặn đồng thanh thét lớn, tiếng hô vang dội làm rung chuyển cả mép sóng đục ngầu.
Tôi ngửa cổ uống một ngụm lớn chất rượu ngô pha máu cay nồng, rồi truyền chiếc bát cho từng người uống cạn. Hơi rượu bốc lên nóng rực nơi lồng ngực, thiêu đốt mọi nỗi sợ hãi còn sót lại.
Khi giọt rượu cuối cùng cạn đáy, tôi nghiêng chiếc bát gốm, để vài giọt máu thề còn đọng lại rơi xuống dòng nước sông đang chảy cuồn cuộn dưới chân mình.
Máu vừa chạm vào mặt nước phù sa, một biến cố kinh hoàng lập tức ập đến.
Ngay tại nơi giọt máu tan ra, dòng nước đỏ bỗng nhiên sôi ùng ục, sủi lên hàng ngàn bọt khí mang mùi tanh tưởi rợn người. Cùng lúc đó, lồng ngực tôi đau nhói như bị dí một thanh sắt nung đỏ.
Tôi lảo đảo lùi lại nửa bước, đưa tay bấu chặt lấy ngực áo. Hình xăm rồng cổ đại bằng mực thiêng dưới lớp da thịt tôi bỗng chốc nóng bừng lên dữ dội. Những đường mực màu chàm sẫm cựa quậy, bỏng rát đến mức tôi cảm nhận rõ từng cái vảy rồng đang co thắt, cắn xé da thịt mình. Máu trong huyết quản tôi rần rật cuộn trào theo nhịp co bóp điên loạn của tim, chiếc vòng đồng cổ Hùng Vương ban tặng bên cổ tay cũng rung lên bần bật, phát ra luồng nhiệt lượng ấm nóng kỳ dị.
"K'Nham! Có chuyện gì vậy con?" Cha tôi hoảng hốt lao tới đỡ lấy vai tôi.
"Nó... nó ngửi thấy mùi máu của con rồi!" Tôi nghiến răng chịu đựng cơn đau buốt thấu tận xương tủy, giọng nghẹn lại.
Một tiếng nổ lớn như sét đánh ngang tai phát ra từ lòng sông.
Mặt nước ở ngã ba sông Bạch Hạc bỗng nhiên tách đôi ra thành một rãnh sâu hoắm. Những con sóng bạc đầu cao ngập đầu người chồm lên bờ cát, xô đổ hàng loạt giá phơi lưới và khiến đám đông dân làng hét lên kinh hoàng, nháo nhào tháo chạy ngược lên triền đồi.
Từ giữa tâm rốn nước xoáy Chợ Bờ, một cột nước khổng lồ màu đỏ đục bắn vọt lên không trung cao tới ba trượng.
Và rồi, xé toạc màn nước trắng xóa mù mịt, một chiếc mào đỏ rực như ngọn lửa địa ngục từ từ nhô cao lên khỏi mặt sông.
Chiếc mào ấy dài tới cả sải tay người lớn, dựng đứng với những gai thịt nhọn hoắt tua tủa, phủ một lớp chất nhầy màu lam lóa sáng rực dưới ánh nắng mặt trời. Bên dưới chiếc mào đỏ là một cái đầu mãng xà khổng lồ bọc trong lớp vảy đồng thau đen bóng xám xịt. Một bên mắt của nó đã bị mù từ trận chiến ngàn năm trước, chỉ còn lại một vết sẹo sâu hoắm xám ngoét, nhưng con mắt còn lại to như chiếc chiêng đồng, đỏ ngầu sắc máu, đang trừng trừng nhìn thẳng vào tôi.
Nó không chìm xuống đáy như mọi khi. Con thú dữ trăm tuổi trồi hẳn nửa thân trên lên khỏi mặt sóng, chiếc đuôi thép khổng lồ phía sau quật mạnh xuống nước tạo thành một tiếng nổ long trời lở đất, làm lật úp ba chiếc thuyền chài đang neo đậu gần đó.
Nó gầm lên một tiếng rền rĩ quái dị, như tiếng ma quỷ gào thét dội ra từ hang sâu thăm thẳm. Mùi tanh hôi nồng nặc của bùn lầy mục rữa và chất độc bốc lên ngập tràn bến sông, khiến mấy người lính cấm vệ đứng gần đó lập tức nôn thốc nôn tháo rồi ngã quỵ xuống bãi cát.
Con thú đang nhìn thẳng vào lồng ngực rực cháy của tôi. Chiếc mào đỏ rung lên bần bật trên đỉnh đầu nó như một lời khiêu chiến đẫm máu. Nó không đợi chúng tôi lặn xuống sào huyệt, mà chính nó đã trồi lên đón nhận huyết thề.
Đăm siết chặt cây rìu đồng, bàn chân lún sâu vào cát ướt:
"Nó đến rồi... Con súc sinh trồi lên rồi!"
Tôi gạt tay cha ra, đứng thẳng người dậy trên mỏm đá. Cơn đau rát từ hình xăm rồng trên ngực bỗng chốc biến thành một luồng sức mạnh cuồn cuộn dâng trào khắp cơ thể. Tôi nâng ngọn lao đồng ba ngạnh nhắm thẳng vào con mắt đỏ lòm của con quái vật giữa dòng nước lũ, cất tiếng thét vang vọng khắp bến Chợ Bờ:
"Chuẩn bị lưới dây mây! Xuất trận!"