Văn Thân Liệp Thủy - Chương 8: Mực Thiêng Tộc Trưởng

Gió từ ngã ba sông Bạch Hạc thốc lên bãi đá hẹp, mang theo mùi tanh nồng của bùn non và hơi lạnh buốt giá từ đáy vực Chợ Bờ. Nước sông Lô xanh biếc như…

Nội dung chương

Gió từ ngã ba sông Bạch Hạc thốc lên bãi đá hẹp, mang theo mùi tanh nồng của bùn non và hơi lạnh buốt giá từ đáy vực Chợ Bờ. Nước sông Lô xanh biếc như ngọc mắt mèo chém thẳng vào dòng nước đỏ quạch ngầu bọt của sông Thao, tạo nên một đường ranh giới rạch ròi, xoáy tròn cuồn cuộn tựa hai con cự xà đang cắn xé lẫn nhau.

Trên bãi đá nham nhở dấu chân sóng, mười hai tráng đinh người Lạc đứng trần mình giữa hơi sương lạnh. Lưng và ngực họ chằng chịt những vết sẹo do đá ngầm cào rách hoặc ngạnh cá chiên đâm trúng từ những mùa săn cá trước. Họ là những kình ngư thiện chiến nhất của vùng Phong Châu, từng lặn sâu ba sải tre dưới đáy vực để trục vớt gỗ lim, từng dùng dao đồng xẻ bụng cá sấu hoa cà giữa ban trưa. Lúc này, ánh mắt của mười hai người đàn ông ấy găm chặt xuống mặt nước sủi bọt, nơi từng chùm rác rác rưởi và cành cây khô bị nuốt chửng vào miệng vực tối tăm không để lại một dấu tích.

Bên cạnh đống lửa cháy rừng rực bằng củi dâu rừng, hai vị Lạc hầu mang giáp đồng khắc hoa văn mặt trời đứng sừng sững. Khuôn mặt họ đanh lại dưới ánh lửa bập bùng, hai bàn tay hộ pháp tì chặt lên cán rìu xéo bằng đồng thau sáng loáng. Giữa bãi đá, một chiếc trống đồng cỡ lớn được đặt ngay ngắn trên bốn bệ đá cuội. Mặt trống trổ hình chim Lạc bay ngược chiều kim đồng hồ, phản chiếu ánh lửa đỏ bầm.

Cha tôi bước ra từ sau bóng chiếc trống đồng. Ông khoác tấm da hổ xám đã sờn rách hai bên mép, cổ đeo chuỗi nanh heo rừng dài đến ngực. Đôi mắt già nua của người tộc trưởng quét qua từng gương mặt thợ lặn, rồi dừng lại trên người tôi.

"Con đã nhìn thấy tận mắt chiếc mào đỏ của nó dưới đáy hang ngầm," cha tôi lên tiếng, giọng ông đanh gọn át cả tiếng sóng vỗ bờ đá. "Nó không ngủ nữa. Máu của lái buôn, xác của thuyền bè chở muối, chở rìu đồng của các bộ tộc phương Bắc trôi dạt về đây đều chìm vào bụng nó. Lệnh Vua Hùng truyền xuống: hoặc là dẹp sạch hang quái, thông đường huyết mạch cho các Lạc hầu về chầu kinh đô Nghĩa Lĩnh, hoặc là cả vùng ngã ba sông này bỏ bến mà di dời lên rừng cao."

Tiếng rì rầm phẫn uất nổi lên giữa nhóm thợ lặn. Đăm, gã tráng đinh to lớn nhất xóm chài, kẻ có bàn chân to bè bám đá như móng rùa, bước lên một bước:

"Bến Chợ Bờ là nơi mồ mả tổ tiên chúng ta nằm xuống. Rời bến thì chúng ta sống bằng gì? Ăn củ mài, săn chuột rừng sao bằng buông lưới cắm lao? Tộc trưởng, xin người cho lệnh. Chúng tôi theo K'Nham xuống đáy vực!"

"Đáy vực Chợ Bờ sâu hơn bảy sải tre, nước xoáy vặn xương sườn người ta gãy vụn," tôi cất tiếng, bước tới mép vực đá dựng đứng. "Con quái vật có lớp vảy cứng hơn mai rùa núi, đuôi quạt một cái là đá ngầm vỡ đôi. Đi chuyến này, cửa chết mười phần chỉ mong nắm lấy một phần sống. Ai còn mẹ già chưa người phụng dưỡng, ai còn vợ dại con thơ, hãy bước lui ba bước về phía sau bệ trống đồng."

Gió vẫn rít qua những khe đá tai mèo. Mười hai người đàn ông nhìn nhau. Không một gót chân nào nhúc nhích. Họ siết chặt những bàn tay thô ráp, gân guốc nổi cộm dưới lớp da rám nắng phù sa.

Lạc hầu râu quai nón, người mang ấn kiếm của triều đình, gật đầu chậm rãi:

"Tốt lắm! Con dân Phong Châu không thẹn với dòng máu Hùng vương. Đem lễ thề ra đây!"

Hai tên thị vệ lực lưỡng khiêng tới một ché rượu lớn nung bằng đất sét nung lửa già, bên ngoài trét kín nhựa trám rừng. Khi nút lá chuối khô được giật phăng ra, mùi rượu cần ủ men lá tràm nồng nặc bốc lên xộc thẳng vào cánh mũi, mang theo vị chát đắng của vỏ cây thuốc giấu trên đỉnh núi Ba Vì.

Tôi rút con dao găm bằng đồng thau bên hông ra. Lưỡi dao được mài bén ngót, ánh lên sắc xanh lạnh lẽo dưới tàn tro bay lả tả. Tôi xòe bàn tay trái, ghì mũi dao vào giữa lòng bàn tay rồi dứt khoát rạch một đường dài từ gốc ngón cái chạy chéo sang gót bàn tay.

Máu tươi đỏ thẫm ứa ra thành dòng, rỉ qua kẽ ngón tay rồi chảy ròng ròng xuống miệng ché rượu thiêng. Chiếc vòng đồng cổ trên cổ tay tôi lại khẽ giật lên một nhịp ấm nóng, truyền vào dòng máu một luồng sinh khí vô hình.

"Tôi là K'Nham, con trai tộc trưởng bến Chợ Bờ!" Tôi giơ cao bàn tay đẫm máu trước mặt mười hai tráng sĩ. "Máu này hòa cùng rượu đất mẹ, xin dâng lên thần sông, thần núi. Trận này xuống nước, nếu không chặt đứt chiếc mào đỏ của Giao Long, thân xác tôi sẽ vĩnh viễn nằm lại làm mồi cho tôm cá, hồn phách không về quấy rầy chốn buôn làng!"

Đăm lập tức bước tới, rút dao găm của mình cứa mạnh vào lòng bàn tay rồi ép chặt vết thương vào miệng ché:

"Tao là Đăm! Máu tao hòa cùng máu K'Nham!"

Từng người một tiến lên. Mười hai dòng máu nóng hổi hòa lẫn vào thứ rượu chát đắng trong lòng ché gốm. Mùi máu tươi quện chặt với mùi men lá rừng bốc lên ngùn ngụt giữa làn gió lạnh sông Lô.

Sau khi ché rượu thề đã đầy ắp huyết thệ, cha tôi bưng ra một chiếc thố đá chứa thứ mực đen nhánh sền sệt. Đó là mực chàm lâu năm được nấu từ nhựa cây vang, tro than của lá cọ thiêng trên núi Hy Cương và mật của loài trăn gió bẫy trên đỉnh núi cao. Cạnh thố mực là một chiếc hộp tre đựng những mũi kim làm bằng xương đuôi cá đuối biển, đầu mài nhọn hoắt và có ngạnh răng cưa li ti.

"Thủy quái nhận biết đồng loại bằng hình xăm rồng, nhưng để chống lại nọc độc và dòng nước xoáy làm mờ mắt, các ngươi phải mang thêm ấn quyết hộ mệnh của tộc Lạc Việt," cha tôi nói, trao ống kim xương cho tôi. "K'Nham, hãy dùng chính đôi tay đã chạm vào linh khí Tiên vương để khắc dấu ấn lên da thịt những người anh em của con."

Tôi cầm lấy mũi kim xương cá đuối, nhúng sâu vào thố mực chàm đen quánh.

Người đầu tiên bước tới quỳ trước mặt tôi là Đăm. Gã cởi bỏ mảnh khố gai thô quấn quanh thắt lưng, để lộ tấm lưng vạm vỡ gồ ghề như một tảng đá cuội lòng sông. Tôi đặt bàn tay còn rướm máu lên bả vai trái của gã. Làn da Đăm nóng hổi, thớ cơ bắp cứng như gỗ nghiến.

"Cắn chặt thanh gỗ này," tôi đưa cho gã một mẩu gỗ sồi ngâm nước muối. "Mực này nấu bằng nọc độc trăn gió và tro thiêng, ngấm vào thịt sẽ buốt đến tận tủy sống."

Đăm ngoạm chặt thanh gỗ, hai mắt trợn trừng nhìn về phía dòng sông gầm thét.

Tôi hít một hơi thật sâu, dồn sức vào ngón tay, đâm mũi kim xương cá đuối xuống bờ vai gã.

Máu ứa ra ngay lập tức, quyện lấy màu mực đen kịt. Mũi kim xương cào rách từng lớp biểu bì, xé toạc từng thớ thịt non nảy nở. Tôi di chuyển ngọn kim dứt khoát, vạch nên hình tượng chiếc mỏ chim Lạc nhọn hoắt cắp lấy một viên ngọc lửa, xung quanh bao bọc bởi những đường sóng nước ba tầng gấp khúc - ấn quyết cổ xưa nhất của người Lạc dùng để trấn áp loài thuồng luồng dưới đáy vực sâu.

Đăm nghiến răng ken két vào thanh gỗ sồi, mồ hôi vã ra như tắm trên trán, chảy ròng ròng xuống sống mũi. Cơ bắp trên lưng gã giật nảy từng chặp theo từng đường kim đâm xuống, nhưng hai đầu gối gã vẫn cắm chặt vào đá cuội, không hề lay chuyển dù chỉ nửa phân. Khi mũi kim cuối cùng rút ra, tôi lấy nắm tro trấu mịn xát mạnh lên vết thương để cầm máu và giữ cho màu mực ăn sâu vĩnh viễn vào xương thịt.

Đăm nhổ phăng thanh gỗ ra khỏi miệng, thở hắt ra một hơi dài nồng nặc mùi máu:

"Mát lắm! Cứ như có dòng suối nguồn chảy qua vai tao vậy!"

Tôi tiếp tục bước sang người thứ hai, người thứ ba. Bãi đá bên bờ Chợ Bờ chìm vào sự im lặng nghẹt thở, chỉ có tiếng kim xương cá đuối rạch trên da thịt ran rát, tiếng nghiến răng ken két và tiếng sóng sông Lô va đập vào vách đá ngầm nghe như tiếng rống của ngàn vạn con thú dữ. Mỗi nhát kim đâm xuống là một lời thề sinh tử được khắc sâu vào da thịt những người con của bến nước.

Cho đến khi tôi bước tới trước mặt Khun.

Khun là thợ lặn lớn tuổi nhất trong đội cảm tử, đã ba mươi nhăm tuổi. Gã có nước da đen trũi vì phơi nắng và đôi mắt một mí ti hí có thể nhìn xuyên qua những luồng nước đục ngầu mùa lũ. Khun từng cứu sống năm chiếc thuyền chở trống đồng bị mắc cạn ở doi cát ngã ba sông năm ngoái, là cánh tay đắc lực của cha tôi từ thời trai trẻ.

"Đến lượt anh, anh Khun," tôi nói, nhúng ngọn kim xương cá đuối vào thố mực chàm đang vơi dần.

Khun bước lên, ngồi xếp bằng trên tảng đá phẳng. Nhưng khi bàn tay tôi vừa chạm vào vai gã, tôi giật mình nhận ra da thịt Khun lạnh toát như thịt một xác chết vừa vớt từ đáy sông lên. Khun ngồi không vững, hai bờ vai gã run rẩy từng hồi khe khẽ.

"Anh Khun, anh lạnh sao?" tôi hỏi nhỏ, ngón tay dừng lại trên bờ vai gã.

"Không... không sao," Khun mấp máy đôi môi thâm sì, giọng gã run lên bần bật. "Hơi nước... hơi nước từ vực xông lên buốt quá thôi. Mày cứ châm kim đi, K'Nham. Tao không sợ đau đâu."

Tôi nghi ngờ nhìn sâu vào mắt Khun. Đáy mắt gã đỏ hoe, những tia máu li ti vỡ ra chằng chịt trong tròng trắng, tạo thành một quầng màu tím sẫm đáng sợ. Tôi đặt đầu mũi kim xương lên vai gã, hơi ấn nhẹ xuống.

Mũi kim vừa cắm qua lớp da dày, Khun bỗng thét lên một tiếng man dại.

Đó không phải là tiếng la hét vì đau đớn thể xác thông thường. Tiếng kêu éc éc nghẹn lại nơi thanh quản gã nghe the thé, đục ngầu tựa như tiếng kêu của một con vạc bị bóp nghẹt cổ họng dưới đầm lầy. Toàn thân Khun giật nảy lên một cái cực mạnh, hất văng mũi kim trên tay tôi rơi xuống bãi đá cuội.

"Khun! Mày làm sao thế?" Đăm lao tới đỡ lấy vai gã.

Khun ngã sụp xuống bãi cát, hai tay ôm chặt lấy bụng, người cong gập lại như con tôm bị ném vào chảo mỡ sôi. Da mặt gã từ màu đen trũi nhanh chóng chuyển sang màu xám ngoét của xác chết úng nước. Các mạch máu trên cổ và thái dương Khun phồng to lên, giật giật từng nhịp điên loạn dưới lớp da mỏng, chuyển dần sang màu đen tím kỳ dị.

"Ọe... ặc!"

Khun há hốc mồm, quằn quại nôn thốc nôn tháo xuống bãi cát dưới chân bệ đá.

Mọi người lùi dạt ra sau, kinh hoàng nhìn bãi nôn của người thợ lặn dạn dày kinh nghiệm nhất bến sông. Thứ vọt ra từ miệng Khun không phải là cơm ngô hay rượu cần gã ăn lúc ban chiều. Đó là một bãi phù sa đen ngòm, quánh đặc và nhầy nhụa như mủ thối, bốc lên mùi tanh tưởi nồng nặc khiến Lạc hầu đứng cách xa ba trượng cũng phải bịt mũi cau mày.

Kinh khiếp hơn cả, lấp lánh giữa bãi phù sa đen thối ấy là những mảnh vảy nhỏ li ti bằng móng tay út, đỏ sẫm như màu máu đọng. Những mảnh vảy ấy vẫn còn khẽ giật giật trên cát ướt, rồi tan rữa ra thành những vệt nước nhờn đỏ lòm ngấm sâu vào bãi cát.

"Nước... nước..." Khun cào cấu hai bàn tay vào cổ họng mình, cào đến mức da thịt rách bươm, rỉ máu tươi. "Cổ họng tao... rát quá... có cái gì đang bò trong bụng tao!"

"Tà khí của Giao Long!" Cha tôi biến sắc mặt, vội vã rút chùm ngải cứu khô bên thắt lưng ném vào đống lửa. Khói ngải cứu trắng đục bốc lên cay nồng, bao phủ lấy thân thể đang co giật của Khun.

Tôi quỳ sụp xuống bên cạnh Khun, tóm lấy hai cổ tay gã để ngăn không cho gã tự cào rách yết hầu mình:

"Anh Khun! Anh đã uống thứ gì? Anh uống nước ở đâu?"

Khun thở dốc, bọt mép sùi ra hai bên khóe miệng lẫn máu đen:

"Nước... nước ở giếng xóm Trại... Chiều nay tao... tao khát quá nên múc một gáo... giếng đào sâu dưới chân vách đá Chợ Bờ..."

Một sự im lặng ghê rợn trùm lên cả bãi sông. Tiếng sóng gầm dưới vực xoáy bỗng như lớn hơn, hung hãn hơn, dội vào vách đá từng hồi đanh gọn như tiếng cười nhạo báng của loài quái thú.

Lạc hầu râu quai nón bước tới, nét mặt lộ rõ vẻ bàng hoàng tột độ. Ông cúi xuống nhìn bãi dịch đen đang ăn mòn lớp cát sỏi:

"Mạch nước ngầm của buôn làng đã bị ô nhiễm rồi. Con quái vật không chỉ chặn đường thuyền bè trên mặt sông, tà độc từ hang ổ của nó đã ngấm sâu qua các mạch đá ngầm, luồn vào tận những giếng nước sinh hoạt của người Lạc."

"Nếu không trừ khử nó ngay," Đăm nghiến răng, giọng run lên vì giận dữ lẫn sợ hãi, "thì chỉ mười ngày nửa tháng nữa, cả đàn bà, trẻ con trong làng uống phải nước này đều sẽ nôn ra máu đen mà chết sạch!"

Nỗi sợ hãi vô hình ban nãy bỗng biến thành một mối hiểm họa cận kề, bóp nghẹt lấy từng hơi thở của những người đàn ông bến Chợ Bờ. Cửa tử không còn nằm riêng dưới đáy vực Chợ Bờ nữa. Nó đã bò vào từng vò nước, từng gáo dừa trong căn nhà sàn của họ, đe dọa mạng sống của mẹ già, con thơ nơi xóm bãi.

Tôi nhìn Khun đang oằn mình trên bãi cát, hai mắt gã đã lờ đờ, hơi thở yếu ớt như ngọn đèn trước gió. Chiếc vòng đồng cổ trên tay tôi nóng rực lên, truyền một luồng nhiệt chạy thẳng dọc cánh tay.

Không chần chừ, tôi đưa bàn tay trái vẫn còn rỉ máu thề ban nãy lên miệng vết thương, ghì chặt miệng vết rách đẫm máu Tiên vương vào đôi môi khô khốc của Khun.

"Uống đi, anh Khun! Uống máu của tôi!" Tôi gằn từng tiếng qua kẽ răng.

Máu của tôi mang linh khí của ấn mực rồng và phước lành của Tiên vương Hùng vương đời thứ 17 chảy thẳng vào miệng Khun. Người thợ lặn già nuốt ừng ực từng ngụm máu tươi.

Một luồng khói xám mỏng bốc lên từ lồng ngực Khun, mùi tanh tưởi giảm dần. Những đường mạch máu đen tím trên cổ gã bắt đầu lặn xuống, da thịt dần lấy lại sắc đỏ của người sống. Tiếng thở dốc của gã êm dần, đôi bàn tay co quắp buông lỏng ra trên cát, người gã chìm vào một giấc ngủ mê man nhưng hơi thở đã đều đặn trở lại.

Cha tôi thở phào một tiếng, ra hiệu cho hai tráng đinh khiêng Khun vào căn lều tế lễ cạnh bờ sông để chăm sóc.

Mười một người tráng đinh còn lại đứng nhìn tôi. Ánh mắt họ lúc này không còn sự hoang mang dao động nữa. Ngọn lửa căm hờn và ý chí sinh tử đã bùng cháy rực rỡ trong đáy mắt của từng kình ngư bến Chợ Bờ. Họ hiểu rằng, lùi một bước là buôn làng diệt vong, tiến một bước xuống đáy vực xoáy là con đường sống duy nhất của cả bộ tộc.

Tôi nhặt mũi kim xương cá đuối dưới đất lên, nhúng ngập vào thố mực chàm còn lại.

"Ai tiếp theo?" Tôi ngẩng đầu lên hỏi, giọng vang rền trên mặt nước sóng gió.

Một tráng sĩ trẻ tuổi bước tới, dứt khoát quỳ sụp xuống trước mặt tôi, đưa tấm lưng trần vạm vỡ về phía ngọn lửa:

"Khắc cho em, anh K'Nham! Khắc thật sâu vào! Em muốn con thú dữ nhìn thấy ấn quyết này trước khi ngọn lao của em đâm thủng mắt nó!"

Mũi kim xương lại cắm sâu vào da thịt. Máu lại chảy, hòa vào màu mực chàm đen thẫm. Từng nhát kim giáng xuống dứt khoát, mang theo thệ ước của những kẻ không còn đường lui.

Khi người cuối cùng được khắc xong ấn quyết hộ thân, trăng muộn đã chìm khuất sau rặng núi Phong Châu mờ mịt sương đêm. Mười hai tráng sĩ đứng thành một vòng tròn quanh ché rượu thề.

Tôi nâng ché rượu gốm lên bằng hai bàn tay, ngửa cổ uống một ngụm lớn. Vị rượu nồng nặc mùi máu, chát đắng và cay xé cuống họng, đốt cháy lồng ngực tôi thành một khối lửa hừng hực. Ché rượu được truyền tay qua từng người, từng người một uống cạn lời thề của đời mình trước khi ném vỡ tung chiếc ché gốm xuống bãi đá cuội.

Choang!

Tiếng gốm vỡ sắc lẹm vang lên, chìm nghỉm vào tiếng gầm thét dữ dội của ngã ba sông.

Lạc hầu râu quai nón bước tới bên bệ trống đồng, giơ cao chiếc dùi gỗ bọc da mang hình đầu rồng, giáng mạnh xuống mặt trống:

Tùng! Tùng! Tùng!

Tiếng trống đồng rền vang, trầm hùng và uy nghiêm, xé toạc màn sương mù dày đặc trên bến Bạch Hạc, truyền đi khắp các sườn đồi Phong Châu.

"Truyền lệnh cho phường thợ đúc đồng xã Phong Châu!" Tiếng Lạc hầu vang lên dõng dạc giữa tiếng trống thúc trận. "Ngay trong đêm nay, nổi lửa tất cả các lò nung! Gom hết đồng đỏ, sáp ong và mây rừng dẻo nhất! Ngày mai, trước khi con thú dữ thức giấc theo con nước ròng, toàn bộ lao đồng ngạnh ngược và lưới săn quái phải sẵn sàng bên bến Chợ Bờ!"

Tôi đứng nhìn ra dòng xoáy đen ngòm giữa ngã ba sông. Mặt nước Chợ Bờ đang cuộn lên những đám bọt đỏ như máu. Dưới đáy sâu kia, con mãng xà trăm tuổi chắc chắn cũng đang nghe thấy tiếng trống đồng đang gầm vang trên mặt đất. Cuộc đi săn dưới đáy vực đã thực sự bắt đầu.

Chương khác

Xem thêm