Văn Thân Liệp Thủy - Chương 9: Vòng Đồng Cổ Hùng Vương Đời 17

Tiếng bễ thụt bằng da trâu thở phì phò suốt từ nửa đêm đến tận khi mặt trời đội sương nhô lên khỏi rặng núi Ba Vì. Khói than củi xông lên cay xè hai hốc…

Nội dung chương

Tiếng bễ thụt bằng da trâu thở phì phò suốt từ nửa đêm đến tận khi mặt trời đội sương nhô lên khỏi rặng núi Ba Vì. Khói than củi xông lên cay xè hai hốc mắt, quyện chặt với mùi lưu huỳnh nồng nặc và mùi mỡ rái cá cháy khét lẹt bên mép lò nung.

Đất Phong Châu chưa từng chứng kiến một đêm đỏ lửa nào dữ dội đến thế. Dọc theo triền đê bến Chợ Bờ, bảy cụm lò đúc đồng của phường thợ giỏi nhất được dựng cấp tốc bằng đất sét trộn rơm mục. Những tảng quặng đồng đỏ đưa từ mỏ trên mạn ngược sông Lô về được đập vụn thành từng hòn nhỏ bằng nắm tay, chất đầy vào các nồi tiêu bằng đất nung dày hai ngón tay. Lửa ngùn ngụt táp lên trần lán tre, nhuộm đỏ au từng gương mặt gân guốc, đẫm mồ hôi của những người thợ rèn gõ búa thâu đêm.

Tôi ngồi xổm trên một phiến đá cuội lớn ven mép lò số ba, hai bàn chân bấu chặt vào nền đất cát ướt sũng. Bàn tay trái mang chiếc vòng đồng của Tiên vương vẫn còn âm ấm nhiệt độ của ấn thề đêm qua. Trước mặt tôi, một chậu nước ngâm rễ cây chát để làm nguội kim loại bốc hơi nghi ngút mỗi khi có một mũi lao mới được gắp ra khỏi khuôn cát.

Thợ cả Canh - người thợ đúc khéo tay nhất của đất Bạch Hạc, mái tóc hoa râm búi gọn sau gáy - dùng chiếc kẹp sắt dài gắp một mũi lao đồng đỏ rực vừa rút ra khỏi khuôn hai mảnh. Lưỡi lao vừa tiếp xúc với không khí liền đổi sang màu đỏ sẫm. Ông nhúng đầu mũi lao vào thùng nước tôi luyện, một tiếng xèo chói tai rít lên, hơi nước trắng xóa bốc mù mịt che khuất cả nửa khuôn mặt lấm lem than củi của ông lão.

"K'Nham, con đỡ lấy mũi này!" Thợ cả Canh cất giọng khàn đặc vì khói bụi, đưa chuôi ngọn lao về phía tôi. "Đúng theo lời dặn của cha con, mũi lao cánh én xẻ rãnh máu, bốn phía đều có ngạnh ngược."

Tôi đưa tay đón lấy. Thân lao dài bằng một sải tay người lớn, nặng chừng nửa thân cây chuối non, đúc bằng thứ đồng đỏ pha thiếc theo đúng tỷ lệ để kim loại vừa cứng cáp mà không giòn gãy. Phần mũi lao nhọn hoắt như mỏ chim bói cá, hai bên cánh xòe rộng ra rồi uốn cong ngược về phía sau thành hai móc câu sắc lẹm. Dọc sống lao, thợ cả Canh đã khéo léo trổ một đường rãnh sâu bằng nửa đốt ngón tay. Đường rãnh này dùng để thoát máu quái thú khi đâm ngập sâu vào thịt, khiến vết thương không thể khép miệng và hút nước sông vào làm kiệt sức con vật.

Tôi vớ lấy hòn đá mài ráp lấy từ lòng suối đá Phong Châu, dấp nước phù sa rồi bắt đầu ghì chặt lưỡi lao lên mặt đá. Tiếng kim loại cọ xát ken két vang lên rợn người. Từng mạt đồng li ti bắn ra, lấp lánh dưới ánh lửa lò. Tôi dồn hết sức nặng của bả vai tì xuống sống đá mài, vuốt từng đường dứt khoát từ gốc ngạnh lên đến đỉnh nhọn. Đá mài gọt đi lớp gỉ xỉ đen đúa bên ngoài, để lộ ra ánh kim loại sáng quắc, lạnh buốt thấu xương.

Tôi đưa ngón tay cái lướt nhẹ qua mép ngạnh ngược. Mũi câu bén ngọt khẽ cứa rách lớp da chai sần, một giọt máu đỏ tươi ứa ra, dính vào đường rãnh thoát máu. Vũ khí săn thú dữ dưới đáy vực sâu bắt buộc phải khát máu ngay từ trên cạn như thế.

"Được lắm, bác Canh!" Tôi quệt giọt máu vào vạt khố, gật đầu nói lớn qua tiếng bễ thụt. "Độ ngấu của đồng rất chắc, tiếng gõ đanh như đá tảng. Với ngọn lao này, một khi cắm ngập vào thớ thịt, dẫu con mãng xà có lộn nhào ba vòng dưới đáy vực cũng đừng hòng giật phăng ra được."

"Đồng thì tốt rồi, nhưng lưới giữ chân nó mới là chuyện sống còn."

Tiếng nói trầm đục của cha tôi vang lên từ phía sau lưng. Tộc trưởng bước tới, chiếc áo vỏ cây sui khoác trên vai đã ướt đẫm sương sớm. Đi cùng ông là Đăm và bốn tráng đinh khỏe mạnh nhất của đội lặn đêm qua. Họ đang cùng nhau khiêng một cuộn lưới khổng lồ từ chiếc lán dựng tạm ngoài bãi cát vào bãi đất trống.

Đó là tấm đại võng săn kình ngư do phường đan lưới Chợ Bờ dệt ròng rã suốt hai ngày đêm. Tấm lưới không làm bằng sợi gai hay vỏ dừa thông thường mà được bện từ những sợi mây rừng già thu hái tận những hẻm núi đá hiểm trở của đỉnh Ba Vì. Mây sau khi róc gai được chẻ thành từng nan mỏng bằng sợi rơm nếp, đem ngâm nước vôi nồng ba ngày cho rữa hết chất ngọt bên trong, rồi bện xoắn bảy tao lại với nhau thành những sợi dây to bằng ngón chân cái.

Ở mỗi mắt lưới đan hình vảy rùa, thợ rèn Phong Châu đã dùng gân đuôi trâu rừng buộc chặt một ngạnh câu đồng thau bốn chấu. Cứ cách một sải tay lại có một ngạnh câu sắc lẻm chìa ra tua tủa. Tấm lưới trông như một con rết khổng lồ nằm cuộn tròn trên bãi cát, tỏa ra mùi ngai ngái của vỏ cây rừng lẫn mùi tanh nồng của mỡ rái cá.

"Đăm, đem dầu lại đây!" Tôi buông hòn đá mài, đứng bật dậy phủi bụi đồng bám trên đùi.

Đăm cùng hai chàng trai vạm vỡ khênh một vò sành lớn đựng đầy dầu mỡ rái cá đã được nấu sôi lăn tăn trên lửa than. Thứ dầu này được người Lạc tích trữ qua nhiều mùa săn, có tính trơn nhẫy và ngăn nước ngấm vào thớ gỗ thớ mây cực tốt. Người thợ lặn bôi mỡ này lên da thì chịu được cái lạnh buốt của đáy sông, còn dây mây ngâm thứ mỡ này sẽ dẻo quẹo như sợi gân thú, ngâm dưới dòng xoáy ba năm cũng không mục nát.

Chúng tôi dùng gáo dừa múc từng gáo dầu rái cá nóng rẫy dội đều lên khắp tấm lưới mây. Mùi dầu mỡ bốc khói cay nồng quyện vào từng tao mây rít lên khe khẽ. Sợi mây khô khát uống trọn từng giọt dầu, chuyển dần từ màu vàng ngà sang màu nâu cánh gián bóng nhẫy.

"Căng góc lưới ra! Thử sức kéo của bảy tao mây!" Tôi hô to, giơ tay ra hiệu cho toán tráng sĩ.

Bốn cọc gỗ sến to bằng bắp đùi người lớn đã được đóng sâu xuống bãi bồi ven sông từ trước. Bốn góc của tấm đại lưới được tròng vào các cọc gỗ. Tôi cùng Đăm và sáu người đàn ông lực lưỡng khác nắm lấy thân lưới chính, luồn đòn khiêng bằng gỗ nghiến vào giữa, dồn toàn bộ sức nặng của thân thể ngả người về phía sau kéo căng.

Những thớ cơ bắp cuồn cuộn trên lưng tôi giật nảy lên dưới lớp hình xăm mực chàm. Tiếng dây mây căng ra rền rĩ ken két như tiếng gân bò bị kéo giãn. Tấm lưới rung lên bần bật nhưng các mắt lưới gài ngạnh câu vẫn siết chặt lấy nhau, không một tao mây nào bị đứt gãy hay biến dạng. Sợi mây ngậm dầu rái cá trơn tuột nhưng dẻo quánh, giữ chặt lấy các ngạnh móc đồng như móng vuốt cắm chặt vào da thịt.

"Tốt rồi! Tấm lưới này chịu được sức kéo của mười con trâu mộng!" Đăm thở hổn hển, mồ hôi chảy ròng ròng trên sống mũi, cất tiếng cười sảng khoái. "Con ác thú dưới đáy vực xoáy Chợ Bờ dù có quẫy nát cả khúc sông Bạch Hạc cũng phải đứt vảy rách da với đám ngạnh câu này!"

Những người thợ đúc và dân làng đứng quanh bãi cát đồng loạt cất tiếng reo hò. Nụ cười rạng rỡ vừa hé lộ trên gương mặt hốc hác của những người thợ rèn sau một đêm thức trắng. Ánh lửa bễ nung phản chiếu vào đôi mắt của từng người Lạc niềm hy vọng về một chuyến đi săn thắng lợi, mở lại con đường giao thương huyết mạch cho các đoàn thuyền chở trống đồng của vua Hùng.

Giữa lúc mọi người đang hân hoan, tôi bỗng khựng lại.

Một cảm giác nhói buốt chạy dọc từ cổ tay trái nơi đeo chiếc vòng đồng của Tiên vương truyền thẳng vào tim. Hai cánh chim Lạc chạm nổi trên mặt đồng thau bỗng lạnh ngắt như một cục băng vừa vớt lên từ đáy vực.

Tôi quay sang nhìn chiếc bình gốm nhỏ đặt khuất sau góc lán thợ rèn. Đó là chiếc bình chứa mẫu nước phù sa đen ngòm sặc mùi tanh tưởi mà tôi đã lặn xuống múc lên từ miệng hang ngầm Chợ Bờ đêm qua. Nước trong bình đen sẫm như nước luộc củ nâu để lâu ngày, mặt nước đóng một lớp váng dầu màu tím biếc nhờn nhẫy.

"Chờ đã!" Tôi giơ tay ngăn tiếng cười nói của đám đông. "Chưa thể khẳng định điều gì khi dây mây chưa chạm vào nọc độc của chính nó."

Mọi tiếng reo hò bỗng chốc im bặt. Đám thợ rèn buông ống bễ thụt, cha tôi bước nhanh lại gần, ánh mắt ông lộ rõ vẻ âu lo.

Tôi bước tới, cẩn thận bưng chiếc bình gốm lên. Đăm tò mò ghé đầu nhìn vào:

"Anh K'Nham, nước sông thôi mà, chẳng lẽ dầu rái cá lại sợ nước lũ?"

"Nước lũ Chợ Bờ bình thường chỉ có cát và phù sa," tôi đáp, giọng trầm xuống. "Nhưng thứ nước này chảy ra từ kẽ răng và lớp nhớt trên vảy của con thú trăm tuổi. Đêm qua Khun chỉ nuốt phải một ngụm nhỏ mà đã suýt nát buồng gan. Chúng ta phải thử."

Tôi cắt một đoạn dây mây bện bảy tao thừa ra ở mép lưới, đoạn dây đã ngấm no dầu rái cá trơn bóng lộn, rồi dìm thẳng khúc mây vào trong miệng bình gốm.

Xèo! Xèo xèo!

Một chuỗi âm thanh ghê rợn vang lên ngay khi đoạn mây vừa ngập trong dòng nước đen. Bọt khí màu xám xịt sủi ùng ục lên miệng bình gốm như thể có ai đó vừa ném một hòn than rực lửa vào vạc dầu sôi. Một làn khói hôi thối, nồng nặc mùi xác chết thối rữa và mùi tanh của bùn rêu nghìn năm bốc thẳng lên không trung, xộc thẳng vào mũi khiến những người đứng gần phải ôm họng nôn ọe thốc tháo.

Tôi vội vàng dùng kẹp sắt gắp đoạn dây mây ra khỏi bình, ném mạnh xuống bãi cát.

Cảnh tượng trước mắt khiến toàn bộ tráng đinh và thợ cả rùng mình khiếp đảm.

Lớp mỡ rái cá trơn bóng bên ngoài đã bị ăn mòn sạch trơn không còn một dấu vết. Bảy tao mây rừng già dẻo dai vừa chịu được sức kéo của tám người đàn ông lực lưỡng lúc này đang mủn ra, thâm đen và co quắp lại như rễ cây khô bị đốt cháy. Tôi dùng mũi dao đồng khẽ ấn nhẹ, sợi mây lập tức gãy vụn thành từng mẩu đen sì như tro tàn, bốc khói nghi ngút.

"Trời đất ơi..." Đăm lùi lại hai bước, mặt cắt không còn hột máu. "Nước dãi của con quái thú có độc ăn mòn da thịt! Sợi mây vừa chạm vào đã rữa nát thế kia, thì làm sao trói được thân mình nó?"

Sự im lặng đáng sợ bao trùm lấy bến sông Phong Châu. Tiếng gió rít qua rặng tre nghe như tiếng than khóc của những người đã bỏ mạng dưới đáy Chợ Bờ. Bao nhiêu công sức đúc đồng, chẻ mây, ngâm dầu của cả buôn làng suốt hai ngày qua bỗng chốc đứng trước nguy cơ trở thành đống rác vô dụng. Nếu tấm lưới mây rữa nát ngay khi chạm vào dòng xoáy mang nọc độc của Giao Long, mười hai tráng sĩ chúng tôi lặn xuống đáy vực chẳng khác nào tự trói mình nộp mạng cho hàm răng nhọn hoắt của ác thú.

Thợ cả Canh run rẩy đánh rơi chiếc kẹp sắt xuống nền đất:

"Đồng thau thì chịu được nọc độc của nó, nhưng không có lưới mây kìm giữ thì làm sao kéo nổi một con quái vật dài năm bảy trượng từ đáy vực lên? Dây mây rừng là thứ bền nhất trên cạn này rồi, nếu mây rừng cũng rữa thì chúng ta lấy gì trói nó đây tộc trưởng?"

Cha tôi đứng lặng, bàn tay nắm chặt chuôi rìu đá hộ mệnh đeo bên hông. Đôi mắt già nua của người từng trải qua hàng chục trận thủy chiến nhìn chăm chú vào nhúm tro mây đen ngòm đang bốc khói trên bãi cát.

"Thuốc độc của loài thủy tộc chỉ có linh khí của đất mẹ mới trừ được," cha tôi cất giọng chậm rãi, từng lời nặng trĩu. "Năm xưa, khi Tiên vương Hùng vương đời thứ sáu đi dẹp giặc trên sông Lô, quân lính bị rắn nước cắn đều dùng tro trấu của lúa thiêng để hút nọc độc ra ngoài. Lúa nếp nương Phong Châu hút linh khí của trời đất, hạt trấu mang vỏ bọc của thần lúa, tính kiềm của tro trấu có thể khắc chế nọc độc của đầm lầy."

Tôi nhìn cha, tia hy vọng bùng lên:

"Ý cha là... dùng tro vỏ trấu thiêng kết hợp với nhựa cây rừng?"

"Đúng vậy!" Cha tôi gật đầu dứt khoát. "Vỏ trấu của lúa thiêng sau mùa gặt tế trời đêm rằm tháng Bảy vẫn còn cất giữ trong kho tế lễ của làng. Đem tất cả đốt thành than tro mịn, hòa với nhựa cây bời lời và mủ cây sau sau trên rừng sâu! Thứ hỗn hợp đó một khi trát lên mây rừng và tôi qua lửa, sẽ tạo thành một lớp giáp đá bọc ngoài sợi mây, nọc độc ác thú không thể nào xâm phạm!"

Lệnh truyền phát ra lập tức xua tan bầu không khí tuyệt vọng. Hơn ba mươi người đàn bà, con gái trong buôn làng nhanh chóng chạy về phía nhà kho tế lễ, gánh từng bồ trấu nếp thiêng đổ ra bãi bồi. Lửa lại bùng lên, nhưng lần này là ngọn lửa cháy âm ỉ từ những đống vỏ trấu vàng ươm, tỏa ra mùi thơm ngọt ngào của hương lúa mới, lấn át đi mùi hôi tanh nồng nặc của nọc độc Chợ Bờ.

Phía bên kia bãi bồi, các tráng đinh dùng chày gỗ giã nhuyễn hàng gánh nhựa cây bời lời dẻo quánh, trộn lẫn với nước vôi tôi và tro trấu vừa đốt xong. Hỗn hợp tro trấu và nhựa cây biến thành một thứ cao màu xám đen, dẻo quánh như bùn non nhưng bốc lên một mùi thơm ngai ngái, the nồng của tinh dầu vỏ trấu.

Chúng tôi kéo toàn bộ tấm đại lưới dài hơn mười trượng qua một chiếc máng gỗ lớn chứa đầy thứ nước tro trấu quánh đặc ấy. Từng bàn tay của tôi, của Đăm, của thợ cả Canh miết chặt hỗn hợp tro trấu vào từng kẽ hở của bảy tao mây, nhồi thật kỹ vào gốc từng ngạnh câu đồng thau. Lớp vỏ xám bọc kín lấy sợi mây, khô lại nhanh chóng dưới gió sông Hồng, tạo thành một lớp màng bọc xù xì, rắn rỏi như da cóc.

Để chắc chắn, thợ cả Canh còn cho khiêng toàn bộ các mũi lao đồng ngạnh ngược nhúng ngập vào vạc nước tro trấu đang sôi sùng sục. Khi kim loại nguội đi, trên bề mặt sáng quắc của mũi lao đồng phủ thêm một lớp men màu lam xám mờ ảo, làm triệt tiêu hoàn toàn mùi tanh của kim loại tươi, tránh đánh động khứu giác cực kỳ nhạy bén của loài thủy quái.

Mặt trời đứng bóng rồi ngả dần về phía tây. Khi những tia nắng cuối cùng của ngày chìm dần sau đỉnh núi Phong Châu, tấm đại lưới bọc tro trấu thiêng đã hoàn toàn khô ráo.

Tôi lại cầm chiếc kẹp sắt, gắp một đoạn mây đã tôi luyện xong nhúng thẳng vào chiếc bình gốm chứa nọc độc.

Mặt nước đen trong bình khẽ gợn sóng. Không còn tiếng xèo xèo chói tai. Không còn bọt khí sủi tăm. Không còn làn khói hôi thối bốc lên. Sợi mây bọc tro trấu nằm im lìm trong làn nước độc, lớp vỏ xù xì bọc ngoài vẫn trơ trơ như đá tảng, chất nhầy của quái vật trượt tuột ra khỏi bề mặt sợi mây như nước đổ lá khoai.

"Thành công rồi!" Đăm hét lên, vung nắm đấm vào không trung.

Cả bãi bồi ven sông vỡ òa trong tiếng thở phào nhẹ nhõm. Mười hai ngọn lao đồng ngạnh ngược đã tra cán gỗ nghiến dài chắc nịch, được xếp gọn gàng lên sàn của ba chiếc thuyền độc mộc mũi nhọn. Tấm đại võng gài hàng trăm ngạnh câu sắc bén được cuộn tròn cẩn thận đặt ở khoang giữa thuyền chỉ huy, sẵn sàng bung ra bất cứ lúc nào. Toàn bộ vũ khí săn quái đã hoàn tất, chỉ còn đợi đến thời khắc con nước ròng đêm nay để đội cảm tử xuất trận lặn xuống hang ổ ác thú.

Những người thợ rèn mệt mỏi bắt đầu dập lửa các lò nung. Nước sông được múc lên tạt ào ào vào những đống than đỏ rực, khói trắng cuộn lên che mờ cả một góc bến Chợ Bờ. Sự tĩnh lặng quánh đặc bỗng chốc bao trùm lấy khúc sông Bạch Hạc khi tiếng bễ thụt và tiếng búa đập sắt tắt lịm.

Tôi đứng ở mũi thuyền độc mộc, cúi xuống rửa lớp than củi dính trên hai cánh tay bằng nước sông mát lạnh.

Đúng lúc ngọn lửa cuối cùng trong lò nung tắt ngấm, một cơn gió ngược từ phía hạ lưu bỗng thốc ngược lên ngã ba sông. Gió không mang theo hơi nước mát lành của mùa nước nổi, mà mang theo một luồng khí lạnh ngắt như băng tuyết và mùi tanh tưởi quen thuộc đến rợn người.

Chiếc vòng đồng trên cổ tay trái tôi bỗng rực nóng lên như một hòn than cháy dở.

Mặt nước phẳng lặng ven bãi bồi đột ngột rút cạn đi ba thước, để lộ ra những bãi bùn đen nhẫy cùng hàng ngàn con cá ngão đang giãy giụa tuyệt vọng. Ngoài xa kia, giữa dòng xoáy Chợ Bờ đang chìm trong bóng tối nhá nhem của buổi hoàng hôn, một con sóng ngầm khổng lồ hình lưỡi búa bắt đầu cuộn tròn ngược dòng chảy, xé toạc màn nước phù sa lao thẳng về phía bến đỗ thuyền bè.

Chương khác

Xem thêm