Văn Thân Liệp Thủy - Chương 10: Binh Khí Liệp Thủy Đúc Đồng
Mặt nước bến Chợ Bờ sụt xuống ba thước để lộ lớp bùn non đen nhẫy cùng hàng ngàn con cá ngão đang quẫy đuôi phơi bụng trên bãi bồi. Gió hạ lưu thốc ngược…
Nội dung chương
Mặt nước bến Chợ Bờ sụt xuống ba thước để lộ lớp bùn non đen nhẫy cùng hàng ngàn con cá ngão đang quẫy đuôi phơi bụng trên bãi bồi. Gió hạ lưu thốc ngược lên mang theo cái lạnh cắt da và mùi tanh tưởi quen thuộc xộc thẳng vào cuống họng tôi. Mùi tanh của bùn rêu mục rữa, của máu cá ươn, cùng thứ nọc lợm giọng đặc sệt thứ dịch nhầy dưới đáy vực sâu.
Chiếc vòng đồng trên cổ tay trái tôi rực nóng lên, bỏng rát như chạm vào thanh đồng vừa rút khỏi lò than. Những đường nét của hình xăm rồng cổ đại bằng mực thiêng trên ngực và lưng tôi giật thót từng nhịp theo nhịp đập nơi lồng ngực. Máu trong huyết quản tôi sôi sục, thúc giục tôi quay mặt về phía dòng xoáy Chợ Bờ.
"Ác thú đến! Kéo thuyền lên bãi! Mau!"
Tiếng hét của Đăm vừa cất lên đã bị một tiếng rít ghê rợn xé toạc.
Từ lòng sông sâu hun hút, một con sóng ngầm khổng lồ hình lưỡi búa chồm lên, gạt phăng dòng chảy xiết của con nước mùa lũ. Giữa màn đêm chập choạng vừa buông xuống đất Phong Châu, một dải mào đỏ rực như máu tươi nhô khỏi mặt nước phù sa đục ngầu. Cái mào ấy cao quá đầu người lớn, tua tủa những ngạnh sừng sắc nhọn uốn cong về phía sau, xé đôi mặt sông Hồng làm hai luồng bọt trắng xóa cao ngang nóc nhà sàn.
Nó không đợi đến đêm con nước ròng. Thứ ác thú trăm tuổi kia đã đánh hơi thấy mười hai tráng sĩ vừa nhận ấn mực rồng, ngửi thấy mùi tro trấu thiêng bọc ngoài những ngọn lao đồng đang nằm chờ trên bờ bãi. Nó mò vào tận doanh trại bến đỗ để bẻ gãy ý chí của đoàn kình ngư trước giờ xuất trận.
Tiếng mõ tre dồn dập vang lên từ các chòi canh ven sông.
"Lũ trẻ con chạy lên gò cao! Đàn bà rút vào rừng cọ!"
Tiếng Lạc hầu gầm lên giữa tiếng chiêng gióng giật giọng. Hàng chục ngọn đuốc cắm dọc bờ sông bốc cháy ngùn ngụt soi rõ sự hoảng loạn đang bùng lên trên bãi cát. Những người thợ rèn vừa dập lò vội vàng vớ lấy búa đe, xẻng sắt lùi dạt về phía chân đồi. Mặt đất rung chuyển từng hồi theo mỗi nhịp di chuyển ngầm của con quái vật dưới lòng sông.
Tôi không lùi. Đôi chân tôi bấm chặt xuống lớp phù sa trơn trượt, lao thẳng ra mép nước đang cuộn sóng dữ.
Chiếc mào đỏ đang lao vào bến với tốc độ kinh hồn, kéo theo một bức tường nước phù sa đỏ quạch cao hơn một trượng. Bức tường nước sầm sập đổ ập xuống bãi đỗ, cuốn trôi hàng chục cọc gỗ chôn giữ thuyền bè. Hai chiếc thuyền độc mộc nhỏ nép sát bờ bị sức nước nhấc bổng lên cao rồi va mạnh vào bãi đá cuội, vỡ toác thành từng mảnh vụn.
"K'Nham! Đừng ra mép nước! Nó muốn hất lật thuyền chiến chở trống đồng!"
Tiếng Đăm thét lên từ phía sau. Gã cùng bốn tráng đinh trong đội cảm tử lao theo tôi, tay lăm lăm những ngọn giáo dài, nhưng bước chân họ bị chựng lại trước sức ép nghẹt thở tỏa ra từ khối thân thể khổng lồ đang rẽ sóng.
Tôi nhảy vọt lên mũi chiếc thuyền độc mộc lớn nhất, nơi đặt tấm đại lưới bọc tro trấu và mười hai ngọn lao đồng ngạnh ngược. Thân thuyền chao đảo dữ dội giữa những con sóng lừng cuộn trào bọt đỏ. Tôi cúi người, chộp lấy ngọn lao đồng dài bảy thước, chuôi gỗ nghiến nặng trịch bọc dây mây rừng chắc nịch.
Bùm!
Mặt nước cách mũi thuyền tôi chưa đầy hai sải tay nổ tung.
Một cái đầu khổng lồ trồi lên khỏi mặt phù sa đục ngầu, hất tung hàng trăm lít nước lên không trung. Đầu con quái vật bè bè như một khối đá tảng trôi sông, rộng ngang cả thân cây cổ thụ ba người ôm. Da đầu nó gồ ghề những u cục màu xám tro, bám đầy rêu xanh cùng những loài ốc sông ký sinh cắm chặt vào các rãnh da nứt nẻ.
Hai con mắt của nó to bằng hai chiếc chiêng đồng nhỏ, đỏ quạch như hai hòn than đang bốc cháy âm ỉ dưới đáy lò nung. Đôi mắt ấy không hề chớp, con ngươi thu hẹp thành một vệt đen dọc sắc nhọn, găm thẳng vào ngực tôi - nơi hình xăm rồng mực chàm đang rực sáng lên một màu xanh sẫm kỳ dị.
Hơi thở của nó tống ra từ hai lỗ mũi rộng hoác trên mõm, tạo thành hai luồng khí xám đục mang theo thứ mùi hôi thối tột cùng. Mùi của thịt da thối rữa dưới đáy vực Chợ Bờ qua nhiều đời người tích tụ lại, nồng nặc và buốt óc đến mức làm cổ họng tôi thắt nghẹt. Hai sợi râu mép dài ngoằng như hai con trăn mốc quẫy đạp điên cuồng trên mặt sóng, quất mạnh vào mạn thuyền tạo nên những tiếng chan chát đanh thép.
Con thú gầm lên một tiếng trầm đục từ sâu trong lồng ngực. Âm thanh ấy không chói gắt mà rền rĩ như sấm động dưới lòng đất, làm chấn động toàn bộ khung xương sườn của tôi, khiến hàm răng tôi va vào nhau bần bật.
Mép nước rung chuyển, bùn cát dưới chân tôi tụt xuống nhanh chóng. Nó há rộng cái miệng lởm chởm hàng trăm chiếc răng dài nhọn hoắt bằng ngà đá, lao thẳng về phía chiếc thuyền chiến chở chiếc trống đồng cổ của Tiên vương đang neo cách tôi mười bước chân.
Nó muốn nuốt trọn linh khí của Phong Châu. Nó muốn phá hủy ngọn lửa tế lễ của người Lạc trước khi mặt trời mọc.
Cơn thịnh nộ bùng lên xua tan đi sự lạnh giá đang bao trùm lấy da thịt tôi. Chiếc vòng đồng trên cổ tay tôi phát ra tiếng rung khe khẽ. Tôi dồn toàn bộ trọng tâm xuống hai bàn chân, gân máu trên bắp tay nổi cuồn cuộn thành từng đường gờ cứng nhắc.
"Súc sinh! Nhìn vào đây!"
Tôi thét lớn, bình sinh đem hết sức lực vào hai cánh tay, nhảy chồm khỏi mũi thuyền độc mộc.
Thân mình tôi lơ lửng trên không trung giữa đêm phù sa mù mịt sương đỏ. Ánh lửa từ bờ sông rọi lên lưỡi đồng ngạnh ngược màu lam xám vừa được tôi luyện qua tro trấu thiêng. Nhắm thẳng vào khoảng da gồ ghề ngay sát gốc chiếc mào đỏ rực - nơi tôi nghĩ là cuống não hiểm yếu của loài thủy quái, tôi giáng mạnh mũi lao xuống.
Keng!
Một tiếng kim loại va đập vào đá tảng vang lên chói lóc, chấn động cả khúc sông.
Tia lửa vàng rực tóe ra sáng lóa cả một vùng nước đêm. Đôi bàn tay tôi tê dại điếng người, cảm giác như vừa đâm cả ngọn lao đồng vào một ngọn núi đá ngầm dựng đứng.
Mũi lao ngạnh ngược sắc bén được phường thợ đúc xã Phong Châu rèn rũa suốt một ngày một đêm không thể xuyên thủng lớp giáp của nó. Lưỡi đồng thau chỉ cạo tróc được một lớp rêu bám ngoài bề mặt, để lộ ra những phiến vảy đen tuyền xếp lớp khít khao như mái ngói bằng sắt nung, bóng nhẫy chất nhờn trơn tuột.
Rắc!
Cán gỗ nghiến to bằng cổ tay gãy gập làm đôi dưới phản lực khủng khiếp. Lưỡi lao đồng văng bắn lên trời rồi rơi tõm xuống dòng nước xoáy mất hút.
Cú đâm không làm nó thương tổn, nhưng sự ngạo nghễ của một con người nhỏ bé mang ấn mực rồng đã chọc giận con ác thú trăm năm thống trị đáy vực Chợ Bờ.
Đôi mắt đỏ quạch của Giao Long lóe lên tia hung tàn tột độ. Nó rụt đầu lại rồi uốn mình lặn sụp xuống dòng nước đục ngầu, tạo ra một hố xoáy sâu hút ngay sát mũi thuyền.
"K'Nham! Nhảy xuống! Mau nhảy lên bờ!"
Tiếng gào lạc cả giọng của cha tôi vang lên từ trên bãi bồi. Ông đang cùng hàng chục tráng đinh lao xuống mép nước, giương cao những ngọn lao dài, nhưng mọi thứ đã quá muộn.
Dưới làn nước phù sa cuộn sóng, một bóng đen khổng lồ uốn lượn với tốc độ xé gió. Đáy sông như bị nhấc bổng lên.
Vút!
Một khối thịt đen trùi trũi, to lớn bằng cả thân cây chò ngàn năm, mang theo hàng gai góc nhọn hoắt quất thẳng từ dưới lòng nước lên không trung. Đuôi của con quái vật xé toạc màn đêm phù sa, mang theo sức mạnh của ngàn vạn cân nước lũ giáng thẳng xuống mạn chiếc thuyền chiến chở trống đồng.
Rầm!
Một tiếng nổ như sấm sét giáng giữa ban ngày làm rung chuyển cả khúc sông ngã ba Bạch Hạc.
Chiếc thuyền chiến dài năm trượng bằng gỗ táu kiên cố, từng chịu đựng hàng chục mùa lũ dữ, vỡ vụn làm đôi như một chiếc vỏ trấu dưới bước chân voi rừng. Thân thuyền bị cú quật đuôi hất tung lên cao hơn hai trượng, bay bổng qua đầu tôi rồi rơi uỳnh xuống bãi đá cuội ven bờ, gãy nát thành trăm mảnh gỗ vụn.
Sóng phù sa đục ngầu dâng cao trùm kín bãi bồi, cuốn phăng những đống than lò rèn còn sót lại, dập tắt hàng chục ngọn đuốc ven sông trong tiếng xèo xèo cay khốc. Khói trắng và bụi nước mù mịt che khuất tầm nhìn của tất cả mọi người.
Sức ép của cú quật đuôi hất tôi văng ngược trở lại bãi bùn lầy.
Lưng tôi đập mạnh xuống lớp cát ẩm ướt, lồng ngực quặn thắt lại vì tức khí, miệng ộc ra một búng máu tươi có vị chát đắng của tro trấu. Cả cơ thể tôi đau nhức như vừa bị cối đá nghiền qua. Chiếc vòng đồng trên tay tôi lạnh ngắt trở lại, phát ra những vệt khói mỏng mang theo mùi đồng rỉ sét.
Xung quanh tôi, cảnh tượng tan hoang bày ra dưới ánh đuốc chập chờn còn sót lại trên cao.
Nửa thân chiếc thuyền chiến chở trống đồng nằm gãy gập trên bãi đá cuội. Chiếc trống đồng cổ của Tiên vương lăn lông lốc trên cát, nửa thân chìm trong lớp bùn lầy, mặt trống trầy xước những vệt dài do gai đuôi quái vật cào xé. Ba chiếc thuyền độc mộc chở lưới mây câu sắc bị sóng đánh dạt vào bờ, vặn vẹo nứt toác, may nhờ lớp tro trấu thiêng bọc ngoài nên những sợi mây chưa bị đứt rời.
Mười hai tráng sĩ nằm la liệt trên bờ bãi, người ôm ngực nôn khan, kẻ trầy da tróc vảy vì đá sỏi bắn tung tóe. Đăm lồm cồm bò dậy từ vũng nước đục, trên trán rách một vệt dài chảy máu ròng ròng, tay gã vẫn siết chặt lấy một ngọn giáo gãy.
Mặt nước bến Chợ Bờ sủi lên từng luồng bọt khí khổng lồ màu đỏ nhớp nháp.
Con quái vật không tiếp tục tấn công. Chiếc mào đỏ rực từ từ chìm dần xuống lòng vực sâu hun hút giữa ngã ba sông, để lại một dải sóng lừng hình vòng cung từ từ loang rộng ra khắp bến Bạch Hạc. Tiếng thở rít nặng nề của nó nhỏ dần, rồi chìm hẳn vào tiếng gầm gào vĩnh cửu của dòng xoáy Chợ Bờ.
Nó đã thị uy xong. Nó rút về đáy vực như một lời thách thức ngạo mạn gửi tới những kẻ dám mưu toan cắm lao vào lãnh địa ngàn năm của nó.
Sự tĩnh lặng rợn người bao trùm lấy bến đỗ. Tiếng nước phù sa vỗ ì oạp vào những mảnh ván thuyền vỡ nát là thứ âm thanh duy nhất còn sót lại giữa đêm đen mịt mùng.
Tôi chống hai tay xuống bùn lầy, gượng đứng dậy. Toàn thân run rẩy vì kiệt sức và lạnh buốt, nhưng thứ làm tim tôi thắt lại không phải là những vết bầm dập trên da thịt.
Tôi cúi xuống, nhặt đoạn cán lao gỗ nghiến bị gãy gập nằm trơ trọi cạnh chân mình.
Mũi lao đồng ngạnh ngược - niềm tự hào của phường thợ đúc Phong Châu, thứ vũ khí bọc tro trấu thiêng được kỳ vọng sẽ ghim chặt da thịt ác thú - thậm chí không để lại nổi một vết nứt trên lớp vảy đen sì của nó. Lớp giáp đá ngàn năm ấy trơ lỳ trước sức mạnh cơ bắp của người tráng sĩ mạnh nhất bến sông, trơ lỳ trước cả kim loại tôi luyện bằng đồng đỏ và sáp ong.
"Làm sao... làm sao đâm thủng được nó?" Đăm lảo đảo bước tới cạnh tôi, giọng run rẩy ngắt quãng giữa hơi thở hổn hển. "Vảy của nó dày hơn cả mai rùa đá ngàn năm. Mũi lao đồng gãy vụn... Chúng ta lấy gì để giết nó dưới đáy vực sâu?"
Câu hỏi của Đăm rơi vào khoảng không tối tăm quánh đặc phù sa. Mười mấy tráng sĩ cảm tử xung quanh đều im bặt, ánh mắt họ dại đi khi nhìn vào đống ván thuyền gãy nát và ngọn cán lao gãy vụn trên tay tôi. Nỗi kinh hoàng trước thứ giáp xác bất hoại của Giao Long đang phủ bóng đen nghẹt thở lên từng khuôn mặt dãi dầu sóng gió.
Nếu mũi lao đồng không thể xuyên qua lớp vảy, việc lặn xuống đáy vực xoáy Chợ Bờ đêm nay chẳng khác nào tự dâng thân xác làm mồi cho ác thú.
Một bước chân nặng nề giẫm lên lớp đá cuội lạo xạo phá tan bầu không khí tuyệt vọng.
Cha tôi bước tới. Vạt áo vỏ cây của tộc trưởng ướt đẫm nước sông phù sa, bết chặt vào lồng ngực gầy guộc nhưng rắn rỏi như rễ cây lim già. Ông không nhìn đống thuyền bè tan hoang, không nhìn chiếc trống đồng nằm nghiêng trên bùn lầy, mà nhìn thẳng vào ngực tôi - nơi hình xăm rồng mực chàm đang từ từ dịu lại sau cơn xung đột dữ dội.
Đôi mắt người già đục ngầu phù sa nhưng sâu thẳm như đáy vực, chất chứa một nỗi đau đớn và quyết tuyệt đã chôn giấu suốt mấy mươi năm.
Ông đặt bàn tay khô ráp đầy sẹo lặn lên bờ vai đang rỉ máu của tôi, siết chặt lấy khớp xương tôi bằng một lực dũng mãnh lạ kỳ.
"Vảy nó bất hoại trước lao đồng chém ngang," giọng cha tôi trầm xuống, rền rĩ như tiếng thì thầm của tổ tiên vọng về từ ngàn năm trước, "nhưng dưới lồng ngực của loài ác thú ngậm ngọc, tạo hóa không bao giờ ban cho nó sự hoàn hảo vẹn toàn."
Tôi ngẩng đầu lên, chạm vào ánh mắt rực lửa của người tộc trưởng già giữa đêm tối mịt mùng phù sa bến Bạch Hạc.