Văn Thân Liệp Thủy - Chương 11: Đội Cảm Tử Xuất Phát
Gió sông thốc ngược từng cơn lạnh buốt vào da thịt trần trụi bết đầy bùn đất của tôi. Bến Chợ Bờ sau cú quẫy đuôi thị uy của con ác thú chìm trong một…
Nội dung chương
Gió sông thốc ngược từng cơn lạnh buốt vào da thịt trần trụi bết đầy bùn đất của tôi. Bến Chợ Bờ sau cú quẫy đuôi thị uy của con ác thú chìm trong một bãi hoang tàn, mùi phù sa nồng nặc quyện với mùi tanh tưởi của loài bò sát khổng lồ tạo nên một thứ khí vị lợm giọng. Bàn tay khô ráp của cha tôi vẫn ghì chặt lấy khớp vai tôi, truyền sang một luồng nhiệt âm ỉ.
"Đứng dậy, con trai của sông Lô." Giọng cha tôi không lớn nhưng đanh thép, át đi tiếng sóng vỗ dập dồn vào mạn thuyền gãy. "Trước mặt thần linh và đồng tộc, thợ lặn họ Lạc không được phép quỳ gối run rẩy trước vảy sừng của thủy quái."
Tôi gượng đứng thẳng chân, lồng ngực phập phồng hớp lấy từng ngụm khí trời ẩm ướt. Xung quanh bãi bồi, mười hai tráng sĩ cảm tử cũng lục tục vịn vào cán lao, chống người đứng lên khỏi những hố bùn lầy. Đăm đưa mu bàn tay quệt dòng máu đỏ lòm rỉ ra từ vết rách trên trán, ánh mắt vằn lên những tia máu u uất nhìn chằm chằm vào khoảng tối đen ngòm giữa ngã ba sông Bạch Hạc.
Cha tôi quay lưng, sải từng bước dứt khoát về phía túp lều tế lễ dựng bằng cọc tre và lá cọ nằm nép bên vách đá dựng đứng.
"K'Nham, theo cha vào đây."
Tôi bước theo ông, chân giẫm trên lớp đá cuội lạo xạo dính đầy vảy cá chết và rêu nhớt. Trong căn lều tế mờ ảo, ngọn đèn dầu trẩu đặt trên chiếc chõng tre hun khói đen kịt phả ra ánh sáng vàng vọt. Ở giữa gian lều, đặt ngay ngắn trên tấm da hoẵng khô là một chiếc hòm dài bằng gỗ nghiến xoi rãnh, nắp đậy khảm đầy vỏ ốc biển trắng muốt - thứ bảo vật gia truyền mà từ thuở tấm bé tôi chưa từng một lần thấy cha mở ra.
Cha tôi quỳ xuống đất nện, hai bàn tay run rẩy chạm vào hàng ốc biển xù xì. Ông lầm rầm khấn những câu cổ ngữ bằng thứ giọng trầm đục của người giữ tục sông nước ngàn xưa, rồi dứt khoát đẩy bật then cài bằng ngà lợn lòi.
Bên trong hòm lót một lớp vải gai dệt thô màu đỏ sẫm đã ngả màu thời gian. Nằm trang trọng giữa lớp vải gai là một ngọn đại lao bằng đồng thau dài trọn một sải tay người lớn.
Khác hẳn với những ngọn lao ngạnh ngược mà thợ cả Canh vừa rèn trên bến, ngọn lao này toát ra vẻ cổ kính uy nghiêm lạ thường. Phần mũi lao đúc dày bản hình lá đề, hai cạnh sắc lẹm ánh lên màu xanh ten rỉ đặc trưng của thứ đồng đúc từ thời các bậc tiền nhân mở cõi. Trên sống lao, người xưa dùng đục thép khắc chìm hình mặt trời mười hai tia tỏa sáng rực rỡ, xung quanh là những cánh chim Lạc sải rộng cánh bay theo chiều ngược kim đồng hồ. Chuôi lao bằng đồng rỗng ruột để tra cán gỗ, nhưng phần khớp nối được bọc một vòng bạc mỏng nạm hình vảy rồng chìm sâu vào thớ kim loại.
"Ngọn lao này," cha tôi nâng hai tay đỡ lấy thân vũ khí nặng trịch, giọng ông nghẹn lại, "là ngọn lao của cụ nội con, từng cắm ngập vào mắt con thủy quái đời trước ở khúc sông Chợ Bờ này để đổi lấy bốn mươi năm bình yên cho xóm vạn chài. Hôm nay, máu của loài bò sát lại sôi sục dưới ngã ba sông, vận mệnh bến đỗ lại đặt vào tay con."
Tôi quỳ sụp xuống trước mặt ông, hai tay giơ cao quá đầu đón lấy báu vật. Sức nặng của ngọn đại lao dồn xuống lòng bàn tay tôi, lạnh buốt đến thấu xương, nhưng kỳ lạ thay, chiếc vòng đồng trên cổ tay tôi lại khẽ rung lên khe khẽ, như hai thứ đồ đồng cổ xưa đang tự tìm thấy tiếng nói chung sau hàng chục mùa trăng cách biệt.
Cha tôi nhìn thẳng vào mắt tôi, ngón tay trỏ gầy guộc chỉ thẳng vào lồng ngực trần mang hình xăm rồng của tôi.
"Con vừa thấy vảy lưng của nó rồi đấy. Thép gai, đồng đỏ hay đá hoa cương đều bất lực trước lớp giáp dày hàng tấc tích tụ phù sa trăm năm. Nhưng nghe cho kỹ lời cha dạy đây, K'Nham." Ông ghé sát tai tôi, từng chữ thốt ra nặng như đá ném xuống nước sâu. "Loài ác thú ngậm ngọc ở đáy vực ngậm khí trời qua một khe hở duy nhất. Dưới yết hầu của nó, chếch về phía lồng ngực ba đốt ngón tay, có một mảng vảy đỏ rực bằng miệng bát ăn cơm mọc ngược chiều với toàn bộ vảy thân. Mảng vảy ấy mỏng manh như da ếch, che phủ tử huyệt cuống họng nơi mạch máu đen chảy về tim nó."
Tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực. Ký ức về bóng chiếc mào đỏ rực vừa xé toạc màn nước ban nãy bỗng hiện về rõ mồn một. Dưới ánh lửa bập bùng, tôi đã thấy một đốm sáng đỏ kỳ dị lập lòe nơi cổ họng nó khi nó gầm thét trên mặt nước.
"Vảy ngược..." Tôi lẩm bẩm, bàn tay siết chặt lấy thân lao đồng mát lạnh.
"Đúng, nghịch lân." Cha tôi gật đầu, trong mắt ông lóe lên một tia sáng tàn nhẫn và đau đớn. "Năm xưa, cụ nội con cắm trúng mắt trái của nó nhưng không tìm được nghịch lân, đành phải lấy thân mình kéo chìm ngọn lao để mở đường sống cho thuyền buôn chạy thoát. Đêm nay, nếu mũi lao mặt trời này không cắm ngập vào vệt vảy đỏ ấy, mười ba người các con sẽ không một ai có thể nổi lên mặt nước nhìn thấy bình minh Phong Châu."
Tôi cúi đầu, áp trán mình vào lưỡi dao đồng lạnh ngắt. Vị tanh của đồng rỉ chạm vào đầu lưỡi tôi, mặn chát và đắng cay như số phận của những người con sinh ra bên ngã ba sông dữ.
"Con xin ghi lòng tạc dạ lời cha. Nước sông Lô còn chảy, họ Lạc không lùi bước."
Khi tôi cầm ngọn đại lao bước ra khỏi căn lều tế, bãi bồi ven sông đã đổi khác hoàn toàn.
Ba đống lửa lớn chất bằng gỗ thông rừng bùng cháy rừng rực, hắt ánh sáng đỏ au lên nền trời đêm mịt mù sương đục. Toàn bộ dân làng Phong Châu từ già trẻ gái trai đều đã tụ tập đông đủ trên triền đê đất. Không có tiếng khóc than, không có lời ai oán. Hàng trăm người đứng lặng lẽ trong trật tự tôn nghiêm, trên tay mỗi người là một ngọn đuốc nứa cháy tanh tách.
Mười hai cảm tử quân đã đứng thành một hàng ngang trước mép nước, mình trần đóng khố da hoẵng, trên ngực lưng họ đều trát một lớp bùn non trộn tro trấu thiêng xám xịt để che giấu hơi ấm cơ thể. Đăm đứng đầu hàng, tay cầm chắc chiếc rìu chiến bằng đồng cán dài, trán quấn chặt một dải vải đỏ che vết thương.
Thấy tôi bước tới với ngọn đại lao mặt trời trên tay, mười hai ánh mắt đồng loạt rực sáng. Nỗi kinh hoàng lúc chạng vạng dường như bị ngọn lửa rừng rực trên bãi bồi thiêu rụi hoàn toàn, nhường chỗ cho sự quyết tử lạnh lùng của những tay săn kình ngư thiện chiến nhất bến Bạch Hạc.
Một chiếc vò gốm lớn đựng rượu cần ngâm rễ cây sồi được hai tráng đinh khiêng ra đặt trước mặt chúng tôi.
Cha tôi bước tới, tay cầm một con dao đồng nhỏ. Ông không nói một lời, vạch một đường dứt khoát vào lòng bàn tay trái của mình, để những giọt máu đỏ tươi tí tách rơi vào vò rượu sóng sánh.
Tôi bước lên, chìa tay ra cho cha. Lưỡi dao cứa nhẹ qua da thịt, cơn đau nhói buốt chỉ làm máu nóng trong huyết quản tôi sôi trào dữ dội hơn. Tôi siết chặt nắm tay, nhỏ máu mình hòa cùng máu cha vào vò rượu thiêng.
Lần lượt từng người một, từ Đăm cho đến người thợ lặn trẻ nhất mới mười chín tuổi, đều bước lên cắt máu ăn thề. Mười ba giọt máu của những kẻ chuẩn bị lặn xuống miệng vực tử thần hòa quyện vào thứ rượu nồng cay xè bốc lên ngùn ngụt hơi men.
Thợ cả Canh múc từng gáo dừa rượu máu trao vào tay từng người.
Tôi ngửa cổ dốc cạn gáo rượu. Vị chát đắng của men rừng hòa lẫn vị mặn tanh của máu tươi xộc thẳng lên sống mũi, chảy xuống cổ họng nóng rực như một dòng nham thạch. Cả cơ thể tôi râm ran, chiếc vòng đồng nơi cổ tay đập rộn ràng theo từng nhịp tim cuồng loạn. Mười hai người đồng đội của tôi cũng dốc cạn rượu tế, đồng loạt đập vỡ gáo dừa xuống bãi đá cuội vỡ vụn ra từng mảnh.
"Uống cạn rượu thề, sống thác cùng dòng nước!" Đăm gầm lên, vung rìu chém mạnh vào khoảng không.
"Sống thác cùng dòng nước!" Mười hai tiếng thét đồng thanh vang dội, át cả tiếng gầm gào của sóng gió ngã ba sông.
Từ trên gò đất cao, tiếng cồng chiêng bắt đầu nổi lên.
Ban đầu là những nhịp gõ thong thả, trầm đục như tiếng nhịp tim của đất trời Phong Châu. Rồi đột nhiên, một âm thanh vang dội rền vang mặt đất bùng nổ. Người ta đã khiêng chiếc trống đồng cổ của Tiên vương dựng lại ngay ngắn trên bãi bồi. Hai võ sĩ lực lưỡng cầm dùi gỗ nghiến bọc da hươu nện dồn dập vào mặt trống.
"Tùng! Tùng! Tùng! Cắc!"
Tiếng trống đồng rền rĩ, âm vang như sấm sét giữa đêm hè, truyền thẳng qua lớp bùn lầy dưới chân tôi, rung lắc từng mạch nước ngầm sâu trong lòng đất. Đây là tiếng trống tế trời, tiếng trống giục giã bước chân của các chiến binh Lạc Việt từ ngàn xưa mỗi khi xuất trận đối đầu với thú dữ hay giặc ngoại xâm. Tiếng trống như có ma lực vô hình, thổi bay mọi sự sợ hãi đớn hèn, chỉ còn lại sự phấn khích tột cùng của kẻ đi săn sinh tử.
Dưới bến nước, ba chiếc thuyền độc mộc mũi nhọn đã được hạ thủy, dập dềnh theo từng đợt sóng phù sa.
Tấm đại võng bọc tro trấu gài hàng trăm ngạnh câu sáng quắc nằm gọn gàng ở khoang giữa thuyền của tôi và Đăm. Tám tay chèo lực lưỡng đã vào vị trí, tay siết chặt mái chèo gỗ mun bản rộng.
"Xuống thuyền!" Tôi vung cao ngọn đại lao mặt trời, phát lệnh xuất trận.
Mười hai cảm tử quân chia làm ba tốp, thoăn thoắt nhảy xuống mạn thuyền độc mộc. Thân thuyền chòng chành rẽ nước lao ra giữa dòng sông đêm mịt mùng. Trên bờ, hàng trăm ngọn đuốc giơ cao soi rọi mặt nước đỏ ngầu, tiếng trống đồng và tiếng hò reo trợ oai của dân làng rền vang lay chuyển cả một góc trời Bạch Hạc.
Thuyền chúng tôi lướt đi vun vút, hướng thẳng về phía vực xoáy Chợ Bờ đang cuộn trào bọt trắng xóa cách bờ chừng nửa dặm.
Theo đúng kế hoạch đã định từ trước, khi thuyền áp sát mép ngoài của dòng xoáy, chúng tôi sẽ thả neo đá định vị. Sau đó đội cảm tử sẽ dùng dây mây buộc quanh hông. Lần theo các trục dây tiêu cắm sẵn từ buổi chiều để lặn xuống đáy vực phục kích khi con thú cònđang ngái ngủ sau cú thị uy.
Gió sông càng lúc càng rít mạnh qua tai tôi. Nước phù sa bắn tung tóe lên mặt, cay xè khóe mắt. Tôi đứng sừng sững ở mũi thuyền chỉ huy, mắt mở trừng trừng quan sát từng xoáy nước cuộn tròn phía trước. Chiếc mào đỏ chưa xuất hiện, chỉ có tiếng nước va vào vách đá ngầm gầm rú như đàn thú dữ bị bỏ đói.
"Chuẩn bị thả neo đá!" Đăm hét lớn qua tiếng gió gầm, hai tay gã ghì chặt lấy tảng đá hoa cương nặng hai trăm cân buộc dây mây to bằng cổ tay.
Thuyền độc mộc tiến vào vùng nước xoáy rìa ngoài. Nhưng đúng lúc người thợ chèo chuẩn bị bẻ lái để ghìm thuyền lại theo dự tính, một hiện tượng kỳ quái chưa từng có trong lịch sử bến sông Bạch Hạc đột ngột giáng xuống.
Tiếng trống đồng trên bờ bỗng chốc nghe xa xăm, nghẹt lại như bị một bàn tay vô hình bịt kín.
Mặt nước phù sa đang cuồn cuộn chảy xiết dưới mạn thuyền bỗng nhiên khựng lại. Trong một khoảnh khắc ngột ngạt đến nghẹt thở, cả khúc sông rộng lớn dường như ngừng trôi hoàn toàn. Những ngọn sóng ngầm đang vỗ ầm ầm bỗng phẳng lặng như một tấm gương đồng khổng lồ tráng lớp bùn đỏ. Không một gợn lăn tăn. Không một tiếng róc rách. Dòng chảy ngàn năm của sông Hồng và sông Lô bị chặn đứng lại cục bộ bởi một sức ép khủng khiếp từ tận đáy sâu nghìn trượng.
"Nước... nước không chảy nữa!" Người thợ chèo ngồi sau lưng tôi run rẩy buông rơi mái chèo xuống sàn thuyền, giọng lạc đi vì kinh hoàng.
Tôi siết chặt ngọn đại lao, lồng ngực thắt nghẹt lại. Cảm giác này tồi tệ hơn bất kỳ cơn sóng dữ nào tôi từng nếm trải suốt hai mươi hai năm qua trên sông nước.
Sự tĩnh lặng quái đản chỉ kéo dài trong ba nhịp thở.
Ngay sau đó, mặt nước phẳng lặng ở trung tâm vực xoáy Chợ Bờ đột ngột sụp đổ. Một tiếng ùng oàng kinh thiên động địa phát ra từ đáy vực, tựa như lòng đất dưới ngã ba sông vừa nứt toác ra một cái miệng khổng lồ của cõi âm ti.
Mặt nước bến đỗ xung quanh ba chiếc thuyền độc mộc rút cạn đi với tốc độ kinh hoàng. Nước sông bị hút ngược vào tâm bão, tạo thành một miệng phễu xoáy tròn khổng lồ sâu hun hút, đường kính rộng đến mấy chục trượng, để lộ ra những vách đá ngầm đen trũi lởm chởm gai góc sâu bên dưới.
"Không kịp thả neo rồi!" Đăm thét lên thất thanh khi tảng đá hoa cương trên tay gã bị lực xoáy hất văng xuống sàn gỗ.
Dòng xoáy tử thần hình thành sớm hơn dự tính nửa canh giờ. Nó không cho chúng tôi cơ hội dùng dây tiêu hay bám vào mạn thuyền. Lực hút của miệng vực xoáy khổng lồ mạnh đến mức kéo phăng cả ba chiếc thuyền độc mộc nặng trịch như những chiếc lá khô trôi dạt vào miệng cối xay.
Mạn thuyền vặn răng rắc rồi vỡ toang ra thành nhiều mảnh dưới áp lực nghẹt thở của dòng xoáy. Cả cuộn đại võng gài ngạnh câu và mười ba thân xác con người bị hất tung lên không trung, rồi bị cuốn phăng thẳng vào cái miệng phễu đen ngòm đang gầm thét dữ dội.
Nước phù sa đục ngầu lập tức nuốt chửng lấy tôi.
Bóng tối dày đặc và lạnh buốt bao trùm tất cả. Dòng nước xiết xoay tròn điên cuồng vặn xoắn cơ thể tôi, kéo tuột tôi xuống đáy sâu tăm tối của vực Chợ Bờ, nơi một luồng khí tức tanh tưởi khổng lồ đang há miệng chờ sẵn dưới đáy hang ngầm.